Tue10262021

Last update12:17:51 AM GMT

Hỏi - Đáp

Dự án:” Điều tra đánh giá sơ bộ tài nguyên nước tỷ lệ 1:50.000 vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc bộ” thực hiện những nhiệm vụ gì?

There are no translations available.

Trả lời:
Hiện nay, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, các khu đô thị, khu du lịch và công nghiệp phát triển với tốc độ cao, do đó nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng. Việc khai thác nước dưới đất một cách tùy tiện; xây dựng các công trình khai thác nước không đúng quy cách trong khi chưa luận chứng được tính bền vững và khả năng đáp ứng của các tầng chứa nước đã dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực như suy thoái, cạn kiệt tầng chứa nước, nhiễm mặn, nhiễm bẩn, lún mặt đất... Chính vì vậy, những thông tin của dự án:”Điều tra đánh giá sơ bộ tài nguyên nước tỷ lệ 1:50.000 vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ” này sẽ là dữ liệu quan trọng nhằm phục vụ công tác quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên nước vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ cũng như khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Nhiệm vụ của dự án bao gồm:
Điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt tỷ lệ 1:50.000
- Thu thập, rà soát, thông tin, số liệu, tài liệu và chuẩn bị triển khai công tác điều tra, đánh giá nguồn nước mặt.
- Phân tích ảnh viễn thám.
- Điều tra khảo sát thực địa xác định đặc trưng hình thái sông, hồ, lưu vực sông; Lấy và phân tích chất lượng nước mặt.
- Khảo sát, đo đạc bổ sung các mặt cắt sông, hồ; Đo đạc dòng chảy.
- Tổng hợp, chỉnh lý, xử lý thông tin, số liệu, tài liệu điều tra, khảo sát thực địa và các tài liệu, số liệu thu thập theo nội dung đánh giá.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên nước mặt.
- Biên tập và thành lập bộ bản đồ về tài nguyên nước mặt tỉ lệ 1:50.000.
- Tổng hợp, xây dựng hồ sơ sản phẩm điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt.
2b-3Vị trí vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ
Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:50.000
- Thu thập, rà soát, thông tin, số liệu, tài liệu và chuẩn bị triển khai công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất.
- Phân tích ảnh viễn thám.
- Điều tra, khảo sát thực địa xác định diện phân bố, ranh giới, đặc điểm các tầng chứa nước, đặc điểm các điểm nước, ranh giới nhiễm mặn, nhiễm bẩn nước dưới đất.
- Thi công các dạng công tác: địa vật lý, khoan điều tra khảo sát, hút nước thí nghiệm, trắc địa, quan trắc động thái nước dưới đất và lấy mẫu phân tích chất lượng nước.
- Tổng hợp, chỉnh lý, xử lý thông tin, dữ liệu thu thập và kết quả điều tra thực địa theo các nội dung đánh giá.
- Phân tích đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên nước dưới đất.
- Biên tập và thành lập bộ bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:50.000.
- Tổng hợp, xây dựng hồ sơ sản phẩm điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất.

Khi quy hoạch lưu vực sông Cửu Long chũng ta cần dựa trên những quan điểm nào ?

There are no translations available.

Trả lời:
Lưu vực sông Cửu Long (LVSCL) có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của cả nước. Với tiềm năng nông nghiệp to lớn, trong 10 năm qua, ĐBSCL luôn đóng góp khoảng 55% tổng sản lượng lương thực, quyết định thành công chiến lược an ninh lương thực Quốc gia và có vai trò chủ đạo trong xuất khẩu gạo (hơn 90%, từ 2010 đến nay mỗi năm trung bình 5,5-7,0 triệu tấn); Đồng thời, lưu vực cũng cung cấp trên 70% lượng trái cây, trên 75% sản lượng thuỷ sản nuôi trồng của cả nước. Diện tích trồng lúa trên 1,9 triệu ha, tổng sản lượng dao động trong khoảng 24,5-25,5 triệu tấn. Diện tích nuôi thủy sản 750.000-800.000 ha, tổng sản lượng dao động từ 1,6-1,8 triệu tấn. Diện tích cây ăn quả 280.000-290.000 ha, sản lượng trên 3 triệu tấn. Nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long rất phong phú, chiếm 57% tổng lượng của cả nước, tuy nhiên, trong tổng lượng dòng chảy năm trung bình nhiều năm khoảng 500 tỷ m3, có đến 475 tỷ m3 từ nước ngoài, nội sinh chỉ khoảng 25 tỷ m3 (5% tổng lượng dòng chảy). Vì vậy khi quy hoạch tổng hợp LVSCL sẽ được thực hiện dựa trên các quan điểm sau đây:
1. Tôn trọng quy luật tự nhiên, phù hợp với điều kiện thực tế, tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên; chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững với phương châm chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn; nghiên cứu, xây dựng các kịch bản và có giải pháp ứng phó hiệu quả với thiên tai như bão, lũ, hạn hán và xâm nhập mặn, với các tình huống bất lợi nhất do biến đổi khí hậu và phát triển thượng nguồn sông Mê Công. (Nghị quyết số 120/NQ-CP, 17/11/2017);
2. Phù hợp với định hướng, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch sử dụng đất và có xem xét, liên kết với các quy hoạch chuyên ngành, các đề xuất khai thác, sử dụng nước có liên quan trên LVSCL theo hướng quản lý tổng hợp và phát triển bền vững tài nguyên nước.
3. Khai thác, sử dụng và phát huy những lợi thế tiềm năng của các nguồn tài nguyên nói chung và tài nguyên nước nói riêng trên toàn lưu vực và từng vùng của lưu vực cho phát triển kinh tế-xã hội, từng bước giải quyết các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước và tác hại do nước gây ra trên LVSCL; bảo đảm an ninh nguồn nước, đặc biệt an nình dòng chảy kiệt cho LVSCL.
4. Quy hoạch tổng hợp LVSCL dựa trên các chiến lược trọng yếu là “An ninh nguồn nước”, “An ninh lương thực” và “An ninh năng lượng”, chú trọng các dạng năng lượng tái tạo, phát triển xanh.
5. Huy động nguồn lực xã hội tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến nguồn nước trên LVSCL
6. Xem xét tổng thể các tác động của BĐKH, nước biển dâng và các biến động tự nhiên, tác động của phát triển thượng lưu và phát triển kinh tế-xã hội tại LVSCL.

Có những phương pháp nào đã được nghiên cứu về sụt lún mặt đất trên thế giới?

There are no translations available.

Trả lời:
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu sụt lún mặt đất liên quan đến khai thác nước dưới đất rất đa dạng. Đơn giản nhất và phong phú về thể loại nhất là các nghiên cứu dựa trên thống kê - tương quan giữa số liệu quan trắc khai thác - hạ thấp mực nước dưới đất và sụt lún bề mặt đất tại các trạm quan trắc đặt ở các điểm khai thác này. Điển hình cho loại nghiên cứu này có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Itthi Trisirisatayawong (2009), Cục Môi trường Thailand (2001), Somkid Buapeng (2006), Gottardi (1995), Haryono (1995), GABRYSCH (1969), LOFGREN (1969). Tuy nhiên, các công trình này ít có ý nghĩa khoa học, chỉ mang tính thống kê phục vụ công tác quản lý nhà nước. Ở cấp độ nâng cao hơn, một số nhà nghiên cứu qua các số liệu chứng minh cụ thể còn chỉ ra được một số hàm thực nghiệm quan hệ giữa lượng nước khai thác nước dưới đất, mực nước hạ thấp và mức độ sụt lún; ví dụ các nghiên cứu của Charles Heywood (1995), Wolkersdofer (2006), Malay Ganguli (2010); hay ở mức cao hơn nữa là xác định các hàm quan hệ thực nghiệm dựa trên nền của các phương trình lý thuyết vận động của nước dưới đất như công trình của Wadachi (1940).
Đặc biệt, thông qua các ứng dụng thực tế, cơ chế và phương pháp tính lún do “nén chặt” trầm tích hạt mịn trong tầng chứa nước dần được phát triển đến mức gần hoàn thiện và được “máy tính hóa” thành các phần mềm được ứng dụng rộng rãi trong thực tiến. Điển hình là module “sụt lún và nén chặt tầng chứa nước” (Subsidence and Aquifer-System Compaction – SUB) của Cục địa chất Hoa Kỳ (USGS) được tích hợp vào gói phần mềm nước dưới đất MODFLOW của USGS (Jörn Hoffmann, 2007). Phương pháp tính lún do “nén chặt” trầm tích hạt mịn trong tầng chứa nước của gói phần mềm này dựa trên nền tảng của lý thuyết “nén chặt” của các hạt mịn xen kẹp trong các tầng chứa (interbed compaction theory): Các hạt thô (cát, cuội, sỏi) có thể coi như không bị nén ép biến dạng → Sụt lún biến dạng tầng chứa phụ thuộc vào độ lớn, tần suất của lực nén và tính nén ép của bản thân môi trường nước và biến dạng (cả đàn hồi và không đàn hồi) của các trầm tích hạt mịn (bùn, sét). Ngoài ra, phương pháp này kết hợp nguyên lý “ứng suất hiệu dụng” (principle of effective stress) của Karl Terzaghi (1925) với phương trình động lực học dòng chảy nước dưới đất.
Hiện nay, phương pháp và công cụ tổng thể trên thế giới được áp dụng rộng rãi để nghiên cứu lún mặt đất và được khái quá hóa trong Hình 5 và được nghiên cứu “khái quát ở cấp độ vùng” và nghiên cứu “tại điểm cụ thể”. Cơ bản gồm các bước sau:
- Khảo sát hiện trạng sụt lún.
- Quan trắc sụt lún mặt đất.
- Phân tích các nguyên nhân gây sụt lún.
- Dự báo sụt lún mặt đất bằng mô hình số;
- Xác định các biện pháp (công trình và phi công trình) khắc phục và kiểm soát sụt lún mặt đất;
- Kiến nghị chính sách để ngăn chặn và kiểm soát sụt lún mặt đất.
2b-2Lộ trình công nghệ nghiên cứu lún trên thế giới
Trên thế giới có 3 phương pháp nghiên cứu về sụt lún mặt đất: Phương pháp nghiên cứu lún mặt đất quy mô vùng; Phương pháp nghiên cứu lún mặt đất tại vị trí cụ thể; Phương pháp mô hình.

Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các chỉ tiêu chất lượng nước không đáp ứng mục đích sử dụng trên lưu vực sông Srepok?

There are no translations available.

Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các chỉ tiêu chất lượng nước không đáp ứng mục đích sử dụng trên lưu vực sông Srepok là:
Do điều kiện tự nhiên của tầng chứa nước
Kết quả tính toán chỉ số GOD cho các tầng chứa nước theo cấp độ sâu cho thấy, khả năng dễ bị nhiễm bẩn như sau:
a- Các tầng chứa nước lỗ hổng qh, qp và q phân bố nông và bề dày mỏng. Phân bố thành các dãi hẹp hoặc khoảnh nhỏ dọc hạ lưu các sông lớn: sông Ia Drăng, sông Ia Lốp, sống Ea H’Leo, sông Krông Ana, sông Krông Nô và sông Srêpok. Thành phần đất đá chủ yếu là aluvi đôi chỗ có cát sạn và sét có giá trị chỉ số GOD nằm 0,40 - 0,45 được xếp vào khu vực đó mức độ dễ tổn thương trung bình. Nghĩa là các tầng chứa nước này có khả năng xảy ra ô nhiễm bởi một số chất bẩn xả liên tục vào nguồn nước.
b- Tầng chứa nước khe nứt Pliocen: có bề dày lớn nhưng chỉ phân bố trong phạm vi LVS Krông Ana, tính thấm thấp. Các khu vực có độ sâu mực nước 0,4 được xếp vào loại dễ bị tổn thương trung bình. Các khu vực có độ sâu mực nước >10m có giá trị chỉ số GOD <0,3 nên được xếp vào loại dễ bị tổn thương thấp, chỉ bị tổn thương bởi những chất ô nhiễm không phân hủy được xả liên tục vào nguồn nước trong thời gian dài và trên diện rộng.
c- Tầng chứa nước khe nứt Bqp và Bn-qp: là tầng chứa nước có diện phân bổ lớn tại các LVS sông và là tầng chứa nước khai thác chính. Đây là tầng chứa nước lộ trên mặt với bề thay đổi từ vài mét đến trên 500m tùy nơi. Phân bố không liên tục thường bị gián đoạn bởi các khối núi cấu tạo bởi tầng chứa nước tầng chứa nước khe nứt j nằm dưới hoặc thành tạo rất nghèo nước PZ - MZ. Kèm theo địa hình bị phân cắt mạnh và có quan hệ thủy lực với các dòng mặt và hồ chứa làm cho mực nước có biến động rất lớn theo không gian. Kết quả tính toán chỉ số GOD cho thấy, các khu vực có độ sâu mực nước 10 - 20m có khả năng dễ bị tổn thương trung bình và từ độ sâu <10m đã chuyển sang khả năng dễ bị tổn thương cao. Đây là những khu vực dễ bị tổn thương bởi nhiều chất ô nhiễm trong nhiều kịch bản đánh giá ô nhiễm, trừ những chất bị hấp phụ cao hoặc dễ bị chuyển hóa.
Đáng quan tâm các khu vực có độ sâu mực nước trong phạm vi độ sâu 10 - 20m có giá trị chỉ số GOD là 0,5, ngưỡng ranh giới giữa trung bình và cao. Do đặc điểm mực nước dao động theo mùa với biên độ trên 10,0 - 20,0m nên vào những thời điểm nhất định trong năm nhiều nơi chuyển sang dễ bị tổn thương cao.
d- Tầng chứa nước khe nứt j: có diện phố lớn, lộ trên mặt nhiều nơi với có diện tích lộ khá lớn ở thượng lưu sông Ea Krông Ana, hạ lưu sông Srêpok và sông Ea H’Leo. Đây là tầng nước quan trọng thứ 2 trong vùng, được khai thác sử dụng tại các TLV ngoài trừ TLV sông Ia Drăng.  Cũng như tầng chứa nước Bn-qp, từ độ sâu mực nước 10m trở lên thuộc khu vực dễ tổn thương cao nên cũng có thay đổi mức độ dễ bị tổn thương cao vào mùa mưa hàng năm ở nhiều nơi.
e- Thành tạo rất nghèo nước tuổi PZ - MZ: chiếm diện khá lớn với diện lộ xấp xỉ 50% diện tích LVS Srêpok dưới dạng những khối núi sót với độ cao từ vài trăm mét đến trên 2.000m và phần diện tích còn lại bị phủ bởi các tầng chứa nước chứa nước trẻ.. Đây là đối tượng được khai thác sử dụng quy mô nhỏ bằng các giếng đào nông trong đới phong hóa hoặc các lỗ khoan khai thác dọc theo các đới chứa nước ở hạ lưu sông Ia Drăng. Đây là thành tạo nằm dưới cùng mặt cắt, phân bố độ dốc địa hình lớn mức độ phân cắt cao nên khả năng dễ bị tổn thương không cao. Giá trị chỉ số GOD >0,3 xếp loại dễ bị tổn thương trung bình chỉ những khu vực có độ sâu mực nước <2,5m. Các khu vực còn lại được xếp loại thấp.
Do hoạt động phát triển kinh tế - xã hội gây ô nhiễm nguồn nước
Hoạt động kinh tế - xã hội gây ô nhiễm nước dưới đất trong vùng chủ yếu do các nguyên nhân:
1- Nước thải chảy tràn trên mặt đất:
- Tại các khu dân cư tập trung thuộc vùng nông thôn hoặc ven đô thị, nước thải sinh hoạt thường không được tập trung mà chảy tràn trên mặt đất nên nguy cơ ô nhiễm tại chỗ rất cao, đặc biệt là các khu đồng bào dân tộc ít người.
- Nước thải từ hoạt động chăn nuôi.
- Hoạt động sản suất nông nghiệp cũng là nguồn thải chảy tràn phát triển trên diện rộng với thành phần của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
2- Nguồn thải tập trung:
- Các hồ sinh thái xử lý nước thải nhiều nơi cũng là nguồn gây ô nhiễm NDĐ từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và chế biến.
- Các nghĩa trang và bãi rác tự phát cũng là nguồn ô nhiễm đáng kể không chỉ môi trường mà cả cho các nguồn nước mặt và NDĐ chung quanh.
- Hoạt động khai thác khoáng sản và chế biến cũng góp phần tạo ra các nguồn ô nhiễm tập trung (các moong khai thác, các khu vực chế biến hoặc tuyển khoáng.
- Các sông suối tiếp nhận chất thải với tải lượng vượt mức cho phép cũng là nguồn gây ô nhiễm tập trung kéo dài theo dòng chảy hoặc hồ chứa nước.
- Các hồ NTTS cũng góp phần làm phát sinh hàm lượng chất thải nhưng khả năng gây ô nhiễm NDĐ không cao vì hàm thường rất thấp do được pha loãng (tự làm sạch).
Một nguyên nhân gây ô niễm cho NDĐ do hoạt động xả thải trực tiếp vào tầng chứa nước qua các giếng khoan hư hỏng không được trám lấp đúng quy trình.
Bên cạnh đó còn có sự cố ý xả thải vào lỗ khoan của một số tổ chức cá nhân. Vấn đề này chưa phát hiện ở vùng LVS Srêpok nhưng cũng cần lưu ý vì một số tỉnh ở Đông Nam bộ đã phát hiện và xử lý kịp thời.

Nêu Nội Dung Chính Của Quy Hoạch Tài Nguyên Nước Sông Bằng Giang – Kỳ Cùng?

There are no translations available.

Có 5 nội dung chính trong Quy hoạch tài nguyên nước sông Bằng Giang - Kỳ Cùng:
+ Đánh giá tài nguyên nước và dự báo nhu cầu sử dụng nước.
+ Chức năng nguồn nước.
+ Phân bổ nguồn nước.
+ Bảo vệ tài nguyên nước.
+ Mạng giám tài nguyên nước.
1. Đánh giá tài nguyên nước và dự báo nhu cầu sử dụng nước
a) Tiềm năng nguồn nước
Tổng lượng nước tiềm năng trên lưu vực sông trong điều kiện bình thường là 10,796 tỷ m3, gồm: nước mặt khoảng 8,2 tỷ m3, nước dưới đất khoảng 2,79 tỷ m3; lượng nước có thể khai thác, sử dụng là 9,13 tỷ m3; lượng nước có thể phân bổ 8,99 tỷ m3.
b) Dự báo nhu cầu sử dụng nước
Nhu cầu sử dụng nước cho các ngành, lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của lưu vực đến năm 2025 là 882,60 triệu m3/năm và đến năm 2035 là 1.139,99 triệu m3/năm.
2. Chức năng nguồn nước
Chức năng nguồn nước các sông Bằng Giang, Kỳ Cùng, Bắc Giang, Bắc Khê, Minh Khai, Hiến và các tầng chưa nước chính, gồm: cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch dịch vụ và thủy điện.
3. Phân bổ nguồn nước
a) Nguồn nước dự phòng cấp nước cho sinh hoạt khi xẩy ra xự cố
- Nguồn nước suối Củn được dự phòng cấp nước nước cho sinh hoạt đối với các khu vực đang sử dụng nguồn nước lấy từ sông Bằng Giang đoạn chảy qua thành phố Cao Bằng, với nhu cầu 83.867 m3 và thời gian cấp là 3 tháng.
- Nguồn nước nước dưới đất từ giếng khoan tại thị trấn Na Sầm dự phòng cấp nước cho các khu vực đang sử dụng nguồn nước lấy từ sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn, với nhu cầu 508.066 m3 và thời gian cấp là 3 tháng.
b) Thứ tự ưu tiên phân bổ
- Ưu tiên nguồn nước nước cấp cho sinh hoạt cả về số lượng, chất lượng trong điều kiện bình thường và trong điều kiện hạn hán, thiếu nước;
- Bảo đảm lượng nước cho dòng chảy tối thiểu duy trì dòng sông và bảo đảm sự phát triển bình thường của hệ sinh thái;
- Thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn nước cho các đối tượng khai thác, sử dụng nước trong trường hợp xẩy ra thiếu nước được xác định cho từng tiểu lưu vực, điểm phân bổ;
- Thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn nước trên lưu vực sông được sắp xếp theo thứ tự từ cao đến thấp như sau (1) cấp nước cho sinh hoạt; (2) cấp nước cho sản xuất nông nghiệp; (3) cấp nước cho sản xuất công nghiệp; (4) cấp nước cho du lịch, dịch vụ; (5) cấp nước cho nuôi trông thủy sản.
c) Phân bổ nguồn nước cho các đối tượng khai thác, sử dụng
- Trong trường hợp bình thường: phân bổ bảo đảm 100% nhu cầu khai thác, sử dụng cho các đối tượng sử dụng nước.
- Trong trường hợp hạn hán, thiếu nước: đáp ứng đủ 100% nhu cầu nước cho sinh hoạt; lượng nước phân bổ cho các đối tượng khai thác, sử dụng nước được xác định theo thứ tự ưu tiên và lượng nước thiếu.
d) Công trình phát triển tài nguyên nước, khai thác, sử dụng nước
Đề xuất xây dựng các công trình phát triển nguồn nước trong kỳ quy hoạch nhằm bảo đảm cho khai thác, sử dụng nước. Cụ thể như sau:
- Tiểu lưu vực sông Bằng Giang: Xây mới 11 hồ chứa, 36 đập dâng trên sông Bằng Giang; xây mới 5 hồ chứa, 10 đập dâng trên sông Bắc Vọng; phát triển 41 bậc thủy điện trên các sông: Dòng chính sông Bằng Giang, sông Bắc Vọng, sông Vi Vọng, sông Hiến, sông Dẻ Rào, sông Nguyên Bình, sông Minh Khai, sông Tà  Cáy.
- Tiểu lưu vực sông Kỳ Cùng: (i) phát triển nguồn nước mặt: Xây mới 7 hồ chứa, 25 đập dâng trên dòng chính sông Kỳ Cùng; xây mới 3 hồ chứa, 28 đập dâng trên sông Mó Pia; (ii) phát triển nước dưới đất: Điều tra tìm kiếm nguồn nước và xây dựng công trình cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất ở các tầng chứa nước: Tầng chứa nước khe nứt các trầm tích lục nguyên hệ Neogen (n), với diện tích 56,16 km2, phân bố tại xã Yên Khoái và xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, khai thác phục vụ cho cấp nước sinh hoạt; tầng chứa nước khe nứt các trầm tích lục nguyên hệ Creta (k), với diện tích 150 km2, phân bố tại xã Kiên Lộc, thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.
- Tiểu lưu vực sông Bắc Khê: Xây mới 5 hồ chứa, 3 đập dâng.
- Tiểu lưu vực sông Bắc Giang: Xây mới 5 hồ chứa, 29 đập dâng.
4. Bảo vệ tài nguyên nước
a) Bảo vệ nguồn sinh thủy
- Tăng cường bảo vệ độ tre phủ của rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; khôi phục các khu vực rừng đặc dụng bị phá hoại và xâm hại tại xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn; khu rừng phòng hộ tại xã Quang Trọng, huyện Thạch An , Cao Bằng; rừng phòng hộ Đổng Xá, huyện Na Rì, Bắc Kạn.
- Bảo vệ miền cấp cho nước dưới đất ở các khu vực dễ tổn thương và có nguy cơ tác động đến nước dưới đất của 20 tầng chứa nước.
b) Bảo vệ chất lượng nước
- Phân vùng mục tiêu chất lượng nước theo chức năng nguồn nước cho 06 sông, gồm: sông Bằng Giang, sông Kỳ Cùng, sông Bắc Giang, sông Bắc Khê, sông Hiến, sông Minh Khai.
- Thu gom xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn trước khi xả vào nguồn tiếp nhận và môi trường theo từng thời kỳ quy hoạch như sau: thu gom, xử lý được 30% tổng lượng nước thải vào năm 2020; 60% tổng lượng nước thải vào năm 2025; 80% lượng nước thải trước khi xả vào nguồn tiếp nhận và môi trường.
5. Mạng giám tài nguyên nước
a) Mạng giám sát tài nguyên nước, khai thác, sử dụng nước
Xây dựng mạng giám sát tài nguyên nước với 52 vị trí, gồm 16 vị trí giám sát tài nguyên nước mặt và 46 vị trí giám sát tài nguyên nước dưới đất.
b) Mạng giám chất lượng nước, xả nước thải vào nguồn nước
Xây dựng mạng giám sát chất lượng nước, xả nước thải vào nguồn nước mặt, gồm 17 vị trí; mạng giám sát nước dưới đất trùng vị trí giám tài nguyên nước và khai thác, sử dụng nước dưới đất.

Công tác cảnh báo dự báo tài nguyên nước ở nước ta được nghiên cứu như thế nào?

There are no translations available.

Trả lời:
Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển dân số cùng với việc gia tăng các nhu cầu sử dụng nước phục vụ các hoạt động dân sinh kinh tế, khan hiếm, ô nhiễm tài nguyên nước cùng với biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho vấn đề tài nguyên nước trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, chi phối toàn bộ đời sống, kinh tế, xã hội của người dân. Vì vậy vấn đề dự báo, cảnh báo về những diễn biến tài nguyên nước trong tương lai đã trở thành vấn đề vô cùng quan trọng trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước, phát triển ổn định kinh tế-xã hội.