Thu10282021

Last update12:23:48 AM GMT

Hỏi - Đáp

Nêu cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, tình hình nghiên cứu thực trạng các tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công

There are no translations available.

Trả lời:
*Cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng:
- Theo ISO 8402: Chất lượng dịch vụ là "Tập hợp các đặc tính của đối tượng, tạo cho đối tượng có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn".
- Tiếp cận chất lượng dịch vụ theo quan điểm của khách hàng:
Chất lượng = Cảm nhận - Kỳ vọng.
Tức là mức độ thỏa mãn của khách hàng chính là mức chất lượng của dịch vụ được cung ứng. Theo cách tiếp cận này, chất lượng chính là do khách hàng cảm nhận và khách hàng đánh giá, mức độ hài lòng đó của khách hàng chính là hiệu số giữa cảm nhận khi tiêu dùng dịch vụ đó của khách hàng và mong đợi của họ trước khi tiêu dùng dịch vụ đó. Có 3 trường hợp xảy ra:
+ Chất lượng dịch vụ được đánh giá là tốt trong trường hợp cảm nhận của khách hàng khi tiêu dùng dịch vụ đó lớn hơn kỳ vọng mong đợi. Hiệu số này càng lớn chất lượng dịch vụ được cho là càng tuyệt hảo.
+ Chất lượng dịch vụ được cho là ổn trong trường hợp mức độ cảm nhận bằng với kỳ vọng mong đợi.
+ Chất lượng dịch vụ được cho là kém trong trường hợp mức độ cảm nhận thấp hơn kỳ vọng mong đợi. Hiệu số này càng bé, chất lượng dịch vụ được cho là càng tồi.
- Nhân tố quyết định kỳ vọng của khách hàng gồm 4 nhân tố chính:
(1). Thông tin truyền miệng.
(2). Nhu cầu cá nhân.
(3). Kinh nghiệm đã trải qua.
(4). Quảng cáo, khuếch trương.
- Mô hình cung ứng dịch vụ (mô hình SERVUCTION) gồm:
+ Phần không nhìn thấy: Tổ chức nội bộ của đơn vị cung ứng.
+ Phần nhìn thấy gồm cơ sở vật chất và nhân viên tiếp xúc (với khách hàng) của đơn vị cung ứng dịch vụ.
- Theo mô hình SERVUCTION nêu trên, chất lượng dịch vụ được quyết định bởi 4 nhóm yếu tố:
+ Nhóm yếu tố thứ nhất thuộc về năng lực của lực lượng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và trực tiếp tạo ra dịch vụ. Chất lượng được tạo ra bởi các yếu tố này gọi là chất lượng chức năng.
+ Nhóm yếu tố thứ hai thuộc về cơ sở vật chất của cơ sở tạo ra dịch vụ. Chất lượng do cơ sở vật chất của đơn vị cung ứng dịch vụ tạo ra gọi là chất lượng kỹ thuật.
+ Nhóm yếu tố thuộc về môi trường xung quanh: Bên cạnh những yếu tố thuộc về cơ sở vật chất và con người, khách hàng có thể thấy hài lòng hay không hài lòng với những gì diễn ra xung quanh không gian mà họ đang hưởng thụ dịch vụ - đó là yếu tố môi trường. Môi trường có thể là môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, hoặc thậm chí là văn hóa dịch vụ của tổ chức cung ứng dịch vụ.
+ Nhóm yếu tố thuộc về khách hàng (sự cộng tác của khách hàng trong quá trình thực hiện dịch vụ, ví dụ khi cắt tóc, khám bệnh...)
Như vậy, chất lượng dịch vụ theo quan điểm khách hàng là cơ sở nền tảng của chất lượng dịch vụ, chất lượng cuối cùng phải do khách hàng quyết định.
*Nghiên cứu thực trạng các tiêu chí, chỉ số đánh giá:
Hơn 15 năm qua, Nhà nước ta đã quan tâm nhiều đến việc cải thiện dịch vụ hành chính trong giải quyết mối quan hệ với tổ chức và công dân thông qua Chương trình tổng thể về cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, công khai và thuận tiện cho người dân. Quá trình này được đánh dấu bằng sự ra đời Nghị quyết 38-CP ngày 4/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức. Tiếp đó, Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” ở các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương được ban hành theo Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 20/6/2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Tiến thêm một bước nữa, ngày 10/1/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọi tắt là Đề án 30) và ngày 22/6/2007 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thay thế cho Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg nhằm hoàn thiện hơn nữa việc thực hiện cơ chế “một cửa” cho phù hợp với từng loại thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, Nhà nước đã và đang thực hiện các đề án về đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt những người trực tiếp giao tiếp với dân trong việc giải quyết các yêu cầu công dân. Đồng thời, thực hiện đề án hiện đại hoá hành chính nhà nước nhằm xây dựng các công sở hành chính khang trang, hiện đại phục vụ nhân dân một cách tốt nhất.
Việc thực hiện nội dung cải cách quy định trong các văn bản nêu trên đã cải thiện đáng kể việc giải quyết các thủ tục hành chính với công dân và tổ chức, được xã hội đánh giá cao. Những lợi ích mà chương trình cải cách đem lại có thể kể đến như: tiết kiệm thời gian, tiền bạc của dân và người dân cảm thấy hài lòng hơn, gần gũi hơn khi tiếp xúc với các cơ quan công quyền. Tuy nhiên, đánh giá chất lượng các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất mà các cơ quan nhà nước cung ứng như thế nào, vẫn là câu hỏi đặt ra chưa có câu trả lời thoả đáng.
Theo chúng tôi, để trả lời câu hỏi trên cần được lý giải hai điều quan trọng: 1) tiêu chí nào thể hiện chất lượng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất?; và 2) làm thế nào để đánh giá được chất lượng dịch vụ công theo các tiêu chí đó?.
Để tìm kiếm tiêu chí phản ánh chất lượng dịch vụ dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất, trước tiên, chúng ta cần hiểu về chuẩn mực chất lượng của một hàng hoá hay dịch vụ. Hiện có nhiều quan niệm về chất lượng, song chúng tôi cho rằng, chất lượng hàng hoá (hay dịch vụ) là toàn bộ những tính chất và đặc điểm của hàng hoá hoặc dịch vụ có liên quan đến khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Theo khái niệm này, chất lượng được thể hiện ở các đặc tính của hàng hoá hoặc dịch vụ, nhưng nó lại gắn với nhu cầu, yêu cầu (sự thoả mãn) của người tiêu dùng. Nghĩa là, chất lượng hàng hoá, dịch vụ đó được phản ánh qua sự cảm nhận của khách hàng về mức độ đáp ứng yêu cầu. Như vậy, muốn xác định được các tiêu chí phản ánh chất lượng của dịch vụ hành chính công, cần phải tiến hành hai việc:
- Một là, xác định xem khách hàng (công dân, tổ chức) đặt ra những yêu cầu gì đối với từng loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất. Việc xác định khách hàng cần những gì ở một dịch vụ này không phải khó thực hiện, chỉ cần tiến hành một cuộc điều tra hay phỏng vấn đối với nhóm khách hàng thường xuyên sử dụng dịch vụ này.
- Hai là, xác định những yếu tố tạo nên đặc tính của dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất đó. Để xác định, chúng ta cần xem xét đầy đủ tất cả các yếu tố và quá trình tạo nên dịch vụ hành chính công.

Nêu phân loại nguồn nước và các vấn đề liên quan, nêu một số dự án, đề tài nghiên cứu có liên quan đến nguồn nước?

There are no translations available.

Trả lời:

1.Phân loại nguồn nước và các vấn đề liên quan

Quy định trong các văn bản pháp lý: Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 được ban hành đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước ở nước ta. Đây là văn bản pháp luật cao nhất về quản lý tài nguyên nước, các Điều, Khoản trong Luật thể hiện rõ tầm quan trọng của tài nguyên nước và lĩnh vực quản lý tài nguyên nước nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của nước ta. Nội dung của Luật thể hiện hướng tiếp cận quản lý về tài nguyên nước theo xu thế của thế giới đó là quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Theo đó, một số quy định về phân loại nguồn nước, thẩm quyền quản lý, trách nhiệm thi hành, điều phối, giám sát liên quan trực tiếp đến nguồn nước.

Các nghiên cứu về nguồn nước :

1. Sông, hệ thống sông, lưu vực sông:

Một con sông thường được chia làm ba phần: thượng lưu, trung lưu và hạ lưu. Mỗi vùng có các đặc điểm hình thái và tính chất dòng chảy khác nhau, trong các nghiên cứu thường phân vùng sông theo đặcđiểm hình thái để phân tích, đánh giá tài nguyên nước phục vụ quản lý và khai thác sử dụng.Hệ thống sông là một tập hợp các sông nhánh và sông chính chảy cùng nhau và cùng chảy ra biển, sông chính (4) được hình thành từ các sông nhánh (3), các sông nhánh (3) được hình thành từ các sông nhánh (2) và các sông nhánh (2) được hình thành từ các nhánh nhỏ (1). Một hệ thống sông được minh họa như sau:
Hình. 1. Sơ họa hệ thống sông

Lưu vực sông là vùng đất mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông và thoát ra ở một cửa chung hoặc thoát ra biển (Luật TNN, 2012). Các lưu vực sông được phân tách nhau bởi đường phân thủy, trên một lưu vực sông lớn có thể phân ra thành các lưu vực sông nhỏ bao gồm các nhánh sông. 

Hình. 2. Phạm vi lưu vực sông.

2. Hệ thống hồ

Hệ thống hồ có thể phân loại gồm hồ chứa nhân tạo và hồ tự nhiên. Tùy theo chức năng của hồ có thể được phân loại, như hồ chứa thủy điện, hồ chứa thủy lợi, hồ sinh thái, hồ chứa đa mục tiêu... Theo mức độ điều tiết dòng chảy có thể phân ra: hồ chứa điều tiết nhiều năm, hồ chứa điều tiết năm (mùa, tháng, tuần). Theo dung tích, hồ chứa có thể phân ra: nhỏ, vừa và lớn. Hồ chứa lớn là loại hồ chứa có dung tích lớn hơn 1 triệu m3.

1. Một số dự án, đề tài nghiên cứu có liên quan đến nguồn nước:- Viện Khí tượng Thủy văn nay là Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường xuất bản cuốn "Đặc trưng hình thái lưu vực sông Việt Nam" năm 1985, trong đó trình bày danh mục sông suối các cấp và đặc trưng hình thái lưu vực sông của 2360 sông suối có chiều dài từ 10 km trở lên và có nước chảy thường xuyên và đưa ra các chỉ tiêu về: chiều dài sông chính, chiều dài lưu vực, diện tích lưu vực, các đặc trưng hình thái trung bình lưu vực, số lượng sông suối các cấp của 9 hệ thống sông có diện tích lưu vực từ 10.000 km2 trở lên và 86 sông vừa và nhỏ khác.

- Báo cáo tổng kết chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước "Cân bằng bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước quốc gia", mã số KC12 do TS. Nguyễn Trọng Sinh và nnk thực hiện năm 1995, đã đưa ra các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng nước sông gồm: 

+ Tổng lượng dòng chảy năm trung bình thời kỳ nhiều năm (1961-1990) của các hệ thống sông/sông, các vùng và cả nước; dòng chảy mùa lũ/mùa cạn và lưu lượng lũ lớn nhất thời kỳ quan trắc và lũ lịch sử theo số liệu điều tra.

+ Chất lượng nước sông gồm: tổng độ khoáng hóa và các thành phần hóa học chính, độ mặn và trữ lượng động tự nhiên.

+ Các chỉ tiêu về trữ lượng nước tĩnh và trữ lượng khai thác tiềm năng của nước ngầm trong các lưu vực sông chính và một số vùng.

- Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp nhà nước “Đánh giá tính bền vững của việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất lãnh thổ Việt Nam, định hướng chiến lược khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất đến năm 2020” do Trường Đại học Mỏ và Địa chất thực hiện năm 2005 đã đưa ra các chỉ tiêu về số lượng nước và chất lượng nước dưới đất. Các chỉ tiêu số lượng được đánh giá bằng trữ lượng động tự nhiên (m3/ngày) và trữ lượng khai thác tiềm năng (m3/ngày) theo từng tỉnh và các vùng: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng Nam Bộ. Chất lượng nước ngầm được đánh giá theo các chỉ tiêu về: tổng hàm lượng muối và các thành phần hóa học chính, trị số pH, độ cứng, loại hình hóa học của các tầng chứa nước…

- Đề tài “Kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước quốc gia và xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước” do Cục quản lý tài nguyên nước thực hiện năm 2007 đã đưa ra 05 bộ chỉ tiêu gồm:

(1) bộ chỉ tiêu kiểm kê, đánh giá lượng mưa;

(2) bộ chỉ tiêu về hình thái sông, hồ, đầm phá;

(3) bộ chỉ tiêu về lượng nước sông;

(4) bộ chỉ tiêu về số lượng nước dưới đất;

(5) bộ chỉ tiêu về chất lượng nước, với khoảng 96 chỉ tiêu.

- Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xác định nội dung, phương pháp tính, tổng hợp, thống kê các chỉ tiêu tài nguyên nước” do Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia - Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện năm 2012 đã đưa ra 05 nhóm chỉ tiêu tài nguyên nước gồm:

1) Nhóm chỉ tiêu về lượng nước.

2) Nhóm chỉ tiêu chế độ nước.

3) Nhóm chỉ tiêu về chất lượng nước.

4) Nhóm chỉ tiêu về các cực trị.

5) Nhóm chỉ tiêu về khai thác, sử dụng.

Nội dung bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất được thể hiện như thế nào?

There are no translations available.

Trả lời:
Nội dung bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất:Các yếu tố nền
1. Yếu tố nền địa hình
Trên bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất phải đảm bảo thể hiện các yếu tố địa hình sau:
a) Lớp cơ sở toán học: tên bản đồ, khung lưới, các yếu tố ngoài khung;
b) Lớp địa hình: đường đồng mức, điểm độ cao, giá trị độ cao;
c) Lớp thủy hệ: sông, suối, hồ và tên của chúng;
d) Lớp giao thông: đường bộ, đường sắt, cầu và tên của chúng;
đ) Lớp dân cư: khu dân cư tập trung, cụm dân cư;
e) Lớp hành chính: trụ sở Ủy ban nhân dân huyện, tỉnh; tên đơn vị hành chính;
g) Lớp ranh giới: ranh giới xã, huyện, tỉnh, đường biên giới.
Các yếu tố chuyên đề
Các thông tin thể hiện trên bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất bao gồm:
- Phạm vi các vùng hạn chế, gồm: các đường biên giới vùng hạn chế; diện tích hạn chế;
- Chiều sâu hạn chế khai thác;
- Tầng chứa nước hạn chế khai thác.
- Danh mục các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất
2 Kỹ thuật thể hiện bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất
a. Hình thức bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất
- Tên bản đồ, khung, được thể hiện theo quy định ở phần phụ lục kèm theo hướng dẫn này.
- Bản đồ gồm nhiều mảnh thì thể hiện sơ đồ ghép mảnh ở góc bên phải trên khung của bản đồ.
- Chú giải của bản đồ đặt ở bên phải bản đồ hoặc được xem xét đặt trong khung ở vị trí thích hợp.
b. Kỹ thuật thể hiện nội dung bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất
* Nguyên tắc thể hiện
- Bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất phải thể hiện kết quả khoanh định các khu vực, vùng hạn chế và các nội dung thông tin chủ yếu của từng khu vực, từng vùng hạn chế thuộc Danh mục các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất.
- Các nội dung, thông tin thể hiện trên bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất dựa theo các nguyên tắc sau:
+ Khu vực sụt lún và khu vực liền kề với khu vực sụt lún được thể hiện dạng đường;
+ Biên mặn, có hàm lượng tổng chất rắn hòa tan (TDS) từ 1.500 mg/l trở lên và khu vực liền kề với biên mặn được thể hiện dạng đường;
+ Bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung và khu vực liền kề với đường biên của bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung được thể hiện dạng đường;
+ Khu vực có giếng khai thác nước dưới đất bị ô nhiễm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và sinh vật được thể hiện dạng đường;
+ Nghĩa trang tập trung hoặc các khu vực có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất khác được thể hiện dạng đường;
+ Khu vực có mực nước động trong giếng khai thác vượt quá mực nước động cho phép được thể hiện dạng đường;
+ Khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề đã được đấu nối với hệ thống cấp nước tập trung hiện có được thể hiện dạng đường;
+ Khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề chưa được đấu nối nhưng có điểm đấu nối liền kề của hệ thống cấp nước tập trung được thể hiện dạng đường;
+ Khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề hiện có hoặc đã được phê duyệt quy hoạch cách nguồn nước mặt không vượt quá 1.000m và nguồn nước mặt đó đáp ứng đủ các điều kiện cấp nước được thể hiện dạng đường;
+ Phạm vi các vùng hạn chế được thể hiện dạng vùng;
+ Giếng khai thác nước dưới đất bị ô nhiễm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và sinh vật được thể hiện dạng điểm;
+ Chiều sâu hạn chế khai thác được thể hiện dạng số;
+ Tầng chứa nước hạn chế khai thác được thể hiện bằng ký hiệu tên tầng chứa nước;
+ Danh mục các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất được thể hiện bằng bảng.
* Kích thước đối tượng
Trên bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, các đối tượng thể hiện theo dạng vùng phải có kích thước trên bản đồ lớn hơn hoặc bằng 01cm2; các đối tượng thể hiện theo dạng đường phải có chiều dài trên bản đồ lớn hơn hoặc bằng 01cm.
*. Kỹ thuật thể hiện bản đồ
- Khu vực sụt lún và khu vực liền kề với khu vực sụt lún được thể hiện bằng đường ranh giới nét liền màu đỏ kèm theo hướng chỉ về phía sụt lún;
- Biên mặn, có hàm lượng tổng chất rắn hòa tan (TDS) từ 1.500 mg/l trở lên và khu vực liền kề với biên mặn được thể hiện bằng đường ranh giới nét đứt màu đỏ kèm theo hướng chỉ về phía có hàm lượng tổng chất rắn hòa tan (TDS) từ 1.500 mg/l trở lên;
- Bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung và khu vực liền kề với đường biên của bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung được thể hiện bằng đường ranh giới nét liền màu xanh thẫm kèm theo hướng chỉ về phía chôn lấp;
- Khu vực có giếng khai thác nước dưới đất bị ô nhiễm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và sinh vật được thể hiện bằng đường ranh giới nét đứt màu hồng kèm theo hướng chỉ về phía có giếng khai thác nước dưới đất bị ô nhiễm;
- Nghĩa trang tập trung hoặc các khu vực có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất khác được thể hiện bằng đường ranh giới nét liền màu tím;
- Khu vực có mực nước động trong giếng khai thác vượt quá mực nước động cho phép được thể hiện bằng đường ranh giới nét đứt màu xanh nước biển kèm theo hướng chỉ về phía có mực nước động trong giếng khai thác vượt quá mực nước động cho phép;
- Khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề đã được đấu nối với hệ thống cấp nước tập trung hiện có được thể hiện bằng đường ranh giới nét liền màu xanh lá cây kèm theo hướng chỉ về phía đô thị, khu dân cư tập trung;
- Khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề chưa được đấu nối nhưng có điểm đấu nối liền kề của hệ thống cấp nước tập trung được thể hiện bằng đường ranh giới nét đứt màu xanh lá cây kèm theo hướng chỉ về phía đô thị, khu dân cư tập trung;
- Khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề hiện có hoặc đã được phê duyệt quy hoạch cách nguồn nước mặt không vượt quá 1.000m và nguồn nước mặt đó đáp ứng đủ các điều kiện cấp nước được thể hiện bằng đường ranh giới nét đứt màu xanh lá cây kèm theo hướng chỉ về phía đô thị, khu dân cư tập trung;
- Phạm vi các Vùng hạn chế 1 được thể hiện bằng vùng có các đường kẻ màu xanh nằm ngang cách nhau 4mm;
- Phạm vi các Vùng hạn chế 2 được thể hiện bằng vùng có các đường kẻ màu xanh thẳng đứng cách nhau 4mm;
- Phạm vi các Vùng hạn chế 3 được thể hiện bằng vùng có các đường kẻ màu xanh xiên chéo góc 45o cách nhau 4mm;
- Phạm vi các Vùng hạn chế 4 được thể hiện bằng vùng có các đường kẻ màu xanh xiên chéo góc 135o cách nhau 4mm;
- Phạm vi các Vùng hạn chế hỗn hợp được thể hiện bằng vùng có các dấu cộng màu xanh;
- Giếng khai thác nước dưới đất bị ô nhiễm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và sinh vật được thể hiện bằng hình tròn màu nâu, đường kính 3mm, kèm theo số hiệu giếng khoan;
- Chiều sâu hạn chế khai thác được thể hiện bằng số màu đen, đơn vị là mét;
- Tầng chứa nước hạn chế khai thác được thể hiện bằng chữ của ký hiệu tên tầng chứa nước;
- Danh mục các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất được thể hiện bằng bảng.

Nêu nội dung nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất vùng bán đảo Cà Mau?

There are no translations available.

Trả lời:
Mục đích: Nhằm xác định các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất vùng bán đảo Cà Mau.
Nội dung nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất vùng bán đảo Cà Mau như sau:
1. Điều tra chi tiết hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất và định hướng phát triển kinh tế - xã hội;
2. Nghiên cứu chi tiết cấu trúc địa chất, địa chất thủy văn;
3. Bơm hút nước thí nghiệm xác định các thông số địa chất thủy văn của tầng chứa nước nghiên cứu (tầng n22);
4. Nghiên cứu xác định các thông số thủy địa hóa các lớp thấm nước yếu liền kề đối tượng;
5. Nghiên cứu nguồn gốc hình thành, nguồn bổ cập cho nước dưới đất vùng bán đảo Cà Mau và tầng chứa nước lỗ hổng;
6. Đo Karota lỗ khoan (10 lỗ, mỗi lỗ sâu 240m) phân tầng địa chất thuỷ văn và xác định hiện trạng phân bố mặn nhạt của các tầng chứa nước và các lớp cách nước theo phương thẳng đứng;;
7. Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng nhiễm mặn tầng chứa nước theo diện phân bố;
8. Chiết, ép nước lỗ rỗng từ các mẫu nguyên dạng lấy tại các lớp thấm nước yếu, kết hợp với kết quả địa vật lý lỗ khoan xác định sự phân bố độ mặn của lớp thấm nước yếu liền kề tầng chứa nước nghiên cứu;
9. Lấy mẫu và phân tích thành phần hóa học và thành phần đồng vị của nước trong tầng chứa nước và nước lỗ rỗng trong các lớp thấm nước;
10. Phân tích, đánh giá các kết quả phân tích thành phần đồng vị, thành phần hóa học. Xác định nguồn gốc nước dưới đất;
11. Xác định đối tượng (nguồn mặn) ảnh hưởng tới tầng chứa nước nghiên cứu trong điều kiện tự nhiên (không khai thác) và phá hủy (điều kiện khai thác hiện tại và nhu cầu khai thác sử dụng trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng);
12. Mô hình hóa diễn biến xâm nhập mặn vùng bán đảo Cà Mau;
a.  Xây dựng mô hình dòng chảy nước dưới đất:
1) Nhập dữ liệu vào mô hình dòng chảy:
- Tính toán, nội suy dữ liệu, thông số đầu vào bề mặt địa hình vùng nghiên cứu, bề mặt các tầng chứa nước, cách nước, các hệ số thấm, nhả nước để mô hình hóa mức độ chứa nước của các tầng chứa nước;
- Các số liệu về điều kiện biên của tầng chứa nước (số liệu lượng mưa, độ bốc hơi, mực nước tại các trạm thủy văn, hiện trạng khai thác, mực nước dưới đất tại các giếng quan trắc);
- Các thông số của các tầng chứa nước (hệ số thấm ngang, hệ số thấm thẳng đứng, hệ số nhả nước trọng lực, hệ số đàn hồi của tầng chứa nước…);
- Nhập liệu; đồng bộ hoá, kiểm tra tính tương thích của dữ liệu đầu vào;
- Kiểm tra thử dữ liệu đầu vào trong mô hình.
2) Chỉnh lý mô hình: kết quả tính toán mực nước trên mô hình sẽ được so sánh với mực nước thực tế, đánh giá sai số. Nếu sai số lớn cần phải chỉnh lý lại các thông số trong mô hình như hệ số thấm, hệ số nhả nước, các điều kiện biên đầu vào, đầu ra của mô hình cho đến khi sai số giữa mực nước thực tế nhỏ hơn mực nước cho phép.
3) Ứng dụng mô hình: dự báo mực nước theo tháng, quý năm đưa vào trong các bản tin thông báo dự báo mực nước dưới đất.
4) Xây dựng báo cáo mô hình.
b. Xây dựng mô hình dịch chuyển vật chất dự báo xâm nhập mặn nước dưới đất:
1) Nhập dữ liệu vào mô hình:
- Tính toán, xây dựng các bản đồ phân vùng độ mặn TDS  của các tầng chứa nước;
- Các số liệu diễn biến về độ mặn của các sông, biển theo thời gian;
- Các thông số về độ lỗ hổng, hệ số phân tán, khuếch tán của môi trường đất và môi trường nước;
- Các thông số về tỷ số phân tán dọc, phân tán ngang và phân tán đứng;
- Nhập liệu, đồng bộ hoá, kiểm tra tính tương thích của dữ liệu đầu vào;
- Kiểm tra thử dữ liệu đầu vào trong mô hình.
2) Chỉnh lý mô hình: Kết quả chạy mô hình sẽ đối với chiếu với kết quả lấy và phân tích mẫu TDS tại các công trình quan trắc. Chỉnh lý các thông số về độ lỗ hổng của đất đá, các hệ số khuếch tán, phân tán của môi trường đất đá và môi trường nước để sai số đạt quá nhỏ nhất.
3) Chạy mô hình dự báo đánh giá nguy cơ xâm nhập mặn vào các tầng chứa nước do khai thác nước hoặc biến đổi khí hậu vào các bản tin chuyên đề, bản tin năm.
4) Xây dựng báo cáo mô hình xâm nhập mặn.
13. Phân tích, đánh giá các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất vùng bán đảo Cà Mau;
14. Lựa chọn các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất vùng bán đảo Cà Mau.

Tình hình nghiên cứu công nghệ tích nước ngọt trong tầng chứa nước mặn ở nước ta?

There are no translations available.

Trả lời:
Ở nước ta, một số nhà địa chất thủy văn đã có những ý tưởng mới về bổ sung, tích trữ nước nhạt trong các tầng chứa nước để phục hồi cạn kiệt tầng chứa nước cũng như cải thiện chất lượng nước dưới đất như các tác giả: Châu Văn Quỳnh, 1999: Những vấn đề bổ cấp nhân tạo nước dưới đất và triển vọng ứng dụng ở Việt Nam. Đặc san kỷ niệm 25 năm thành lập Liên đoàn ĐCTV - ĐCCT miền Bắc, Hà Nội; Đoàn Văn Cánh, Ngô Tuấn Tú, 2002: Tài nguyên nước dưới đất ở Tây Nguyên và bảo vệ nước dưới đất khỏi bị cạn kiệt bằng giải pháp bổ sung nhân tạo trữ lượng. Tuyển tập BCKH Hội thảo "Tài nguyên nước ngầm Việt Nam, hiện trạng khai thác, phương hướng sử dụng hợp lý ở các tỉnh phía Nam". TP. Hồ Chí Minh, 12/8/2002; Võ Công Nghiệp, 1999: Bổ sung nhân tạo nước ngầm - một biện pháp phòng chống hạn và làm giàu tài nguyên nước. TC Hoạt động khoa học, 7. Hà Nội; Vũ Ngọc Trân, Võ Công Nghiệp, 2003: Sự cần thiết và khả năng áp dụng phương pháp bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất ở vùng khô hạn Bình Thuận. Hội thảo khoa học "Bổ sung nhân tạo trữ lượng nước dưới đất ở Việt Nam". Hà Nội 11/7/2003...
Một số công trình nghiên cứu bổ sung nhân tạo nước dưới đất điển hình được áp dụng tại Việt Nam:
- Công trình nghiên cứu đề tài độc lập cấp nhà nước năm 2006: Nghiên cứu cơ sở khoa học bổ sung nhân tạo nước dưới đất bằng công nghệ hiện đại nhằm bảo đảm khai thác bền vững tài nguyên nước tại Việt Nam của GS.TSKH. Nguyễn Thị Kim Thoa. Đề tài đã tổng hợp được các kinh nghiệm rút ra từ các chuyến đi thực tế tại các nước trên thế giới và áp dụng vào thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận. Đề tài đã lựa chọn ra khu vực tiến hành bổ sung nhân tạo là khu vực Bàu Nổi tỉnh Bình Thuận. Tại đây các tác giả đã lựa chọn phương pháp bổ sung nhân tạo bằng bồn thấm, sử dụng nguồn nước mưa để bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất đồng thời đã tiến hành các phương pháp khảo sát đo đạc và thí nghiệm hiện trường để nghiên cứu bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất.
- Đề tài: Nghiên cứu cơ sở khoa học và xây dựng các giải pháp lưu giữ nước mưa vào lòng đất phục vụ chống hạn và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất vùng Tây Nguyên của PGS.TS Đoàn Văn Cánh. Từ những đánh giá tài nguyên nước và sự phân bố nước theo không gian, thời gian trong năm và những kết quả phân tích về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở Tây Nguyên, Đề tài đã kiến nghị đồng thời những giải pháp hồ chứa nước trên mặt đất, cần có những giải pháp thu gom nước mưa, nước mặt đưa vào lưu giữ trong lòng đất, bổ sung nhân tạo nước dưới đất phục vụ điều phối nguồn nước từ mùa mưa dư thừa vào mùa khô khan hiếm nước để khai thác sử dụng. Lưu giữ nước trên mặt và trong lòng đất có hàng loạt những khác biệt.
- Trong năm 2013, Triệu Đức Huy đã thực hiện đề tài KHCN cấp Bộ “Nghiên cứu mô hình trữ nước mưa bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất bảo đảm phát triển kinh tế xã hội các đảo khu vực đông bắc Việt Nam; Thử nghiệm ở đảo Quan Lạn”. Mã số: TNMT.02.16. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác lập được các cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc lưu trữ nước mưa bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất các đảo đông bắc Việt Nam bao gồm các cơ sở về điều kiện địa chất, địa mạo, địa chất thủy văn, địa chất công trình, cơ sở về tài nguyên nước, cơ sở về hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước và cơ sở về điều kiện kinh tế xã hội các đảo. Từ những luận cứ khoa học, đề tài đã nghiên cứu các giải pháp công nghệ thu gom nước mưa bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất từ đó lựa chọn vị trí và công nghệ thích hợp nhất tiến hành thử nghiệm trên đảo Quan Lan. Với công trình thu gom nước mưa bổ sung nhân tạo nước dưới đất đã được xây dựng và qua kết quả tính toán cũng đã xác định được lượng nước có thể thu gom được từ hệ thống trung bình năm khoảng 1.735m3, trung bình năm cao nhất khoảng 2.468m3; trung bình tháng cao nhất là 1.117m3. Số liệu trên là kết quả tính toán lượng nước thu gom đối với công trình thử nghiệm của đề tài tại Phân Viện Quan Lạn. Theo số liệu thống kê toàn đảo Quan Lạn có khoảng 1.000 hộ gia đình với dân số trên 4.000 người. Chúng ta thử đặt phép toán với diện tích trung bình thu gom của một mái nhà là 40m2 (chưa tính số liệu thống kê các mái nhà của trường học, ủy ban nhân dân xã và các khách sạn nhà hàng trên đảo), với các thông số tính toán như đối với công trình thử nghiệm của đề tài thì tổng lượng nước có thể thu gom trung bình năm của các mái nhà này khoảng 66.720m3/năm. Với công nghệ bồn thấm kết hợp lỗ khoan hấp phụ nước của đề tài có chiều sâu 50m bố trí ống lọc xuyên suốt cả lỗ khoan (đoạn nứt nẻ chứa nước đến 45m) thì khả năng thu gom nước mưa lớn nhất trong ngày là 207m3/ngày.

Phạm vi lập và tính toán mô hình mưa rào - dòng chảy khi xây dựng bộ công cụ tích hợp đánh giá tài nguyên nước và đất phục vụ Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long ?

There are no translations available.

Trả lời:
Đất và nước là 2 loại tài nguyên rất quan trọng, là yếu tố cần phải xét đến trong bất kỳ quy hoạch tổng thể phát triển của một vùng hay lãnh thổ. Tài nguyên đất ít biến động, trong khi đó tài nguyên nước biến động lớn theo cả không gian và thời gian. Mặt khác, sử dụng đất phải gắn liền và phụ thuộc vào tính sẵn có cũng như biến động của tài nguyên nước. Sử dụng đất hiệu quả phải gắn liền với sử dụng nước hiệu quả, tiết kiệm và phải gắn liền với mục tiêu bảo vệ môi trường và hệ sinh thái. Đặc biệt, các quy hoạch sử dụng tài nguyên này phải phải xét đến mối quan hệ phụ thuộc giữa sử dụng đất - sử dụng nước và thay đổi nhu cầu sử dụng nước do việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Phạm vi lập và tính toán mô hình mưa rào - dòng chảy:  Vùng 1 - Tiểu vùng ngập  sâu, Vùng 2 - Tiểu vùng giữa đồng bằng với tổng diện tích lập mô hình 15.200 km2.
Phạm vi thiết lập mô hình thủy lực 1D: toàn vùng ĐBSCL với tổng diện tích lập mô hình 40.000 km2. Phạm vi lập mô hình Mike 21: dòng chính sông Tiền, sông Hậu.
Phạm vi lập mô hình cân bằng nước gồm Vùng 1 - Tiểu vùng ngập sâu, Vùng 2 - Tiểu vùng giữa đồng bằng với tổng diện tích lập mô hình 15.200 km2. Cụ thể các vùng như hình :
2b-7Cấu trúc không gian vùng ĐBSCL (theo Quyết định số 68/QĐ-TTG, ngày 15/1/2018 của Thủ tướng chính phủ)
Vùng 1 - Tiểu vùng ngập sâu: Diện tích chiếm khoảng 15% diện tích tự nhiên của vùng, gồm các huyện thị xã ở phía Tây tỉnh Long An; phía Bắc các tỉnh Đồng Tháp, An Giang và phía Tây Bắc tỉnh tiền Giang. Các đô thị trọng điểm gồm: Châu Đốc, Tân Châu (An Giang); Hồng Ngự, An Giang (Đồng Tháp); Kiến Tường (Long An)
Vùng 2 - Tiểu vùng giữa đồng bằng: Diện tích chiếm khoảng 38% diện tích tự nhiên của vùng, gồm thành phố Cần Thwo và các huyện thị xã phía Bắc các tỉnh: An Giang, Kiên Giang và Sóc Trăng; phía Tây các tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh (một phần các huyện Càng Long, Cầu Kè); phía Đông Nam tỉnh Long An; phía Tây Nam tỉnh Tiền Giang; phía Nam tỉnh Đồng Tháp và phía Đông bắng tỉnh Hậu Giang.
Vùng 3 - Tiểu vùng ven biển và hải đảo: Diện tích chiếm khoảng 47% diện tích của vùng, gồm các tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu và các huyện, thành phố thị xã ở phía Tây Nam các tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang; phía Nam các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang và Long An