Tue03092021

Last update02:00:00 PM GMT

Điều tra tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước giai đoạn I từ năm 2015-2020, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện

Triển khai thực hiện Quyết định số 264/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 02 tháng 3 năm 2015 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra Quyết định số 602/QĐ-BTNMT về việc giao nhiệm vụ cho các cơ quan tham mưu của Bộ tổ chức triển khai Chương trình, trong đó: Giao Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia xây dựng Dự án số 1: “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước” thuộc Chương trình điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước. Ngày 16 tháng 12 năm 2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra Quyết định số 3058/QĐ-BTNMT Về việc phê duyệt nội dung và dự toán dự án số 1: Điều tra tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước. Trong đó, Giai đoạn 1 (2015-2017) thực hiện tại 237 vùng thuộc 41 tỉnh; Giai đoạn 2 (2018-2020) thực hiện tại 189 vùng thuộc 36 tỉnh.

Điều tra tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước đạt hiệu quả về kinh tế, xã hội mang lại nguồn nước sạch hợp vệ sinh cho những người dân đang khan hiếm nước

Dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước” thuộc Chương trình điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước, giai đoạn I được triển khai thực hiện từ năm 2016 đến năm 2020 với sự nỗ lực cố gắng của tập thể cán bộ công nhân viên, người lao động của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia và các đơn vị trực tiếp tham gia thi công Dự án cùng với sự tham gia phối hợp của nhiều cơ quan và chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên nước dưới đất.

Các vấn đề về tài nguyên nước dưới đất ở đô thị Cà Mau

Cà Mau là tỉnh ven biển cực Nam của Việt Nam thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long với 3 mặt tiếp giáp biển, có nền kinh tế sản xuất nông nghiệp và thủy sản là chủ yếu. Tỉnh Cà Mau có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm TP. Cà Mau và các huyện: Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình, Phú Tân, Cái Nước, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển. Vì vậy các vấn đề về tài nguyên nước dưới ở đô thị Cà Mau có những đặc điểm sau:
a. Cạn kiệt và nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất
Theo số liệu tại các công trình quan trắc động thái nước dưới đất khu vực thành phố Cà Mau cho thấy:
+ Tầng qp2-3: mực nước quan trắc tại công trình Q188020 (phường 5, Tp. Cà Mau) từ năm 2004 đến năm 2015 giảm tổng cộng khoảng 5,1m, tương ứng với tốc độ hạ thấp mực nước 0,46m/năm.
+ Tầng qpi: mực nước quan trắc tại công trình Q188030 (phường 5, Tp. Cà
Mau) từ năm 2004 đến năm 2009 giảm tổng cộng khoảng 4,3m, tương ứng với tốc độ hạ thấp mực nước 0,86m/năm (xem Hình II.5).
+ Tầng n22: mực nước quan trắc tại công trình Q17704T (phường 9, Tp. Cà Mau) từ năm 2004 đến năm 2015 giảm tổng cộng khoảng 8,7m, tương ứng với tốc độ hạ thấp mực nước 0,79m/năm.
2a-17-1Biểu đồ diễn biến mực nước tầng chứa nước n22
+ Tầng m1: mực nước quan trắc tại công trình Q17704Z (phường 9, Tp. Cà Mau) từ năm 2004 đến năm 2011 giảm tổng cộng khoảng 7,0m, tương ứng với tốc độ hạ thấp mực nước 1,0m/năm (xem Hình II.7).
2a-17-2Biểu đồ diễn biến mực nước tầng chứa nước n21
b. Ô nhiễm nước dưới đất
Theo các kết quả nghiên cứu ở giai đoạn trước cho thấy, nước dưới đất ở khu vực thành phố Cà Mau chủ yếu ô nhiễm hợp chất Nitơ (NH4+, NO2-, NO3') dưới dạng điểm ô nhiễm cục bộ.
c. Nhiễm mặn nước dưới đất
Không kể các tầng chứa nước qh, qp3 và n13 bị mặn hoàn toàn, khu vực thành phố Cà Mau tồn tại ranh giới mặn - nhạt của 3 tầng chứa nước qp2-3, qp1, m1. Riêng tầng chứa nước n22 trong vùng nhạt hoàn toàn, ranh giới mặn nhạt gần nhất của tầng nằm ở phía nam và cách thành phố khoảng 3km thuộc phạm vi mở rộng vùng nghiên cứu.
d. Sụt, lún nền đất
Theo báo cáo kết quả sơ bộ của Viện Địa kỹ thuật Na Uy (NGI) cho thấy ở tỉnh Cà Mau có thể bị sụt lún nghiêm trọng từ trên bề mặt xuất phát từ hoạt động khai thác nước ngầm của 109.096 giếng với tổng lưu lượng khoảng 373.000m3/ngày đêm. Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ sụt lún từ 1,56 - 2,30cm/năm. Nghiên cứu của NGI cũng chỉ ra, trong vòng 15 năm (1998-2013), tốc độ sụt lún mặt đất từ 30-80cm và theo dự báo trong vòng 25 năm tới, tốc độ sụt lún sẽ tăng lên 90-150cm và 210cm trong vòng 50 năm tới. Theo kết quả nghiên cứu năm 2016 của Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Nam (thuộc Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam) cho thấy, nơi sụt lún sâu nhất ở Cà Mau đo được là 1,71cm/năm, sụt lún trung bình do khai thác nước ở Cà Mau khoảng 0,35cm/năm. Kết quả nghiên cứu cũng xác định có 3 nguyên nhân gây nên sụt lún mặt đất gồm sụt lún cấu kết do trầm tích trẻ, do khai thác nước và do chuyển động kiến tạo.
II.2. Nội dung, phương pháp điều tra, đánh giá và bảo vệ nước dưới đất
Để xác định được các nội dung, phương pháp thực hiện Đề án, trước hết cần thống nhất các quan điểm và nguyên tắc chính sau :
- Bảo vệ nước dưới đất chính là áp dụng các giải pháp nhằm phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu sự cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn.
Bảo vệ nước dưới đất không phải chỉ bảo vệ tài nguyên nước dưới đất phân bố trong phạm vi hành chính của đô thị mà phải bảo vệ cả miền cấp, miền phân bố và khu vực khai thác.
- Bảo vệ nước dưới đất phải lấy phòng ngừa là chính, kết hợp với việc khắc phục, hạn chế ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt nguồn nước dưới đất.
Cách tiếp cận chính để xây dựng được các nội dung, phương pháp thực hiện đề án là: Muốn bảo vệ được nước dưới đất khỏi bị cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn thì phải hiểu rõ sự tồn tại, phân bố của nó; khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước; các tác động gây tổn thương cho nước dưới đất; đánh giá mức độ cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất; từ đó mới đưa ra và thực hiện các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ.

Cần thiết phải bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn - Đô thị Cà Mau

Cà Mau là tỉnh ven biển cực Nam của Việt Nam thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long với 3 mặt tiếp giáp biển, có nền kinh tế sản xuất nông nghiệp và thủy sản là chủ yếu. Tỉnh Cà Mau có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm TP. Cà Mau và các huyện: Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình, Phú Tân, Cái Nước, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển.

Nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí lựa chọn nguồn và điểm phân bổ nguồn nước phục vụ quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh, những mục tiêu và nội dung cần nghiên cứu của đề tài

Khi tiến hành lập quy hoạch tài nguyên nước thì điều đầu tiên là cần xác định cụ thể những nguồn nước nào đã, đang và sẽ được sử dụng - đối tượng của quy hoạch tài nguyên nước. Tiếp đến, với mỗi nguồn nước đó cần phải được xác định cụ thể phạm vi về không gian để có thể xem xét và đánh giá toàn diện. Thực tế hiện nay, trong triển khai các quy hoạch tài nguyên nước, cả hai vấn đề trên thường chưa rõ ràng và chưa được quan tâm xem xét, mặc dù đây là những bước đầu tiên, quan trọng của mỗi nhiệm vụ quy hoạch tài nguyên nước. Rõ ràng, để chọn lựa được nguồn nước và phạm vi sẽ cần đến các tiêu chí, chỉ số cũng như những chỉ dẫn cần thiết cho ứng dụng thực tế.

Những tồn tại của việc nghiên cứu xâm nhập mặn ở nước ta và đặt ra những nội dung cần nghiên cứu của đề tài nghiên cứu các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất đồng bằng sông Cửu Long

Trước đây và hiện nay vấn đề ô nhiễm nước dưới đất đã và đang được các nhà khoa học ở Việt Nam đặc biệt quan tâm, đã có rất nhiều đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về vấn đề này. Nhiễm mặn, xâm nhập mặn là trường hợp riêng của ô nhiễm nước dưới đất, trong đó muối là chất gây ô nhiễm. Xâm nhập mặn nước dưới đất xảy ra ở các vùng đồng bằng ven biển, dải cồn cát ven biển và các hải đảo… do tác động của con người và các yếu tố biến đổi tự nhiên của môi trường. Những năm 60 của thế kỷ trước, khi tăng công suất khai thác nước dưới đất từ 80.000m3/ng lên 160.000m3/ng ở TP. Hồ Chí Minh thì nước mặn đã xâm nhập vào đến gần 20km, sau đó đã phải chuyển sang khai thác nước mặt. Sau gần 20 năm ngừng khai thác nước dưới đất, ranh giới mặn-nhạt mới chỉ dịch chuyển ra khoảng 2km.
Hiện tượng xâm nhập mặn của Đồng bằng sông Cửu Long vào mùa khô, ảnh hưởng không chỉ đến sản xuất nông nghiệp mà còn cấp nước sinh hoạt và đời sống cho hàng triệu người dân ven biển. Trong điều kiện phát triển cả ở thượng lưu và nội tại Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, cộng với tác động của biến đổi khí hậu-nước biển dâng, xâm nhập mặn ngày càng trở nên phức tạp hơn, khó giải quyết hơn, nên rất cần xem xét kỹ nguyên nhân để tìm ra một giải pháp cơ bản cho vấn đề này.
Qua các công bố khoa học, rõ ràng bài toán xâm nhập mặn nước dưới đất không thể giải quyết tốt bằng một phương pháp đơn lẻ mà cần phải sử dụng kết hợp các phương pháp khác nhau để nghiên cứu.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu xâm nhập mặn thường được kết hợp trong các báo cáo đánh giá tài nguyên nước dưới đất, chủ yếu là điều tra, khảo sát xác định ranh giới mặn-nhạt với ranh giới là tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (TDS) = 1g/l và tính toán thời gian, tốc độ dịch chuyển ranh giới trên cơ sở điều kiện địa chất thủy văn của vùng nghiên cứu với lưu lượng khai thác yêu cầu. Mặt khác, các nghiên cứu cũng đưa ra cảnh báo về khả năng xâm nhập mặn vào các công trình khai thác. Tổng hợp các công trình nghiên cứu có thể phân thành 4 nhóm phương pháp nghiên cứu chính được các nhà khoa học trong nước áp dụng bao gồm:
+ Nhóm phương pháp thủy địa hóa/thủy động lực;
+ Nhóm phương pháp đồng vị;
+ Nhóm phương pháp địa vật lý;
+ Nhóm phương pháp mô hình số.
Mục tiêu các công trình nghiên cứu hiện trạng mặn-nhạt, xâm nhập mặn nước dưới đất ở Việt Nam đã giải quyết được có đặc điểm như sau:
- Việc xác định ranh giới mặn-nhạt chủ yếu được xác định từ các kết quả xác định TDS của mẫu nước được lấy trong quá trình khảo sát và ở những nơi không có các lỗ khoan khảo sát thì được xác định theo kết quả khảo sát địa vật lý.
- Việc dự báo sự dịch chuyển của ranh giới mặn-nhạt thường được tiến hành theo các kịch bản tùy theo các tác giả đề xuất mà không chú ý toàn diện đến các biến đổi của các yếu tố do tác động của phát triển kinh tế xã hội như: ý đồ quy hoạch mạng lưới khai thác nước, khai thác khoáng sản, xây dựng các công trình ngầm, các công trình thủy lợi, chế độ tưới, quá trình đô thị hóa v.v. Chính vì vậy, các dự báo đó mang tính tham khảo nhiều và không hấp dẫn các nhà quản lý.
- Xâm nhập mặn các thể chứa nước, tầng chứa nước, các thấu kính nước nhạt là những quá trình hóa - lý - sinh trong khoảng thời gian khá dài và chịu tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, nhân tạo nhưng lại không được chú ý và có các lý giải khoa học một cách sâu sắc, nên các nghiên cứu còn thiếu tính định lượng. Bên cạnh đó, áp dụng phương pháp đồng vị trong nghiên cứu mặn nhạt ở nước ta hiện nay đang còn mới mẻ do điều kiện áp dụng cũng như khả năng phân tích và áp dụng còn chưa được phổ biến, có rất ít công trình nghiên cứu áp dụng.
Từ đó xác định được các nội dung chính cần nghiên cứu trong đề tài bao gồm:
Tổng quan các kết quả nghiên cứu xâm nhập mặn và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất trên thế giới và Việt Nam;
Nghiên cứu phân tích các đặc điểm tự nhiên, địa chất, địa chất thuỷ văn, hiện trạng nhiễm mặn các tầng chứa nước và các vấn đề liên quan đến xâm nhập mặn nước nước đất vùng đồng bằng sông Cửu Long;
Nghiên cứu phân tích, đánh giá xác định các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất vùng đồng bằng sông Cửu Long;
Nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất vùng bán đảo Cà Mau;
Nghiên cứu lựa chọn và đề xuất các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất và giải pháp khai thác hạn chế xâm nhập mặn nước dưới đất vùng đồng bằng Sông Cửu Long;