Sat02272021

Last update05:41:13 AM GMT

Xây dựng mô hình thí điểm công nghệ lưu trữ nước ngọt trong tầng chứa nước mặn vùng Đồng bằng Sông Hồng

Trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc địa chất thủy văn và đặc điểm phân bố nước mặn trong các tầng chứa nước ở vùng đồng bằng sông Hồng. Đề tài lựa chọn 1 khu vực thuận lợi nhất có các điều kiện sau:
+ Thuận lợi về nguồn nước mặt để bổ sung tích trữ trong tầng chứa nước;
+ Khu vực phân bố tầng chứa nước mặn và có độ tổng khoáng hóa phù hợp với công nghệ lựa chọn;
+ Thuận lợi về vị trí bố trí công trình thử nghiệm (có diện tích mặt bằng đất để thi công công trình thử nghiệm)
+ Khu vực có nhu cầu cao sử dụng nước dưới đất trong khi nước dưới đất đang bị mặn.
Kết quả điều tra khảo sát sơ bộ cho thấy toàn bộ nước dưới đất ở khu vực dự kiến áp dụng thử nghiệm đều bị mặn, không thể khai thác sử dụng. Nhu cầu sử dụng nước sạch để ăn uống sinh hoạt và sản xuất của người dân ở đây hết sức cấp thiết. Chính vì vậy để giải quyết nhu cầu này, chính quyền địa phương đã nhất trí tạo điều kiện thuận lợi về nguồn nước mặt trên hệ thống kênh mương nội đồng thuộc địa phận xã Chính Đức, huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên để triển khai thực hiện xây dựng thí điểm mô hình thử nghiệm. Đơn vị doanh nghiệp Công ty TNHH nước sạch Ngọc Tuấn NAGAOKA đã nhất trí tạo điều kiện để triển khai xây dựng thí điểm mô hình lưu trữ nước ngọt trong tầng chứa nước mặn trong khuôn viên đất rộng 16.000m2 do Công ty quản lý.
- Nghiên cứu khảo sát, đo địa vật lý để có bộ số liệu nền về cấu trúc địa chất - địa chất thủy văn, ranh giới mặn nhạt của khu vực thử nghiệm và thông số đầu vào về nhiễm mặn nước dưới đất.
- Xây dựng mô hình dòng chảy nước dưới đất và mô hình lan truyền vật chất để dự báo khả năng hòa trộn nước mặt với nước dưới đất với các kịch bản nước dưới đất có độ tổng khoáng hóa khác nhau để thiết kế xây dựng mô hình công nghệ tích trữ nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn một cách hiệu quả.
- Thiết kế và mô hình thí điểm công nghệ lưu trữ nước ngọt trong tầng chứa nước mặn.
+ Thiết kế và xây dựng hệ thống công trình bổ sung nước ngọt tích trữ trong tầng chứa nước mặn. Sơ đồ công nghệ như sau:
2a-11Hình. 1. Sơ đồ dây chuyền công nghệ bổ sung nước ngọt tích trữ trong tầng chứa nước mặn
2a-11-2Hình. 2. Sơ đồ hệ thống công nghệ bổ sung tích trữ nước dưới đất
Hệ thống công trình bổ sung nước ngọt tích trữ trong tầng chứa nước mặn gồm:
+ Bể lắng sơ bộ có vách ngăn kích thước: dài 6m, rộng 3m và sâu 2,5m. Nước sau khi được lắng sơ bộ sẽ chảy sang bể lọc nhanh trọng lực.
+ Bể lọc nhanh trọng lực có kích thước: dài 6m, rộng 3m và sâu 2m. Ở đây nước mặt được lọc qua hệ thống lọc ngược rồi chảy vào hệ thống kênh dẫn vào 3 bồn thấm có các lỗ khoan hấp phụ nước.
+ 3 bồn thấm chứa các vật liệu lọc và 3 lỗ khoan hấp phụ nước đường kính 219mm đặt trong bồn thấm; mỗi lỗ khoan hấp phụ nước sâu 50m. Bồn thấm có kích thước: dài 1m, rộng 1m và sâu 2,5m. Nước từ bể lọc nhanh trọng lực qua hệ thống kênh dẫn tự chảy vào bồn thấm lọc và qua 3 lỗ khoan hấp phụ nước chảy xuống tầng chứa nước.
+ 1 lỗ khoan khai thác nước đường kính 219mm, chiều sâu 50m, kết cấu ống chống, ống lọc đục lỗ quấn lưới, ống lắng bằng thép. Lỗ khoan này ngoài mục đích dùng để khai thác nước, trong giai đoạn đầu bổ sung tích trữ nước sẽ bơm hút nước mặn để thau rửa nước của tầng chứa nước.
+ Hệ thống kênh dẫn nước từ bể lắng nhanh trọng lực đến  bồn thấm chứa lỗ khoan hấp phụ nước chiều dài kênh kênh 20m, rộng 1m và sâu 1,5m.
+ 2 máy bơm (một máy bơm hút nươc và một máy bơm ép nước) công suất lớn phù hợp với lưu lượng nước ngầm và hệ thống dây điện, tủ điện, ống dẫn nước để bơm nước về khu xử lý cấp nước sạch.
- Thí nghiệm hút nước thí nghiệm nhằm xác định độ lỗ rỗng hữu hiệu và hệ số đặc tính phân tán thuỷ lực của tầng chứa nước phục vụ các tính toán và mô hình thuỷ động lực và lan truyền mặn trong tầng chứa nước mặn;
- Thí nghiệm ép nước nhằm mục đích xác định khả năng hấp thu của lỗ khoan hấp thụ của tầng chứa nước. phục vụ các tính toán và mô hình thuỷ động lực và lan truyền mặn trong tầng chứa nước mặn.
- Sử dụng phương pháp địa vật lý để quan trắc, giám sát phạm vi và quy mô của kho nước nhạt được lưu theo thời gian.
- Ứng dụng kỹ thuật đồng vị để nghiên cứu con đường di chuyển của nước được bổ sung trong kho lưu trữ nước ngọt để có chế độ khai thác phù hợp đảm bảo phát triển bền vững, lâu dài nguồn nước ngọt này.
- Đánh giá hiệu quả mô hình công nghệ lưu trữ nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn tại vùng thử nghiệm.

Mục tiêu và những vấn đề cần nghiên cứu quy trình công nghệ tích nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn vùng Đồng bằng Sông Hồng

Nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, vùng đồng bằng có những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế. Vùng Đồng bằng sông Hồng đang được xem là vùng quan trọng tiềm ẩn nhiều triển vọng phát triển các ngành kinh tế tiến tới xây dựng nền kinh tế biển vững mạnh. Chính vì các lý do trên mà nhu cầu về nước cho dân sinh và cho phát triển kinh tế rất lớn. Song thực tế lại đang tồn tại trữ lượng nước nhạt vùng Đồng bằng sông Hồng lại đang có nguy cơ giảm sút do sự xâm nhập mặn. Nhiều nước trên thế giới đã phải nghiên cứu công nghệ điều chế nước biển thành nước nhạt để ăn uống mặc dù giá thành rất cao.

Cần phải có một bộ công cụ hỗ trợ hữu hiệu gồm cơ sở dữ liệu chứa đựng các số liệu liên quan tích hợp với các công cụ đánh giá tài nguyên nước, đất

Trong nhiều năm trở lại đây, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã và đang phải chịu những ảnh hưởng ngày càng nặng nề của các hiện tượng cực đoan như hạn hán, xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu, El Nino, nước biển dâng… Các hiện tượng này tác động mạnh mẽ đến cuộc sống cũng như các hoạt động sản suất và sinh hoạt của người dân nơi đây. Biểu hiện rõ rệt nhất của các tác động này là sự gia tăng (cả về cường độ, diện tích xảy ra và thời gian xuất hiện) hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn gây nên các khó khăn trong việc cấp nước sinh hoạt – sản xuất, làm sụt giảm sản lượng sản lượng lúa nước, nuôi trồng thủy sản tài và cũng tác động tới tài nguyên nước, tài nguyên đất trong vùng.

Tình hình nghiên cứu xây dựng bộ công cụ tích hợp đánh giá tài nguyên nước và đất phục vụ Quy hoạch tổng thể ở trong nước và trên thế giới

Đánh giá hiện trạng và biến động tài nguyên là một trong những nội dung quan trọng, cần thiết trong công tác quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên (nước, đất) và trong các quy hoạch tổng thể phát triển một khu vực. Trong lĩnh vực tài nguyên nước, việc đánh giá này thường được thực hiện bằng các mô hình số thủy văn, thủy lực (đối với nước mặt) và nước dưới đất.

Sự cần thiết của dự án Tăng cường năng lực bảo vệ tài nguyên nước ngầm pha II tại Việt Nam

Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích khoảng gần 3.9 triệu ha, 17 triệu dân cư là khu vực nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam. Khu vực này cung cấp trên một nửa sản lượng gạo quốc gia và phần lớn được mang đi xuất khẩu. Do vậy, khu vực này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Ngoài ra, đây còn là nơi ngành nghề nuôi trồng thủy sản đang phát triển nhanh chóng.

Các tài liệu thu thập được khi thực hiện quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình

1.  Báo cáo tài nguyên nước, kiểm kê tài nguyên nước:
- Đối với tài liệu đánh giá tài nguyên nước đối với các vùng thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình: Đã thu thập các báo cáo đánh giá tài nguyên nước vùng đồng bằng sông Hồng và trên toàn lưu vực sông Hồng, cụ thể:
+ Báo cáo Hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình (Hợp phần dự án: Hỗ trợ kỹ thuật tăng cường năng lực quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông)
+ Báo cáo đánh giá hiện trạng ngành nước Việt Nam (ADB, 2009)
+ Báo cáo đánh giá tài nguyên nước của dự án “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng thủ đô Hà Nội”
+ Báo cáo đánh giá tài nguyên nước thuộc dự án: “Quy hoạch thủy lợi vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng”.
+ Báo cáo thủy văn, thủy lực thuộc dự án: “Quy hoạch tổng hợp sử dụng nguồn nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình”.
+ Báo cáo đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông Chảy thuộc dự án: “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông Lô – Gâm tỷ lệ 1;100.000”.
- Đối với các tỉnh: Hiện nay, hầu hết các tỉnh chưa thực hiện việc điều tra đánh giá tài nguyên nước và kiểm kê tài nguyên nước. Các tài liệu về đánh giá tài nguyên nước chủ yếu nằm trong các Quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh đã thực hiện. (19/25 tỉnh đã thực hiện quy hoạch tài nguyên nước, 06 tỉnh, thành phố gồm: TP Hà Nội, tỉnh Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hòa Bình, Lai Châu chưa thực hiện).
2. Số liệu khí tượng:
- Đã thu thập được số liệu mưa ngày của 290 trạm đo mưa từ năm 1990 đến năm 2017 trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình, trong đó: 159 trạm đo mưa trên lưu vực đồng bằng sông Hồng – Thái Bình và phụ cận; 51 trạm đo mưa trên lưu vực sông Đà và phụ cận; 50 trạm đo mưa trên lưu vực sông Lô – Gâm và phụ cận; 30 trạm đo mưa trên lưu vực sông Thao và phụ cận;
- Đã thu thập được số liệu bốc hơi từ năm 1990 đến năm 2017 của 73 trạm trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình và phụ cận.
2a-6Bản Đồ Lưới Trạm Khí Tượng, Đo Mưa Thu Thập
3. Số liệu thủy văn, tài nguyên nước:
- Đã thu thập được số liệu mực nước từ năm 1990 đến 2017 của 97 trạm thủy văn trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình và phụ cận;
- Đã thu thập được số liệu lưu lượng từ năm 1990 đến năm 2017 của 67 trạm thủy văn trên lưu sông Hồng – Thái Bình và vùng phụ cận, trong đó: 29 trạm thủy văn trên lưu vực đồng bằng sông Hồng – Thái Bình và phụ cận; 13 trạm thủy văn trên lưu vực sông Đà và phụ cận; 16 trạm thủy văn trên lưu vực sông Lô – Gâm và phụ cận; 9 trạm thủy văn trên lưu vực sông Thao và phụ cận.
4. Số liệu chất lượng nước:
a) Đối với nước mặt:
Đã thu thập đầy đủ số liệu từ năm 2012 đến năm 2017 của 124 trạm đo chất lượng nước trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình. Số liệu chất lượng nước bao gồm các trạm quan trắc quốc gia và tại các địa phương thuộc lưu vực
b) Đối với nước dưới đất:
Đã thu thập được kết quả phân tích chất lượng nước của các tầng chứa nước chính tại 25 tỉnh/thành phố trên lưu vực, cụ thể như sau:
- Khu vực Đông bắc bộ: thu thập được kết quả phân tích của 1.547 mẫu nước toàn diện, 158 mẫu vi sinh và 257 mẫu vi lượng tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Quảng Ninh;
- Khu vực Tây bắc bộ: thu thập được kết quả phân tích của 178 mẫu nước toàn diện, 12 mẫu vi sinh và 40 mẫu vi lượng tại các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình và Phú Thọ;
- Khu vực đồng bằng sông Hồng: thu thập được kết quả lấy và phân tích 2371 mẫu toàn diện, 276 mẫu vi lượng, 24 mẫu nhiễm bẩn, 4 mẫu vi sinh và các kết quả phân tích mẫu của đề án: Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – đô thị Hà Nội và tại các lỗ khoan quan trắc trên địa bàn Vùng thủ đô.
Như vậy, khu vực Tây bắc bộ lượng mẫu thu thập được tương đối ít, đặc biệt một số tỉnh như Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình và Phú Thọ, lượng mẫu thu thấp được rất ít, thời điểm lấy mẫu từ những năm 2000 do đó để đánh giá chi tiết chất lượng nước trong các tầng chứa nước chính của khu vực Tây bắc bộ cần bổ sung lượng mẫu lấy tại khu vực này. Vùng đồng bằng sông Hồng, lượng mẫu thu thập được khá phong phú, chủ yếu được lấy từ các dự án: Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – đô thị Hà Nội; Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng thủ đô Hà Nội nên chất lượng mẫu nước mới và đáp ứng được yêu cầu cho công tác đánh giá và phân vùng, phân loại chất lượng nước dưới đất.
5. Bản đồ địa chất thủy văn:
Bản đồ ĐCTV, bản đồ TNN dưới đất tỷ lệ 1/200.000: Đã thu thập được toàn bộ 25 tỉnh/thành thuộc lưu vực từ dự án Biên hội-thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc và các dự án khác đã thực hiện bao gồm: Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Cạn, Điện Biên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Hải Dương, Hà Nam, Hòa Bình, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Quảng Ninh, Hải Phòng, diện tích nghiên cứu, lập bản đồ là 88.860 km2, chiếm 100% diện tích lưu vực;
Bản đồ ĐCTV, bản đồ TNN dưới đất tỷ lệ 1/50.000, dã thu thập được bản đồ DCTV, Bản đồ tài nguyên nước dưới đất của 07 tỉnh thuộc dự án: Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng thủ đô Hà Nội và các dự án/đề án đã thực hiện. Tổng diện tích nghiên cứu, lập bản đồ là 18.115 km2, chiếm 20,54% diện tích lưu vực, tuy nhiên mức độ nghiên cứu không đồng nhất giữa các vùng, vùng có diện tích được nghiên cứu nhiều nhất là vùng đồng bằng Bắc bộ, ít nhất là vùng Tây bắc bộ, cụ thể như au:
+ Vùng đồng bằng Bắc bộ với tổng diện tích nghiên cứu 13.075 km2, đạt 88,0% diện tích vùng;
+ Vùng Đông bắc bộ: diện tích nghiên cứu là 2.128 km2, đạt tỷ lệ 5,88% diện tích vùng;
+ Vùng Tây bắc bộ: diện tích nghiên cứu là 458,0 km2, đạt tỷ lệ 1,23% diện tích vùng;
Bản đồ ĐCTV, bản đồ TNN dưới đất tỷ lệ 1/25.000, tổng diện tích nghiên cứu, lập bản đồ là 8.149,9 km2, chiếm 9,24% diện tích lưu vực, tuy nhiên mức độ nghiên cứu không đồng nhất giữa các vùng, vùng có diện tích được nghiên cứu nhiều nhất là vùng đồng bằng Bắc bộ, ít nhất là vùng Tây bắc bộ, cụ thể như sau:
+ Vùng đồng bằng Bắc bộ với tổng diện tích nghiên cứu 5.795,5 km2, đạt 39,01% diện tích vùng;
+ Vùng Đông bắc bộ: diện tích nghiên cứu là 1.849 km2, đạt tỷ lệ 5,11% diện tích vùng;
+ Vùng Tây bắc bộ: diện tích nghiên cứu là 460 km2, đạt tỷ lệ 1,24% diện tích vùng;
Kết quả tổng hợp trên cho thấy, với bản đồ ĐCTV tỷ lệ 1/200.000 (phù hợp với tỷ lệ bản đồ của quy hoạch) đã được thực hiện trên toàn bộ 25/25 tỉnh/thành trong lưu vực, phương pháp thành lập mới, số liệu phục vụ biên tập bản đồ đã được cập nhật do đó đáp ứng tốt cho công tác đánh giá tiềm năng nguồn nước dưới đất trên lưu vực. Đồng thời với tỷ lệ bản đồ nghiên cứu ở tỷ lệ 1/50.000 và 1/25.000 đã được thực hiện với mức độ lần lượt là 88% và 39,01% tại khu vực đồng bằng sông Hồng là đủ cơ sở để thiết lập mô hình dòng chảy nước dưới đất phục vụ tính toán, dự báo tài nguyên nước dưới đất tại khu vực đồng bằng này.
Đối với nội dung bảo vệ tài nguyên nước dưới đất và phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra:
- Đã thu thập được kết quả thực hiện của Đề án Chính phủ: Bảo vệ nước dưới đất tại các đô thị lớn - Đô thị Hà Nội, Hải Dương và Thái Nguyên do Trung tâm thực hiện.
- Kết quả đo mực nước nước, mực nước hạ thấp và quan trắc độ lún nền mặt đất tại 10 trạm đo lún trên địa bàn TP. Hà Nội do Viện Khoa học Công nghệ và Kinh tế Xây dựng Hà Nội (thuộc Sở Xây dựng Hà Nội) thực hiện, thời gian đo từ năm 2001, 2003 đến năm 2006
- Đã thu thập được kết quả thực hiện năm 2018 của dự án: Xác định, khoanh vùng phễu hạ thấp mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước thành phố Hà Nội. Kết quả chính thu thập được bao gồm:
+ Nội dung phân tích, đánh giá xác định, khoanh vùng phạm vi và đánh giá diễn biến các phễu hạ thấp mực nước;
+ Các bản đồ hiện trạng mực nước tỷ lệ 1/25.000 cho các tầng chứa nước qh và qp;
+ 26 tờ bản đồ tỷ lệ 1/25.000 khoanh vùng, phạm vi phễu hạ thấp mực nước và khu vực khai thác nước dưới đất vượt quá ngưỡng giới hạn tại thời điểm tháng 4 các năm từ 1991 đến 2016 và 26 tờ bản đồ tỷ lệ 1/25.000 tại thời điểm tháng 9 các năm từ 1991 đến 2016.
- Kết quả thực hiện của dự án điều tra, đánh giá khả năng tự bảo vệ các tầng chứa nước vùng duyên hải đồng bằng bắc bộ (các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình) do Trung tâm thực hiện năm 2018.
6. Kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước
a) Đối với nước mặt
- Đã thu thập các kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước dự án: “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông Lô – Gâm tỷ lệ 1:100.000” (đã thực hiện điều tra hết lưu vực sông Chảy (Tỉnh Hà Giang (3 huyện): Xín Mần, Hoàng Su Phì và Quang Bình, Tỉnh Lào Cai (4 huyện): Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Thắng và Bảo Yên, Tỉnh Tuyên Quang (1 huyện): Yên Sơn, Tỉnh Yên Bái (2 huyện): Lục Yên và Yên Bình, Tỉnh Phú Thọ (2 huyện): Hạ Hòa và Đoan Hùng) với diện tích điều tra đánh giá là 4.580 km2.
+ Đã thu thập các kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt của dự án: “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng thủ đô Hà Nội”, gồm 07 tỉnh: Hà Nội, Hà Nam, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hòa Bình với tổng diện tích đã điều tra đánh giá tài nguyên nước mặt là 13.436 km2.
b) Đối với nước dưới đất
Đã thu thập được các Báo cáo đánh giá, tìm kiếm nguồn nước dưới đất từ các dự án/đề án đã thực hiện tại các tỉnh, cụ thể như sau:
- Vùng Tây bắc bộ: thu thập được các báo cáo đánh giá nguồn nước dưới đất của vùng Mộc Châu (Sơn La), đô thị Sơn La, đô thị Lào Cai, vùng Yên Thủy (Hòa Bình), Lương Sơn (Hòa Bình).
- Vùng Đông bắc bộ: thu thập được các báo cáo đánh giá nguồn nước dưới đất của vùng Phả Lại – Đông Triều (Quảng Ninh), Uông Bí – Bãi Cháy (Quảng Ninh), Thăm dò nước dưới đấtt TX. Tuyên Quang, huyện Mèo Vạc (Hà Giang), vùng Trại Cau, Phổ Yên và vùng Đồng Bẩm tỉnh Thái Nguyên, vùng Bãi Bằng – Lâm Thao tỉnh Phú Thọ.
- Vùng đồng bằng sông Hồng: thu thập được báo cáo đánh giá tài nguyên nước của 07 tỉnh/thành: Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam và Hòa Bình từ dự án: Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng Thủ đô Hà Nội, ngoài ra còn thu thập được các báo cáo tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các khu vực như: vùng Quất Lưu-Đạo Tú, Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc; vùng Kim Anh – Chèm, Ba Vì, Phú Xuyên, Sơn Tây, Đa Phúc, Hà Đông, TP. Hà Nội; vùng Từ Sơn-Bắc Ninh, Đáp Cầu, tỉnh Bắc Ninh; vùng Hưng Yên, Khoái Châu, Ân Thi, Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; vùng tỉnh Thái Bình; vùng Kiện Khê-Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vùng Tam Điệp, Rịa, Thiên Tôn, Đồng Giao, tỉnh Ninh Bình; vùng Nam Sách, tỉnh Hải Dương;