Sun04052020

Last update03:14:50 AM GMT

Áp dụng công nghệ xử lý nước thải tiên tiến để giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Ông Hà Văn Hải, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (Sở Công Thương Thái Bình) cho biết: Trung tâm đã xây dựng mô hình công nghệ xử lý nước thải tiên tiến và áp dụng công nghệ này tại Xí nghiệp Dệt may Nam Thành (Cụm công nghiệp làng nghề dệt xã Phương La, huyện Hưng Hà), góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Mô hình xử lý nước thải nhà máy tẩy nhuộm khăn xuất khẩu tại Xí nghiệp dệt may Nam Thành có tổng vốn đầu tư trên 2,1 tỷ đồng, công suất xử lý 200 m3 nước thải/ ngày đêm. Đây là công nghệ hóa lý kết hợp với xử lý vi sinh, giúp khử màu và tách các chất gây ô nhiễm ra khỏi nguồn nước thải. Mô hình này vừa kinh tế, vừa mang lại hiệu quả cao trong việc xử lý nước thải ngành dệt nhuộm, rất phù hợp với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có quy mô vừa và nhỏ. 
Hệ thống thiết bị trong dây chuyền gọn nhẹ, dễ vận hành. Nước thải sau xử lý bảo đảm đạt giá trị C cột A theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp dệt do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thái Bình đã hình thành 7 khu công nghiệp tập trung, 10 điểm công nghiệp làng nghề, sử dụng diện tích đất gần 2.000 ha với hoạt động của hàng nghìn doanh nghiệp chuyên dệt nhuộm, may mặc, sản xuất cơ khí, thức ăn gia súc, vật liệu xây dựng. Nhìn chung các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề trong tỉnh đều chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, kết quả phân tích chất lượng nước thải tại một số khu, cụm công nghiệp cho thấy nồng độ các chất gây ô nhiễm đã vượt tiêu chuẩn cho phép rất nhiều lần và đều xả thẳng ra hệ thống sông tiêu, kênh mương nội đồng, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất và sức khỏe của nhân dân. 
Việc áp dụng công nghệ xử lý nước thải tiên tiến trong quá trình tẩy nhuộm khăn sợi xuất khẩu tại Xí nghiệp Dệt may Nam Thành không những làm sạch nguồn nước, giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất, đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững mà còn góp phần giảm tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay tại các cụm công nghiệp làng nghề trong tỉnh.  
(Theo Monre.gov.vn)

Làm sạch nước đơn giản và hiệu quả nhờ sợi cácbon

Một cách làm sạch nước trong các ao, hồ, dòng sông cực kỳ đơn giản và hiệu quả, đang được thử nghiệm và áp dụng tại một số nước trên thế giới, là sử dụng sợi cácbon. Sợi cácbon có những tính chất nổi bật là rất bền, nhẹ, không dễ bắt lửa và đặc biệt là không gây hại với sức khỏe của con người.

Sau rất nhiều thí nghiệm, giáo sư Akira Kojima của Đại học Công nghệ Gunma, Nhật Bản phát hiện ra rằng các mảng sợi cácbon có khả năng làm sạch nước, giảm nồng độ phốtpho trong các ao, hồ, thậm chí có thể làm sạch cả... nước tiểu.

Lý do đưa giáo sư Kojima đến phát hiện này rất tình cờ. 15 năm trước, ông đánh rơi một vài sợi cácbon xuống một ao nước. Khi nhặt lên, ông ngạc nhiên khi thấy hai chiếc lá rơi xuống hồ từ trước đó cứ "bám chặt" lấy những sợi cácbon này. Thêm vào đó, những sợi cácbon này rất trơn và dường như chúng hút hết các chất bẩn trong nước.


tt17

Một thí nghiệm làm sạch nước bằng sợi cácbon. (Ảnh: Nguyệt Ánh/Vietnam+)

Cho đến thời điểm hiện tại, sợi cácbon đã được sử dụng để làm sạch nước ở các ao, hồ, sông, suối ở hơn 200 dự án tại Nhật Bản. Công nghệ này đã được xuất khẩu sang Trung Quốc từ tháng 3/2008 và được áp dụng đầu tiên tại sông Tô Châu và hồ Taihu.

Tại đây, người ta đặt xuống mỗi nơi khoảng 800 đơn vị sợi cácbon. Kết quả cho thấy sợi cácbon có thể làm giảm nồng độ amôniắc trong nước. Thêm vào đó, sau 4 tháng kể từ khi đặt số lượng sợi cácbon này xuống, rất nhiều các loại cá đã tìm đến đám sợi cácbon để đẻ trứng, làm tăng lượng cá cho hai sông, hồ này.


Kết quả tương tự cũng thu được khi áp dụng công nghệ này tại một số ao, hồ ở Philippines.


Chủ nhân của phát hiện này, giáo sư Akima Kojima cho rằng khi mà loài người đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức và gặp nhiều rào cản về công nghệ, thì vật liệu cácbon là giải pháp giúp chúng ta xây dựng một thế giới an toàn hơn.


"Vật liệu cácbon có thể là cách hiệu quả để giải quyết vấn đề về ô nhiễm nguồn nước," ông nói.


Giáo sư của Đại học Công nghệ Gunma cũng bày tỏ hy vọng công nghệ này sẽ được áp dụng tại Việt Nam, nơi có khá nhiều các dòng sông, ao, hồ đang bị ô nhiễm./.
(Theo DWRM)

Xử lý nước rỉ rác bằng DAF-40M3

Công ty CP Công nghệ môi trường Rồng Xanh (Roxaco) vừa lắp đặt và đưa vào vận hành hệ thống DAF-40M3 xử lý nước rỉ rác tại Nhà máy Xử lý rác thải Đồng Xanh (phường Trảng Dài, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
Ứng dụng thực tế cho thấy, hệ thống DAF-40M3 với chức năng keo tụ nước thải bằng các chế phẩm RX-360, RX-260 tuyển nổi áp lực các chất sau quá trình keo tụ để loại bỏ các thành phần ô nhiễm trong nước thải phù hợp với điều kiện xử lý môi trường trên nhiều lĩnh vực tại Việt Nam hiện nay.
Theo quy trình xử lý, nước thải được chứa tại các bể, sau đó đưa qua bồn phản ứng của hệ thống DAF-40M3. Kết thúc quy trình, nước thải đã qua xử lý được đưa qua bể chứa nước sạch để tái sử dụng vào các mục đích công nghiệp, trồng trọt, hoặc xả thẳng ra môi trường. Bước đầu trong quá trình vận hành xử lý nước rỉ rác qua hệ thống DAF-40M3 tại Nhà máy Xử lý rác thải Đồng Xanh (công suất 40m³/giờ), cho thấy nguồn nước sau khi xử lý tái sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau.

(Theo Monre.gov.vn)

Giải pháp mới giảm khí thải ô nhiễm môi trường ở làng than Xuân Hòa, Sóc Trăng

Làng nghề hầm than Xuân Hòa đã được UBND tỉnh Sóc Trăng công nhận làng nghề truyền thống với hơn 300 hộ dân làm nghề với trên 600 lò. Hiện công suất của mỗi lò đạt từ 8 – 12 tấn/mẻ và hàng năm mỗi lò sản xuất được khoảng 4 - 6 mẻ, tạo việc làm cho khoảng 600 lao động thường xuyên và 2.500 lao động thời vụ.
Ước tính lợi nhuận thu được khoảng 400.000 – 700.000 đồng/tấn than thì với sản lượng ước đạt 40.000 tấn/ năm cũng đạt con số đáng kể. Tuy nhiên, do số lượng lò tập trung đông nên môi trường xung quanh các lò hầm than bị ô nhiễm trầm trọng.    
Để khắc phục tình trạng này, Công ty TNHH Công nghệ và Môi trường Sóc Trăng đã phối hợp với Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (TTKC&PTCN) Sóc Trăng tiến hành thi công thử nghiệm 2 mô hình xử lý khí thải lò hầm than tại hộ ông Trần Văn Khải ở ấp Hòa An, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.   
 Hai mô hình của dự án gồm: Mô hình 1 (có sử dụng moteur), và mô hình 2 (không sử dụng moteur thay bằng quạt hút gió trời). Sau thời gian thi công, vận hành thử nghiệm từ ngày 15/9/2010 đến ngày 20/11/2011, kết quả đo đạc của Trung tâm tư vấn kiểm định xây dựng của Đại học Cần Thơ cho thấy cả 2 mô hình đều xử lý tốt các thành phần nguy hại với môi trường có trong khí thải như C03(cacbon trioxide), C02(cacbon dioxide), S02 (sunfur dioxide)… Các khí thải sau khi xử lý đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Cả 2 mô hình đều xử lý giảm hơn 20 lần và tiệm cận đến giới hạn cho phép của QCVN 19:2009/BTNMT.   
Qua nghiệm thu mô hình thử nghiệm, đại diện Phòng Công Thương huyện Kế Sách đề nghị TTKC&PTCN đề xuất với Sở Công thương có chính sách hỗ trợ người dân làng nghề lắp đặt hệ thống xử lý. Chi phí để lắp đặt hệ thống xử lý khí thải cho mô hình 1 có giá thành từ 8,5 – 9 triệu đồng, chi phí khoảng 80 đồng/kg sản phẩm; với mô hình 2 khoảng 8 -8,5 triệu đồng, chi phí khoảng 5 đồng/kg sản phẩm.   
Theo ông Dương Minh Hào, Phó Trưởng Phòng Công Thương huyện Kế Sách: Hiện Phòng đang chờ Sở Khoa học - Công nghệ tỉnh cũng như các cấp có thẩm quyền nghiệm thu hiệu quả của mô hình để có thể tiếp tục nhân rộng việc xử lý ô nhiễm môi trường ra cả khu vực làng nghề. Việc thí điểm mô hình giảm khí thải ô nhiễm môi trường ở lò than gia đình ông Trần văn Khải cho thấy tính khả thi vượt trội của mô hình 2 với chi phí đầu tư thấp, không tốn chi phí vận hành, không sử dụng điện năng, độ ồn khi vận hành ít. Chính vì vậy, khả năng mô hình 2 được nhân rộng ra trên địa bàn làng nghề hầm than Xuân Hoà là rất cao.   
(Theo Monre.gov.vn)

Phát huy tác dụng chữa bệnh của nước khoáng radon

Gần 10 năm trước, qua công tác thăm dò, Liên hiệp Khoa học sản xuất địa chất nước khoáng (thuộc Tổng hội Địa chất VN) đã phát hiện được một nguồn nước khoáng radon tại huyện Thanh Thủy (Phú Thọ). Đây là tin vui cho giới khoa học về nước khoáng và y học thủy trị liệu nước ta. Ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn của việc phát hiện này nhìn từ góc độ địa chất y học là vấn đề được các nhà khoa học thuộc Hội Địa chất thủy văn VN và Liên hiệp Khoa học sản xuất địa chất nước khoáng đề cập trong một Hội thảo khoa học mới đây.

Trong bảng phân loại nước khoáng VN đến cuối thế kỷ XX còn có một khoảng trống khiến các nhà địa chất thủy văn luôn băn khoăn, day dứt. Đó là sự thiếu vắng loại nước khoáng radon. Điều đó không có nghĩa cấu tạo địa chất thiếu những tiền đề cho sự thành tạo loại nước khoáng này mà chính là do chưa được đầu tư nghiên cứu đầy đủ.

Chính vì vậy, việc phát triển nguồn nước khoáng Thanh Thủy (Phú Thọ) là một đóng góp quan trọng vào sự phát triển nguồn tài nguyên nước khoáng ở nước ta. Về mặt khoa học, nó khẳng định sự có mặt nước khoáng radon, xóa đi một khoảng trống lâu nay trong bảng phân loại nước khoáng VN về loại nước khoáng này, mở đường cho sự tìm kiếm những nguồn nước khoáng radon trong điều kiện địa chất thủy văn tương tự, mà theo dự đoán có khả năng tồn tại ở nhiều nơi khác trên toàn quốc.

s10

Khoan thăm dò nước khoáng nóng tại Thanh Thủy

 

Về nguồn gốc và sự thành tạo mỏ nước khoáng radon Thanh Thủy, với mức độ nghiên cứu hiện tại chưa thể đưa ra một nhận định có cơ sở khoa học vững chắc, song theo quy luật chung có thể dự đoán nước khoáng được hình thành từ dưới sâu, trong điều kiện nhiệt độ và áp suất lớn, trong những thành tạo địa chất giàu khoáng vật phóng xạ. Sau đó, nước theo các đứt gãy kiến tạo đi lên, trong đó quan trọng nhất có lẽ là đứt gãy F2 chạy dọc đê sông Đà theo phương Tây Bắc - Đông Nam và đứt gãy F1 chạy theo phương Đông Bắc - Tây Nam cắt qua trung tâm mỏ. Chính nơi giao nhau giữa hai đứt gãy này là kênh dẫn nước khoáng từ dưới sâu đi lên, tiêm nhập vào các trầm tích phủ bên trên và tàng trữ trong các lỗ hổng của đất đá, hình thành nên một "mũ nấm" hình tam giác thấy rõ trên bản đồ. Trong quá trình khai thác mỏ, "mũ nấm" có thể thay đổi hình dạng và chất lượng, trữ lượng nước khoáng chứa trong đó cũng thay đổi theo nếu không có chế độ khai thác hợp lý và biện pháp bảo vệ chặt chẽ.

Về mặt thực tiễn, đây là loại nước khoáng có giá trị sử dụng vào mục đích y học rộng rãi và phục vụ sức khỏe cộng đồng. Vì vậy để phát huy thành quả đạt được, trong thời gian tới, các nhà khoa học mong các cơ quan quản lý và khoa học hữu trách quan tâm thúc đẩy điều tra một cách có hệ thống nguồn tài nguyên quý giá này về mặt địa chất cũng như y học và sớm đưa nó vào khai thác sử dụng, đồng thời với các loại nước khoáng vốn rất phong phú và đang được sử dụng có hiệu quả tại các trung tâm điều dưỡng - du lịch hiện có nhằm tạo cơ sở phát triển ngành y học thủy liệu pháp nước khoáng ở nước ta.

Riêng đối với nguồn nước khoáng radon Thanh Thủy, cần tiếp tục thăm dò chi tiết để đánh giá chính xác chất lượng, trữ lượng vùng mỏ. Trong thăm dò cần có những công trình khoan sâu đến tận đá gốc (trên 100m). Chú ý phân tích đầy đủ Rn và các yếu tố đặc hiệu khác. Đồng thời cần tiến hành việc nghiên cứu lâm sàng cẩn thận để tìm hiểu tác dụng chữa bệnh của nước khoáng radon nhằm định hướng sử dụng tối ưu nguồn nước. Cần sớm có sự can thiệp của các cơ quan quản lý tài nguyên khoáng sản và y tế cộng đồng cùng với chính quyền địa phương để sớm lập lại trật tự trong hoạt động dịch vụ tắm nước khoáng một cách tự phát hiện nay, tổ chức hướng dẫn khoa học để hoạt động này có hiệu quả, tránh những thiệt hại có thể xảy ra.

 

(Theo Bình Nguyên - Monre)

"Xanh hóa" khí CO2

Với công nghệ mới của các nhà khoa học Singapore, CO2 sẽ thành hợp chất có ích cho ngành công nghiệp dược - Ảnh: NanoweCác nhà khoa học tại Viện Công nghệ sinh học và công nghệ nano Singapore (IBN) vừa biến điều “không thể thành có thể” khi phát triển một công nghệ xanh giúp chuyển hóa carbon dioxide (CO2) thành hợp chất có ích dùng trong ngành công nghiệp dược và hóa chất.

Tân Hoa xã dẫn nguồn tin từ Cơ quan khoa học, công nghệ và nghiên cứu của Chính phủ Singapore (A* STAR) cho biết công nghệ trên cho phép CO2 chuyển hóa thành các axit propiolic.

Các axit này là nền tảng tạo ra một hợp chất được ngành công nghiệp dược dùng để chế tạo thuốc hạ cholesterol, phân tử tổng hợp peptidomimetic và các chất ức chế phân tử khác, chẳng hạn để tiêu diệt tế bào ung thư.

“Công nghệ của chúng tôi là cơ sở để tạo ra các hóa chất đặc biệt, các loại thuốc an toàn và rẻ tiền. Đây là bước đột phá trong ngành công nghiệp dược và hóa chất, đồng thời đưa Singapore vươn lên vị trí hàng đầu trong nghiên cứu hóa học xanh”, giáo sư Jackie Y. Ying - giám đốc điều hành IBN, phát biểu với Nanowerk News.


(Theo TTO)