Tue11302021

Last update02:00:00 PM GMT

Xử lý nước rỉ rác bằng DAF-40M3

There are no translations available.

Công ty CP Công nghệ môi trường Rồng Xanh (Roxaco) vừa lắp đặt và đưa vào vận hành hệ thống DAF-40M3 xử lý nước rỉ rác tại Nhà máy Xử lý rác thải Đồng Xanh (phường Trảng Dài, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
Ứng dụng thực tế cho thấy, hệ thống DAF-40M3 với chức năng keo tụ nước thải bằng các chế phẩm RX-360, RX-260 tuyển nổi áp lực các chất sau quá trình keo tụ để loại bỏ các thành phần ô nhiễm trong nước thải phù hợp với điều kiện xử lý môi trường trên nhiều lĩnh vực tại Việt Nam hiện nay.
Theo quy trình xử lý, nước thải được chứa tại các bể, sau đó đưa qua bồn phản ứng của hệ thống DAF-40M3. Kết thúc quy trình, nước thải đã qua xử lý được đưa qua bể chứa nước sạch để tái sử dụng vào các mục đích công nghiệp, trồng trọt, hoặc xả thẳng ra môi trường. Bước đầu trong quá trình vận hành xử lý nước rỉ rác qua hệ thống DAF-40M3 tại Nhà máy Xử lý rác thải Đồng Xanh (công suất 40m³/giờ), cho thấy nguồn nước sau khi xử lý tái sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau.

(Theo Monre.gov.vn)

Giải pháp mới giảm khí thải ô nhiễm môi trường ở làng than Xuân Hòa, Sóc Trăng

There are no translations available.

Làng nghề hầm than Xuân Hòa đã được UBND tỉnh Sóc Trăng công nhận làng nghề truyền thống với hơn 300 hộ dân làm nghề với trên 600 lò. Hiện công suất của mỗi lò đạt từ 8 – 12 tấn/mẻ và hàng năm mỗi lò sản xuất được khoảng 4 - 6 mẻ, tạo việc làm cho khoảng 600 lao động thường xuyên và 2.500 lao động thời vụ.
Ước tính lợi nhuận thu được khoảng 400.000 – 700.000 đồng/tấn than thì với sản lượng ước đạt 40.000 tấn/ năm cũng đạt con số đáng kể. Tuy nhiên, do số lượng lò tập trung đông nên môi trường xung quanh các lò hầm than bị ô nhiễm trầm trọng.    
Để khắc phục tình trạng này, Công ty TNHH Công nghệ và Môi trường Sóc Trăng đã phối hợp với Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (TTKC&PTCN) Sóc Trăng tiến hành thi công thử nghiệm 2 mô hình xử lý khí thải lò hầm than tại hộ ông Trần Văn Khải ở ấp Hòa An, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.   
 Hai mô hình của dự án gồm: Mô hình 1 (có sử dụng moteur), và mô hình 2 (không sử dụng moteur thay bằng quạt hút gió trời). Sau thời gian thi công, vận hành thử nghiệm từ ngày 15/9/2010 đến ngày 20/11/2011, kết quả đo đạc của Trung tâm tư vấn kiểm định xây dựng của Đại học Cần Thơ cho thấy cả 2 mô hình đều xử lý tốt các thành phần nguy hại với môi trường có trong khí thải như C03(cacbon trioxide), C02(cacbon dioxide), S02 (sunfur dioxide)… Các khí thải sau khi xử lý đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Cả 2 mô hình đều xử lý giảm hơn 20 lần và tiệm cận đến giới hạn cho phép của QCVN 19:2009/BTNMT.   
Qua nghiệm thu mô hình thử nghiệm, đại diện Phòng Công Thương huyện Kế Sách đề nghị TTKC&PTCN đề xuất với Sở Công thương có chính sách hỗ trợ người dân làng nghề lắp đặt hệ thống xử lý. Chi phí để lắp đặt hệ thống xử lý khí thải cho mô hình 1 có giá thành từ 8,5 – 9 triệu đồng, chi phí khoảng 80 đồng/kg sản phẩm; với mô hình 2 khoảng 8 -8,5 triệu đồng, chi phí khoảng 5 đồng/kg sản phẩm.   
Theo ông Dương Minh Hào, Phó Trưởng Phòng Công Thương huyện Kế Sách: Hiện Phòng đang chờ Sở Khoa học - Công nghệ tỉnh cũng như các cấp có thẩm quyền nghiệm thu hiệu quả của mô hình để có thể tiếp tục nhân rộng việc xử lý ô nhiễm môi trường ra cả khu vực làng nghề. Việc thí điểm mô hình giảm khí thải ô nhiễm môi trường ở lò than gia đình ông Trần văn Khải cho thấy tính khả thi vượt trội của mô hình 2 với chi phí đầu tư thấp, không tốn chi phí vận hành, không sử dụng điện năng, độ ồn khi vận hành ít. Chính vì vậy, khả năng mô hình 2 được nhân rộng ra trên địa bàn làng nghề hầm than Xuân Hoà là rất cao.   
(Theo Monre.gov.vn)

Phát huy tác dụng chữa bệnh của nước khoáng radon

There are no translations available.

Gần 10 năm trước, qua công tác thăm dò, Liên hiệp Khoa học sản xuất địa chất nước khoáng (thuộc Tổng hội Địa chất VN) đã phát hiện được một nguồn nước khoáng radon tại huyện Thanh Thủy (Phú Thọ). Đây là tin vui cho giới khoa học về nước khoáng và y học thủy trị liệu nước ta. Ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn của việc phát hiện này nhìn từ góc độ địa chất y học là vấn đề được các nhà khoa học thuộc Hội Địa chất thủy văn VN và Liên hiệp Khoa học sản xuất địa chất nước khoáng đề cập trong một Hội thảo khoa học mới đây.

Trong bảng phân loại nước khoáng VN đến cuối thế kỷ XX còn có một khoảng trống khiến các nhà địa chất thủy văn luôn băn khoăn, day dứt. Đó là sự thiếu vắng loại nước khoáng radon. Điều đó không có nghĩa cấu tạo địa chất thiếu những tiền đề cho sự thành tạo loại nước khoáng này mà chính là do chưa được đầu tư nghiên cứu đầy đủ.

Chính vì vậy, việc phát triển nguồn nước khoáng Thanh Thủy (Phú Thọ) là một đóng góp quan trọng vào sự phát triển nguồn tài nguyên nước khoáng ở nước ta. Về mặt khoa học, nó khẳng định sự có mặt nước khoáng radon, xóa đi một khoảng trống lâu nay trong bảng phân loại nước khoáng VN về loại nước khoáng này, mở đường cho sự tìm kiếm những nguồn nước khoáng radon trong điều kiện địa chất thủy văn tương tự, mà theo dự đoán có khả năng tồn tại ở nhiều nơi khác trên toàn quốc.

s10

Khoan thăm dò nước khoáng nóng tại Thanh Thủy

 

Về nguồn gốc và sự thành tạo mỏ nước khoáng radon Thanh Thủy, với mức độ nghiên cứu hiện tại chưa thể đưa ra một nhận định có cơ sở khoa học vững chắc, song theo quy luật chung có thể dự đoán nước khoáng được hình thành từ dưới sâu, trong điều kiện nhiệt độ và áp suất lớn, trong những thành tạo địa chất giàu khoáng vật phóng xạ. Sau đó, nước theo các đứt gãy kiến tạo đi lên, trong đó quan trọng nhất có lẽ là đứt gãy F2 chạy dọc đê sông Đà theo phương Tây Bắc - Đông Nam và đứt gãy F1 chạy theo phương Đông Bắc - Tây Nam cắt qua trung tâm mỏ. Chính nơi giao nhau giữa hai đứt gãy này là kênh dẫn nước khoáng từ dưới sâu đi lên, tiêm nhập vào các trầm tích phủ bên trên và tàng trữ trong các lỗ hổng của đất đá, hình thành nên một "mũ nấm" hình tam giác thấy rõ trên bản đồ. Trong quá trình khai thác mỏ, "mũ nấm" có thể thay đổi hình dạng và chất lượng, trữ lượng nước khoáng chứa trong đó cũng thay đổi theo nếu không có chế độ khai thác hợp lý và biện pháp bảo vệ chặt chẽ.

Về mặt thực tiễn, đây là loại nước khoáng có giá trị sử dụng vào mục đích y học rộng rãi và phục vụ sức khỏe cộng đồng. Vì vậy để phát huy thành quả đạt được, trong thời gian tới, các nhà khoa học mong các cơ quan quản lý và khoa học hữu trách quan tâm thúc đẩy điều tra một cách có hệ thống nguồn tài nguyên quý giá này về mặt địa chất cũng như y học và sớm đưa nó vào khai thác sử dụng, đồng thời với các loại nước khoáng vốn rất phong phú và đang được sử dụng có hiệu quả tại các trung tâm điều dưỡng - du lịch hiện có nhằm tạo cơ sở phát triển ngành y học thủy liệu pháp nước khoáng ở nước ta.

Riêng đối với nguồn nước khoáng radon Thanh Thủy, cần tiếp tục thăm dò chi tiết để đánh giá chính xác chất lượng, trữ lượng vùng mỏ. Trong thăm dò cần có những công trình khoan sâu đến tận đá gốc (trên 100m). Chú ý phân tích đầy đủ Rn và các yếu tố đặc hiệu khác. Đồng thời cần tiến hành việc nghiên cứu lâm sàng cẩn thận để tìm hiểu tác dụng chữa bệnh của nước khoáng radon nhằm định hướng sử dụng tối ưu nguồn nước. Cần sớm có sự can thiệp của các cơ quan quản lý tài nguyên khoáng sản và y tế cộng đồng cùng với chính quyền địa phương để sớm lập lại trật tự trong hoạt động dịch vụ tắm nước khoáng một cách tự phát hiện nay, tổ chức hướng dẫn khoa học để hoạt động này có hiệu quả, tránh những thiệt hại có thể xảy ra.

 

(Theo Bình Nguyên - Monre)

"Xanh hóa" khí CO2

There are no translations available.

Với công nghệ mới của các nhà khoa học Singapore, CO2 sẽ thành hợp chất có ích cho ngành công nghiệp dược - Ảnh: NanoweCác nhà khoa học tại Viện Công nghệ sinh học và công nghệ nano Singapore (IBN) vừa biến điều “không thể thành có thể” khi phát triển một công nghệ xanh giúp chuyển hóa carbon dioxide (CO2) thành hợp chất có ích dùng trong ngành công nghiệp dược và hóa chất.

Tân Hoa xã dẫn nguồn tin từ Cơ quan khoa học, công nghệ và nghiên cứu của Chính phủ Singapore (A* STAR) cho biết công nghệ trên cho phép CO2 chuyển hóa thành các axit propiolic.

Các axit này là nền tảng tạo ra một hợp chất được ngành công nghiệp dược dùng để chế tạo thuốc hạ cholesterol, phân tử tổng hợp peptidomimetic và các chất ức chế phân tử khác, chẳng hạn để tiêu diệt tế bào ung thư.

“Công nghệ của chúng tôi là cơ sở để tạo ra các hóa chất đặc biệt, các loại thuốc an toàn và rẻ tiền. Đây là bước đột phá trong ngành công nghiệp dược và hóa chất, đồng thời đưa Singapore vươn lên vị trí hàng đầu trong nghiên cứu hóa học xanh”, giáo sư Jackie Y. Ying - giám đốc điều hành IBN, phát biểu với Nanowerk News.


(Theo TTO)

Dùng "nước ảo" để quản lý nước thật

There are no translations available.

2Phương pháp tính toán lượng nước cần thiết để làm ra thực phẩm và hàng tiêu dùng mang tên "Nước ảo" đã đem về cho nhà khoa học người Anh John Anthony Allan giải thưởng Nước Stockholm 2008.
Để có được một cân gạo trắng ngần, ta phải sử dụng tới 3.400 lít nước; một cốc cà phê tiêu tốn 140 lít nước; một chiếc áo coton ngốn 4.100 lít nước... Lượng nước này gọi là "nước ảo". Tiết kiệm nước chính từ việc quản lý sản xuất, xuất nhập khẩu  hàng hóa.

Khái niệm "nước ảo" được nhà khoa học người Anh John Anthony Allan giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1988. Khi đó người ta coi đây là một kiểu tính toán con nít. Song khi biến đổi khí hậu gây ra khan hiếm nước ngày càng trầm trọng, khái niệm "nước ảo" thực sự hữu ích trong quản lý tài nguyên nước.

Theo GS. John Anthony Allan, "nước ảo" không phải là lượng nước tồn tại trong sản phẩm mà là nước được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm. Và theo các tính đó, GS. John Anthony Allan đã đưa ra những con số giật mình. Như để làm ra một chiếc bánh hamburger phải tiêu tốn 2.400 lít nước từ việc trồng lúa mì, xay bột, làm nhân bánh, trồng rau… để có 1 ký thịt bò, phải cần đến 15.340 lít nước. Bởi trong ba năm nuôi một con bò cho 200kg thịt, nó đã ăn đến 1.300kg ngũ cốc (lúa mì, bắp, đậu nành, lúa mạch…) và 7.200kg cỏ. Để sản xuất lượng ngũ cốc và cỏ đó phải cần đến ba triệu lít nước. Lại còn cần thêm 24.000 lít nước cho con bò uống và 7.000 lít cho các hoạt động chăm sóc khác dành cho con bò. Chiếc khăn giấy dùng một lần nặng 75g mà chứa tới 810 lít nước ảo hay chiếc xe chở khách 1,1 tấn cần 400.000 lít nước...

Nhờ lý thuyết "nước ảo", người ta phát hiện những nước như Mỹ, Argentina và Brazil xuất khẩu hàng tỉ mét khối nước trong khi các nước như Nhật, Ai Cập và Italia lại nhập hàng tỉ mét khối nước mỗi năm.

Nói là "ảo" song trong quá trình sản xuất, người ta đều lấy nước thật từ lòng đất, sông hồ… "Ảo" chỉ ở góc độ không nhìn thấy trong sản phẩm. Khái niệm này có ý nghĩa đặc biệt quan trong khi đặt nó trong thị trường nước và giao dịch nước ảo.

Nhà khoa học Nguyễn Thị Phương, Phân viện Khí tượng thủy văn và Môi trường phía Nam cho biết, cần hiểu sự giao dịch "nước ảo" chính là trao đổi những hàng hóa mang trong mình "nước ảo", như lương thực, thực phẩm, quần áo, giày dép, nông sản...

Bà Phương giải thích, nếu một quốc gia nhập khẩu lúa mì thay vì tự sản xuất thì quốc gia đó tiết kiệm được 1.300 m3 nước thật. Nếu quốc gia đó khan hiếm nước thì họ có thể dùng lượng nước "tiết kiệm" được do nhập khẩu lúa mì để dùng cho các mục đích khác cần thiết hơn. Chính vì vậy trao đổi nguồn nước ảo là một phương tiện có thể khắc phục tình trạng thiếu nước ở một số quốc gia. Việc buôn bán nước ảo có thể tạo ra sự cân bằng về tiêu dùng nước giữa các quốc gia.

Theo bà Phương, nhu cầu nước của nước ta ngày càng lớn trong khi nguồn nước của chúng ta không dồi dào, phụ thuộc nhiều từ các sông quốc tế. Bởi thế, lý thuyết "nước ảo" có thể góp phần vào việc điều tiết nguồn nước ở tầm vĩ mô.

Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu lúa lương thực dẫn đầu thế giới nghĩa là đã xuất đi một lượng nước rất lớn. Việc xuất khẩu đã giúp ta thu nguồn lợi lớn về kinh tế và giúp ổn định an ninh lương thực thế giới. "Về lâu dài, cần xem xét việc quy hoạch sản xuất phù hợp với nguồn nước ở khu vực, từng địa phương mang tính vĩ mô cả nước", bà Phương đề nghị.


(Theo BTNMT)

Nâng cấp hệ thống báo tin động đất và sóng thần

There are no translations available.

cucnuoc6Viện Vật lý Địa cầu - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đang triển khai Dự án nâng cấp mạng lưới quan trắc động đất ra toàn lãnh thổ và hải đảo của Việt Nam.

Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang thực hiện giai đoạn đầu Dự án xây dựng hệ thống trạm trực canh sóng thần tại các địa phương ven biển và hải đảo.

Mục tiêu của Dự án nâng cấp mạng lưới quan trắc động đất là tăng số lượng trạm địa chấn từ 24 lên 36 trạm, thực hiện từ năm 2009-2012, trong đó, các trạm được trang bị máy ghi địa chấn dải rộng và vận hành tự động, các dữ liệu động đất, thời gian thực sẽ được truyền trực tiếp về Viện Vật lý Địa cầu qua vệ tinh/internet.

Dự án xây dựng hệ thống trạm trực canh sóng thần với sự tham gia của Bộ Quốc phòng, Viện Vật lý Địa cầu và nhiều cơ quan khác.

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của dự án là xây dựng khoảng 100 tháp báo thiên tai sử dụng hệ thống đèn, còi phục vụ công tác cảnh báo đa thiên tai trong đó có sóng thần tại các địa phương ven biển và hải đảo của Việt Nam.

Từ tháng 4 đến nay, trên lãnh thổ Việt Nam đã xảy ra 8 trận động đất giao động từ 2,3-4,7 độ Richter nhưng đều không gây thiệt hại về người và tài sản.

Trận động đất mạnh nhất được ghi nhận 4,7 độ Richter, tâm chấn nằm ở ngoài khơi và độ lớn chưa đủ gây ra sóng thần. Các trận động đất này đều được ghi nhận bằng mạng lưới trạm địa chấn quốc gia và xử lý tại Viện Vật lý Địa cầu.

Những trận động đất có độ lớn trên 3,5 độ Richter đều được Trung tâm Báo tin động đất và Cảnh báo sóng thần thuộc Viện Vật lý Địa cầu thông báo kịp thời tới các cơ quan hữu quan, theo Quy chế của Chính phủ, trừ trận động đất có chấn tâm nằm trên lãnh thổ Trung Quốc./.

 

(Theo DWRM)