Tue09292020

Last update02:00:00 PM GMT

Hỏi - Đáp

Mục tiêu của việc điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:50.000 vùng Bắc sông Tiền là gì?

There are no translations available.

Trả lời:
Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường. Trong thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả nhất định; nhận thức của các ngành, các cấp, các tổ chức và cá nhân về các quy định trong lĩnh vực tài nguyên nước từng bước được nâng lên, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và công tác bảo vệ môi trường.
Phạm vi thực hiện dự án: “Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:50.000 vùng Bắc sông Tiền” có diện tích nghiên cứu là 9.124 km2, có ranh giới phía tây nam là sông Tiền, ranh giới phía bắc là biên giới Việt Nam – Campuchia, sông Vàm Cỏ Đông, phía bắc huyện Nhà Bè – Tp. Hồ Chí Minh, ranh giới phía đông là biển Đông.
Việc điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất vùng Bắc Sông Tiền nhằm xây dựng một ngân hàng dữ liệu giúp cho các nhà quản lý có được những số liệu đầy đủ hơn về số lượng, chất lượng và tình hình khai thác, sử dụng để có những chính sách phù hợp trong việc phát triển ở tương lai. Đối với các ngành sử dụng nước, số liệu điều tra là những cơ sở cơ bản để đề ra giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên nước.
Dự án có những mục tiêu sau:
- Xác định điều kiện địa chất thuỷ văn, số lượng, chất lượng và khả năng khai thác, sử dụng nước dưới đất của các cấu trúc chứa nước, thành tạo đất đá chứa nước hoặc phức hệ chứa nước lớn và có mức độ tương ứng với bản đồ tỷ lệ 1:50.000 phục vụ cho việc quản lý, quy hoạch, sử dụng và bảo vệ hiệu quả tài nguyên nước dưới đất vùng Bắc sông Tiền.
- Xác định các đặc điểm và đặc trưng cơ bản của các tầng chứa nước; một số đặc điểm của các tầng chứa nước yếu, cách nước chủ yếu thuộc phạm vi điều tra, đánh giá.
- Đánh giá mức độ chứa nước của các tầng chứa nước, khoanh vùng những khu vực có triển vọng khai thác nước dưới đất. Lập bản đồ tài liệu thực tế và bản đồ tài nguyên nước dưới đất.
- Đánh giá trữ lượng tiềm năng và xác định những đặc trưng cơ bản về sự phân bố của chúng trên phạm vi toàn vùng của từng tầng chứa nước chính.
- Đánh giá tính chất vật lý, hàm lượng các thành phần hóa học cơ bản, độ tổng khoáng hóa, loại hình hóa học chủ yếu của nước dưới đất.
- Đánh giá chất lượng nguồn nước dưới đất; lập bản đồ chất lượng nước dưới đất.
- Xác định khả năng có thể khai thác, sử dụng nguồn nước dưới đất của tầng chứa nước cho nhu cầu cấp nước sinh hoạt, sản xuất ở từng khu vực thuộc phạm vi dự án.
- Tạo lập cơ sở dữ liệu tài nguyên nước dưới đất làm cơ sở cho việc lập quy hoạch khai thác sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước; lập bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ 1:50.000 phục vụ công tác quản lý và khai thác thông tin, dữ liệu của các ngành, các địa phương.
- Kết hợp tạo nguồn cấp nước sinh hoạt cho nhân dân ở một số khu vực bố trí giếng khoan điều tra có lưu lượng, chất lượng đáp ứng nhu cầu khai thác.
- Đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất để phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng.
Để thực hiện các mục tiêu trên, các hoạt động chủ yếu của dự án bao gồm:
- Tổng hợp các thông tin, tài liệu hiện có liên quan đến dự án, gồm: các thông tin về địa lý nhân văn, các đề án, dự án, đề tài nghiên cứu điều tra, đánh giá, lập bản đồ địa chất thủy văn trong vùng dự án.
- Khảo sát chi tiết các dạng công tác: khảo sát địa chất thủy văn; khảo sát địa vật lý; công tác khoan ĐCTV; công tác bơm hút nước thí nghiệm; công tác trắc địa; công tác lấy và phân mẫu địa chất; công tác lấy và phân tích mẫu nước; công tác quan trắc động thái nước dưới đất.
Đề án là rất cần thiết nhằm phục vụ việc quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội; đảm bảo an ninh quốc phòng vùng; là tài liệu quan trọng phục vụ trực tiếp cho việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước dưới đất của vùng và các địa phương. Đồng thời các công trình sau khi nghiên cứu xong được chuyển giao cho địa phương khai thác phục vụ kinh tế, dân sinh.

Nêu nguyên tắc phân tầng địa chất thủy văn, và kết quả phân tầng các tầng chứa nước tỉnh Lạng Sơn?

There are no translations available.

Trả lời:
*Nguyên tắc phân tầng địa chất thủy văn
Phân tầng địa chất thuỷ văn cho bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc có mục đích phân chia trên mặt cắt địa chất các đơn vị chứa nước khác nhau, phản ảnh được điều kiện địa chất thuỷ văn khu vực, có ý nghĩa thiết thực trong khoa học và định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên nước dưới đất.
Phân tầng địa chất thuỷ văn vận dụng nguyên tắc địa tầng địa chất kết hợp với nguyên tắc phân chia UNESCO - dựa vào ”dạng tồn tại của nước dưới đất” để phân chia các phân vị địa tầng địa chất thuỷ văn. Khi phân chia chú ý đến 2 đặc điểm chính sau đây:
- Đặc điểm địa chất thuỷ văn: Dạng tồn tại nước dưới đất, mức độ chứa nước, đặc điểm thủy hóa, đặc tính thủy lực, tính chất của nước.
- Đặc điểm địa chất: Tuổi địa tầng, điều kiện và nguồn gốc thành tạo, thành phần đất đá chứa nước.
Theo nguyên tắc phân chia “dạng tồn tại của nước dưới đất”, nước dưới đất tỉnh Lạng Sơn được phân chia theo 3 dạng tồn tại: Tầng chứa nước lỗ hổng, tầng chứa nước khe nứt, tầng chứa nước khe nứt karst.
+ Tầng chứa nước lỗ hổng: gồm các trầm tích tuổi Đệ tứ.
+ Tầng chứa nước khe nứt: gồm các thành tạo lục nguyên, phun trào.
+ Tầng chứa nước khe nứt karst: gồm các thành tạo carbonat.
Đối với bản đồ tỷ lệ 1:200.000 lấy đơn vị “tầng chứa nước” làm đơn vị cơ bản của thang phân tầng địa chất thuỷ văn. Tầng chứa nước có thể cấu tạo từ các vỉa có thành phần thạch học khác nhau. Các thành tạo địa chất rất nghèo nước và không chứa nước là đất đá thực tế không cho nước chảy qua nó, hay là lớp đất đá không thấm nước tương đối. Các phân vị địa chất thuỷ văn được gọi là tầng chứa nước tương ứng với các hệ tầng địa chất trước Holocen và tổ hợp các thành tạo Holocen. Tầng chứa nước là tập hợp các đất đá chứa nước trên mặt cắt địa chất; có tính đồng nhất tương đối về thành phần thạch học, tính chất thủy hóa, động thái, nguồn cấp nước, vận chuyển và thoát.
*Kết quả phân tầng địa chất thủy văn tỉnh Lạng Sơn
Trên bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 tỉnh Lạng Sơn, các phân vị địa tầng địa chất thuỷ văn gồm 1 tầng chứa nước lỗ hổng, 13 tầng chứa nước khe nứt, khe nứt karst và 1 thành tạo địa chất rất nghèo nước:
- Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Đệ Tứ không phân chia (q)
- Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích lục nguyên Neogen (n)
- Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích phun trào hệ tầng Tam Danh (k-e)
- Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích lục nguyên hệ tầng Bản Hang (k)
- Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích phun trào hệ tầng Tam Lung (j-k)
- Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích lục nguyên hệ tầng Hà Cối (j)
- Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích lục nguyên Triat trên (t3)
- Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích lục nguyên xen phun trào Triat giữa (t2)
- Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích lục nguyên xen phun trào Triat dưới (t1)
- Tầng chứa nước karst trong trầm tích carbonat hệ tầng Đồng Đăng (p1-2)
- Tầng chứa nước karst trong trầm tích carbonat hệ tầng Bắc Sơn (c-p)
- Tầng chứa nước karst trong trầm tích carbonat Devon (d)
- Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích lục nguyên xen carbonat Devon dưới (d1)
- Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích biến chất Cambri (ε)

Các tầng chứa nước dưới đất của tỉnh Bắc Ninh có đặc điểm như thế nào ?

There are no translations available.

Trả lời:
1. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh)
Các trầm tích thuộc hệ tầng Thái Bình nguồn gốc sông, lộ ra rải rác khắp tỉnh. Đối với tỉnh Bắc Ninh tầng chứa nước này phân bố không liên tục, những nơi lộ thành tạo cách nước mQ13vp thì tầng chứa nước này vắng mặt. Thành phần thạch học chủ yếu là cát, cát pha màu xám, xám đen có chứa mùn thực vật. Chiều dày của tầng chứa nước biến đổi từ 0 đến 2,0 đến 32,00 m, trung bình 8,1 m. Mức độ chứa nước từ trung bình đến nghèo tùy thuộc chiều dày của chúng. Tầng này thường có mực nước tĩnh nằm nông (cách mặt đất 0,45 đến 8m) và có mặt thoáng tự do, thường xuyên được bổ cập từ nước mưa và nước mặt. Tài liệu hút nước thí nghiệm tại LK.6C4655 có mực nước tĩnh 0,45m, hạ thấp mực nước 6m, lưu lượng 0,6l/s. Động thái của nước phụ thuộc chế độ khí tượng thủy văn. Nguồn nước nhạt của tầng chứa nước này có chất lượng tốt, được nhân dân trong tỉnh khai thác sử dụng.
2. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp)
Tầng chứa nước lỗ hổng có áp Pleistocen (qp) bao gồm đất đá thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc (aQ13 vp) và hệ tầng Hà Nội (aQ12-3 hn) diện tích lộ ra khoảng 43 km2 tại các xã Phượng Mao, Nhân hoà, Việt Thống, Bằng An huyện Quế Võ, còn đa phần bị phủ bởi tầng qh hoặc các lớp sét Vĩnh Phúc. Thành phần là cát, cuội và sạn. Sự phân bố của chúng không đồng đều trên diện tích của tỉnh, phụ thuộc vào bề mặt đá gốc. Nóc tầng thường thay đổi từ 5m đến hơn 20m, đáy tầng sâu nhất đến 75m, chiều dày trung bình 38m. Đây là tầng chứa nước có áp, mực nước tĩnh thường nằm nông, sâu nhất khoảng 4m đôi chỗ bằng và gần bằng mặt đất. Đây là tầng giàu nước, lưu lượng lỗ khoan lớn nhất tới 25,31 l/s tại LK. 6C4550. Hệ số dẫn nước từ 603 đến 2.099m2/ng. Tầng chứa nước này giàu nước có giá trị cung cấp nước và hiện đang được nhân dân trong tỉnh khai thác các khoảnh nước nhạt.
3. Tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng trong trầm tích Neogen (n)
Tầng chứa nước này không lộ trên mặt chỉ phân bố ở huyện Thuận Thành và huyện Lương Tài, ở dải phía tây từ Từ Sơn kéo sang Hà Nội, chiều sâu phân bố từ 50 đến khoảng 280m ( ở Từ Sơn-LK. 6C4642) ( Xem mặt cắt  tuyến (B1 - N1 và B2 - N2). Thành phần gồm cát kết, sét kết sạn kết cuội kết gắn kết yếu. tầng này thuộc loại giàu nước, tài liệu hút nước thí nghiệm tại LK.6C4642 có lưu lượng 7,1l/s. Nước trong tầng vận động dưới dạng áp lực. Nguồn cung cấp nước cho tầng nguồn cung cấp nước cho tầng chủ yếu là nước mưa và nước mặt (sông hồ) thông qua tầng chứa nước trên nó bởi các "Cửa sổ địa chất thuỷ văn”. Nước trong tầng bao gồm cả nước nhạt và nước mặn tổng khoáng hóa từ 0.089  đến 1,67g/l . Loại hình hóa học của nước chuyển dần từ Bicarbonát canci đến Clorua Bicarbonat Canci Natri, nước mặn có loại hình Clorua Natri. Nước trong tầng chứa nước này thường có hàm lượng sắt cao. Tầng chứa nước này có diện phân bố hầu hết trong tỉnh và bị các trầm tích có tuổi hơn phủ kín. Mức độ chứa nước phong phú, chất lượng không đồng đều. Tầng chứa nước này giàu nước có giá trị cung cấp nước.
4. Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích hệ Triat muộn (t3 )
Tầng chứa nước này đa phần bị phủ chỉ lộ ra ở núi Hàm Long, một khoảnh phía Nam đồi Đáp Cầu, phía Đông thị xã Bắc Ninh, xã Vân Dương, xã Phong Châu, huyện Quế Võ, khu huyện lỵ Tiên Sơn và rải rác một số đồi nhỏ phố núi xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, còn lại chìm dưới tầng chứa nước n và qp. Thành phần thạch học là : sạn kết, cuội kết, cát kết lẫn bột kết, đá phiến sét, sét than và đá phun trào gắn kết chặt. Chiều dày trung bình 300 m. Tầng chứa nước này thuộc loại nghèo nước, nhưng mức độ chứa nước không đều cả theo diện và theo chiều sâu; đôi khi gần các đứt gãy có thể gặp lỗ khoan có lưu lượng trung bình nhưng ít gặp. Nước trong tầng báo gồm cả nước nhạt và nước mặn, ở phần lộ thường chứa nước nhạt. Động thái của nước phụ thuộc chế độ khí tượng thủy văn, có lẽ nguồn cung cấp cho tầng chủ yếu là nước mưa. Nhìn chung tầng chứa nước này ít có giá trị cung cấp nước.
5. Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích hệ triat giữa hệ tầng Nà khuất (t2 nk)
Tầng này chỉ lộ ra một chỏm nhỏ khoảng 1km2 thuộc xã Yên Phụ huyện Yên Phong, thành phần chủ yếu là cát kết, bột kết. Tầng có chiều dày 200 m, chưa có lỗ khoan nào nghiên cứu tầng chứa nước này. Dựa vào tài liệu giếng khoan của nhân dân chúng tôi xếp tầng vào loại nghèo nước
6. Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích Péc mi hệ tầng Bãi Cháy (p2)
Chỉ lộ ra phía nam xã Nam Sơn Huyện Quế Võ với diện lộ chừng 0,5 km2 thành phần gồm  Silic, đá phiến silic đặc xít không nứt nẻ, chưa có tài liệu nghiên cứu, dựa vào thành phần thạch học tác giả xếp vào loại nghèo đến cách nước.

Những bài học kinh nghiệm rút ra khi thực hiện dự án Điều tra tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước?

There are no translations available.

Trả lời:
Trong điều kiện thi công dự án gặp rất nhiều khó khăn, do là những vùng núi cao, vùng sâu vùng xa, khó khăn về đặc điểm về địa hình, địa mạo, giao thông, ĐC, ĐCTV… để nâng cao hiệu quả công tác thi công các công trình và tính thiết thực, giá trị sử dụng công trình khai thác nước, trên cơ sở kết quả thi công giai đoạn I dự án đã đúc rút được những kinh nghiệm, cho công tác thi công các đề án tương tự tiếp theo.
* Lựa chọn các vùng điều tra và đối tượng điều tra
- Trên cơ sở yêu cầu của địa phương (cấp tỉnh, có thể là Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Trong quá trình thi công phải có quan hệ chặt chẽ cộng tác, phối hợp với địa phương, nhất là Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh thực hiện dự án.
- Sự khan hiếm và đặc biệt khó khăn về nguồn nước phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt như các vùng: vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số... nơi có nguồn nước mặt bị ô nhiễm, nhiễm mặn…
- Vùng phải có khả năng và tiền đề chứa nước của các thể địa chất, các đứt gãy kiến tạo, hang hốc karst, các khoảnh chứa nước ngọt…
- Các phương pháp kỹ thuật thi công thực địa phải được thực hiện theo trình tự khoa học, kế thừa và hỗ trợ bổ sung cho nhau.
- Trong công tác điều tra, đánh giá nước dưới đất đối tượng chứa nước là các đá trầm tích lục nguyên, đá vôi, mức độ dập vỡ, nứt nẻ, hang hốc karst phát triển mạnh dẫn tới điều kiện ĐCTV là cực kỳ phức tạp, trong các vùng này công tác địa vật lý cần được đầu tư đúng mức về khối lượng và các dạng công tác. Công tác địa vật lý phải được thi công thực địa vào mùa khô, vì mùa mưa điện trở tiếp đất ảnh hưởng rất lớn đến kết quả phân tích.
- Trong vùng chọn tầng có triển vọng nhất để thi công trước, không nên thi công khoan ồ ạt trong cùng một vùng.
Qua thực tế thi công dự án đã tuân thủ và lựa chọn theo nguyên tắc trên là hợp lý, khoa học, theo đúng dự án đã lập.
* Phương pháp, khối lượng điều tra và mức độ đầu tư
- Phương pháp thi công: Qua kết quả thi công đề án cho thấy được về nguyên tắc, trình tự  thi công các phương pháp là hết sức cần thiết. Đối với những vùng chưa có tài liệu về ĐC, ĐCTV thì nhiệm vụ khảo sát ĐC- ĐCTV, công tác địa vật lý là hết sức quan trọng, hai nhiệm vụ này phải được kết hợp chặt chẽ với nhau giữa tài liệu kỹ thuật cũng như quá trình thi công thực địa, tài liệu của hai nhiệm vụ này làm cơ sở chính để xác định vị trí, chiều sâu lỗ khoan địa chất thuỷ văn.
- Trong quá trình thi công các lỗ khoan, kỹ thuật theo dõi phải liên tục có mặt tại hiện trường để đo mực nước xuất hiện trong lỗ khoan và quyết định dừng khoan kịp thời.
- Để giảm thiểu rủi ro trong một vùng không nên thi công ồ ạt các lỗ khoan, thi công lỗ có triển vọng và sâu nhất trước để làm cơ và tiền đề cho các lỗ khoan tiếp theo.
- Khối lượng điều tra và mức độ đầu tư tại mỗi vùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như, tiền đề, đặc điểm về  ĐC, ĐCTV, lượng nước yêu cầu, mua, vận chuyển nước cho khoan…
- Mức độ đầu tư để thực hiện dự án cần được bố trí đúng tiến độ được duyệt để dự án thực hiện liên tục có hiệu quả.
* Chỉ đạo thi công, tổ chức, quản lý sử dụng công trình
- Chỉ đạo thi công: Trong suốt quá trình thi công dự án, đã được sự quan tâm thường xuyên của chuyên viên Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Quản lý tài nguyên nước, Ban Chủ nhiệm dự án, đặc biệt đơn vị chủ trì dự án Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã chỉ đạo chặt chẽ, sát thực trong công tác thi công các công trình ngoài thực địa đều được tính toán cụ thể có tính khép kín, khoa học.
- Trong thời gian thi công thực địa chuyên viên Bộ Tài nguyên và Môi trường, lãnh đạo và các phòng ban chức năng Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã nhiều lần đi kiểm tra thi công, kỹ thuật đồng thời động viên, phát động phong trào thi đua, nhằm nâng cao hiệu quả, năng suất lao động, an toàn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và đúng tiến độ.
Trong điều kiện thi công đề án có rất nhiều khó khăn như ở xa đơn vị, giao thông, khí hậu, đặc điểm ĐC, ĐCTV …để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao thì việc chỉ đạo thi công phải năng động có khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng nghiên cứu, đây cũng là vấn đề hết sức quan trọng để hoàn thành nhiệm vụ và đạt hiệu quả kinh tế.
- Tổ chức thi công
Các đơn vị thi công đã làm tốt công tác tổ chức: chuẩn bị và tập trung nhân lực, kinh tế, thiết bị máy móc tốt nhất để chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao đồng thời đã phát động thi đua và có phần thưởng cho các đơn vị hoàn thành tốt nhịêm vụ, có hiệu quả, an toàn đối với người và thiết bị, có quan hệ tốt đẹp với địa phương và nhân dân nơi đóng quân.
- Quản lý sử dụng công trình
Các lỗ khoan có đủ điều kiện đưa vào khai thác đã được hướng dẫn, bàn giao cho các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và các địa phương khai dẫn phục vụ cho nhu cầu dùng nước của nhân dân.

Phương án khai thác, sử dụng tài nguyên nước tại đảo Trà Bản, tỉnh Quảng Ninh là gì?

There are no translations available.

Trả lời:
1. Phương án khai thác, sử dụng cho các nhu cầu
Ở các điểm dân cư phân tán nguồn nước sử dụng cho ăn uống sinh hoạt khá đa dạng, chủ yếu dùng các giếng đào trong Đệ Tứ, một số giếng trong đới phong hóa của đá gốc, đắp các hồ nhỏ tích nước mưa và nước các khe suối, xây bể chứa nước mưa...ở những nơi tập trung người, trong quá trình điều tra địa chất thủy văn của đảo đã bố trí các công trình khoan máy nhằm đáp ứng trực tiếp các yêu cầu về nước tại các tụ điểm dân cư này.
- Nước sinh hoạt
Việc cung cấp nước cho mục đích sinh hoạt, có thể sử dụng các nguồn nước mặt và nước dưới đất đã được đánh giá trữ lượng và chất lượng. Cụ thể, với nước dưới đất có thể khai thác sử dụng trong các tầng có ý nghĩa cấp nước như : tầng chứa nước q, d1-2, d2. Dự án đã thi công 8 lỗ khoan cấp nước tại vị trí các thôn Đông Lĩnh, Nà Na, Điền Xá, Tân Lập, Cái Tỏi. Các nguồn nước mặt có thể khai thác sử dụng bao gồm: Sông Nà Na, Suối Lòng Rinh, Suối Khe Cầu, Suối Đá Bạc. Bên cạnh đó, có thể xây dựng các bể chứa nước nhỏ để tích trữ lượng nước mưa phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong mùa khô.
- Nước tưới
Nước phục vụ cho nhu cầu tưới có thể sử dụng các nguồn nước mặt bao gồm: Sông Nà Na, Suối Lòng Rinh, Suối Khe Cầu, Suối Đá Bạc
- Nước sản xuất, dịch vụ khác
Nước dưới đất được khai thác cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau như mục đích ăn uống, sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ, chăn nuôi, tưới.... Tuy nhiên trên đảo Trà Bản, nước dưới đất cần được khai thác ưu tiên chủ yếu phục vụ sinh hoạt của người dân và các cơ quan ban ngành của huyện đóng trên đảo.
Tuy nhiên, hiện này trên đảo không có các cơ sở kinh tế công nghiệp, chỉ có một lượng không lớn phục vụ các tàu thuyền đi biển. Với nhu cầu này, có thể sử dụng nguồn nước mưa hoặc nưới dưới đất với quy mô nhỏ lẻ.
2. Phương án khai thác, sử dụng nước mặt
Trên đảo có 4 sông suối chính có dòng chảy thường xuyên và 2 hồ nước ngọt, với tổng lượng nước hàng năm khá lớn, chất lượng nước rất tốt.
Hiện nay, dân cư khai thác nguồn nước mặt phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt chủ yếu bằng hệ thống dây dẫn, ống tre, ống nhựa… từ các khe suối.
Để phục vụ cho nhu cầu tưới tiêu sản xuất nông nghiệp… đảo đã xây dựng 2 hồ ở thôn Điền Xá, tuy nhiên lượng nước hàng năm cũng chưa thực sự sử dụng hiệu quả. Vì vậy cần lập quy trình điều khiển, tự động hóa và vận hành hệ thống đường ống cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt và trồng trọt; đưa ra kế hoạch tưới tiết kiệm và hợp lý.
Để nguồn nước mặt không bị lãng phí và đảm bảo nguồn nước không bị thiếu hụt trong tương lai, dự án đề nghị các cấp ngành quản lý cần xây dựng thêm một số hồ nhỏ nhằm lưu giữ, điều tiết nguồn nước sử dụng tại các thôn Đông Lĩnh và Tân Lập.
3. Phương án khai thác, sử dụng nước dưới đất
Nước dưới đất dự kiến khai thác ở tầng chứa nước d1-2, sau khi hoàn thành thi công 8 lỗ khoan, Dự án dự kiến sơ đồ khai thác bố trí như sau:
+ Cụm 1: lỗ khoan LKTB1, LKTB2, LKTB3 tại thôn Nà Na, Đông Lĩnh.
+ Cụm 2: lỗ khoan LKTB4, LKTB5, LKTB6 tại thôn Điền Xá.
+ Cụm 3: lỗ khoan LKTB7, LKTB8 tại thôn Tân Lập.
+ Cụm 4: lỗ khoan LKTB9 tại thôn Cái Tỏi.
Sau khi tính toán nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và nông nghiệp, dự án đã xác định được nguồn nước mặt trên đảo Trà Bản hoàn toàn đáp ứng được cho sinh hoạt và nông nghiệp sau 25 năm. Tuy nhiên để đảm bảo nguồn nước sạch phục vụ cho sinh hoạt và ăn uống của người dân khi nguồn nước mặt cạn kiệt trong mùa khô thì có thể khai thác nước dưới đất với sơ đồ dự kiến như trên.

Hiện nay đã có những nghiên cứu nào về điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn đô thị Cà Mau?

There are no translations available.

Trả lời:

Các nghiên cứu đã thực hiện trên địa bàn đô thị Cà Mau, gồm:

- Dự án "Lập Bản đồ địa chất thuỷ văn - địa chất công trình Nam Bộ tỷ lệ 1:200.000 được thành lập trên diện tích 54.000 km2 bao trùm toàn bộ diện tích vùng thành phố Cà Mau. Đây là bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ trung bình, phân chia được 6 đơn vị chứa nước (QV, QI-III, QI, N2a, N2b, N1), sơ bộ khoanh định được diện phân bố, mức độ chứa nước, chất lượng nước dưới đất. Trong vùng thành phố Cà Mau đã khoan và kết cấu 2 lỗ khoan 215II-NB (tầng chứa nước n22), 215III-NB (tầng chứa nước n21) và thực hiện bơm hút nước thí nghiệm xác định thông số ĐCTV của 2 tầng chứa nước trên.

- Dự án Điều tra địa chất đô thị Cà Mau, tỷ lệ 1:25.000 được thực hiện năm 1997 trên diện tích 126km2 bao trùm phần trung tâm của thành phố Cà Mau. Dự án đã thi công 4 lỗ khoan thăm dò (CM1, CM2, CM3, CM4) và các dạng công tác kèm theo nghiên cứu trong tầng chứa nước n22. Kết quả nghiên cứu của dự án đã sơ bộ đánh giá đặc điểm nguồn nước dưới đất về diện phân bố, thành phần thạch học, mức độ chứa nước, ...

- Dự án Đánh giá nguồn nước dưới đất vùng thị xã Cà Mau, tỷ lệ 1:50.000 được thực hiện năm 2004 trên diện tích 578km2, bao trùm phần lớn diện tích thành phố Cà Mau. Dự án đã thi công 09 lỗ khoan thăm dò nước dưới đất (07 lỗ khoan nghiên cứu tầng n22; 01 lỗ khoan nghiên cứu tầng n21; 01 lỗ khoan nghiên cứu tầng qp1) và các dạng công tác kèm theo. Các lỗ khoan trên đều tiến hành hút nước thí nghiệm phục vụ xác định các thông số địa chất thủy văn. Kết quả nghiên cứu đã đánh giá khá đầy đủ 4 tầng chứa nước lỗ hổng (qp2-3, qp1, n22, n21), các thành tạo rất nghèo nước về diện phân bố, thành phần thạch học, khả năng chứa nước. Đồng thời cũng phân định được khả năng giàu nghèo của các tầng chứa nước, nghiên cứu tính phân đới thủy hoá, đánh giá chất lượng nước. Đã xác định được tầng chứa nước có triển vọng nhất là tầng Pliocen trên (n22). Trong số 3 tầng chứa nước còn lại là Pleistocen giữa - trên (qp2-3), Pleistocen dưới (qpi) và Pliocen dưới (n21) đã khoanh định được các khoảnh nước nhạt có triển vọng của các tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên (qp2-3) và Pliocen dưới (n21). Thông qua công tác hút nước thí nghiệm và bề dày lớp đất đá chứa nước đã phân định được khoảnh giàu, nghèo của tầng chứa nước Pleistocen dưới.

- Dự án Biên hội - Thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc hoàn thành năm 2018. Trong phạm vi khu vực thực hiện tỉnh Cà Mau không tiến hành các dạng công tác ngoại nghiệp. Trên cơ sở các tài liệu đã thực hiện trước đây, dự án đã tiến hành tổng hợp, chỉnh lý, xử lý thông tin dữ liệu; phân tích, đánh giá về đặc điểm nguồn nước dưới đất, chất lượng, trữ lượng nước dưới đất; biên tập các bản đồ tài nguyên nước dưới đất. Về cơ bản dự án thực hiện ở khu vực Cà Mau không có thêm nội dung nghiên cứu mới về nước dưới đất. Tuy nhiên, đây là nguồn tài liệu tham khảo tin cậy, đầy đủ nhất về nước dưới đất khu vực tỉnh Cà Mau.

Ngoài các dự án trên, hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đang triển khai thực hiện Đề án nghiên cứu, đánh giá việc khai thác, sử dụng nước ngầm và tác động đến vấn đề sụt lún nền đất khu vực Tp. Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất giải pháp khắc phục, giải quyết trước mắt và lâu dài. Kết quả nghiên cứu của Đề án trên là tài liệu thảm khảo chất lượng, tin cậy đối với quá trình thực hiện dự án Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn - giai đoạn 2, đặc biệt là khu vực thực hiện thành phố Cà Mau.