Mon04062020

Last update03:14:50 AM GMT

Ứng dụng sinh khối xanh tạo năng lượng bền vững

There are no translations available.

ungdungcongngheNgày 21/9, tại TP Cần Thơ, các nhà khoa học, chuyên gia thuộc trường đại học Cần Thơ, các trường đại học: Công nông Tokyo (Nhật Bản), Nông nghiệp Bogor (Indonesia), Naresuan (Thái Lan) đã chia sẻ thông tin khoa học liên quan tới đề tài nghiên cứu ứng dụng sinh khối xanh (Green Biomass) tự tạo năng lượng bền vững.
Đây là một trong những chương trình hợp tác nghiên cứu nhiều triển vọng đem lại hiệu quả thiết thực giúp cho các quốc gia đa dạng hóa nguồn cung cấp nhiên liệu giảm sự phụ thuộc vào dầu hoả và than đá, đem lại ích lợi to lớn cho môi trường.

Báo cáo của các nhà khoa học đều đề cập đến vai trò tiềm năng của phân hữu cơ sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguyên liệu sinh khối xanh hiện đang là nguồn năng lượng tái tạo bền vững và dồi dào nhất hiện nay trên thế giới. Sinh khối có thể được xử lý ở nhiều dạng chuyển đổi khác nhau để tạo ra năng lượng, nhiệt lượng, hơi và nhiên liệu góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.

Đây cũng là đề tài nghiên cứu được các chuyên gia Nhật Bản và các nước trong khu vực rất quan tâm. TS Tadashi Chosa, trường đại học Công nông Tokyo cho biết việc nghiên cứu hạ giá thành sản xuất lúa và tăng hiệu quả từ những nguồn nguyên liệu sẵn có trong nông thôn hứa hẹn lớn cho việc tạo ra năng lượng xanh. Các chuyên gia của trường đại học Cần Thơ cho rằng ĐBSCL là nơi cung cấp năng lượng và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp dồi dào như rơm rạ, cây dầu mè, dừa sáp, mù u, bả mía, xơ bắp… để tổng hợp sinh khối có ích lợi lớn về mặt kinh tế và môi trường.

TS .Taiichiro Ookawa, trường đại học Công nông Tokyo - Nhật Bản, TS Iswandi Anas, trường đại học Bogor - Indonesia cũng đã chia sẻ thành công trong việc nghiên cứu phân hữu cơ sinh học trong canh tác lúa bền vững ở Nhật Bản và Indonesia, trong đó yếu tố hạ chi phí và tăng hiệu quả việc trồng lúa, nguồn cung cấp nguyên liệu làm năng lượng tái tạo dồi dào nhất.

Các kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều triển vọng tốt đẹp trong chương trình hợp tác giữa trường đại học Cần Thơ và các trường đại học khu vực trong tương lai.

(Theo Vfej.vn)

Bóng bay cảnh báo ô nhiễm

There are no translations available.

Không khí ô nhiễm ở Paris (Pháp) cũng gây hại sức khỏe không khác gì những thành phố châu Âu khác. Nhưng ở Paris, người dân không phải chăm chú chờ đợi cảnh báo từ các nhà khoa học mà họ chỉ cần nhìn lên bầu trời.

Bongbay

Khi quả bóng có màu xanh nghĩa là không khí trong lành, màu đỏ là không khí bị ô nhiễm nặng - Ảnh: CNN

Ở độ cao 150m trên công viên Parc Andre Citroen là quả bóng Air de Paris, một quả bóng bay khổng lồ giúp người dân Pháp biết được độ trong lành của không khí. Quả bóng có bề rộng 22m và cao 32m, sẽ chuyển sang màu xanh khi không khí trong lành, màu đỏ khi ô nhiễm và màu cam khi không khí bình thường.

Các thước đo chất lượng không khí dựa trên trên những máy đo cảm biến nồng độ khí NO2, O3 và nhiều loại khí khác gắn trên bóng bay. Những thông tin này được sử dụng để xác định mức độ ô nhiễm và cảnh báo cho những người bị khó thở và những lái xe khi ra ngoài trời.

Ban đầu, quả bóng được thiết kế dùng để thu hút khách du lịch. Nhưng công ty Aerophile đã nảy ra ý tưởng thêm chức năng chỉ thị môi trường vào quả bóng này.

Matthieu Gobbi, tổng giám đốc Aerophile nói: “Bản thân bong bóng đã là một biểu tượng của khí quyển, là sự tôn trọng thiên nhiên. Bong bóng bay không có tiếng ồn, không sử dụng động cơ hay phải đốt bất kỳ nhiên liệu mà hoàn toàn nhờ vào năng lượng tự nhiên. Cho nên việc sử dụng quả bóng để cảnh báo môi trường là hoàn toàn hợp lý”.

Quả bóng sẽ chuyển sang màu xanh khi không khí trong lành, màu đỏ khi ô nhiễm và màu cam khi không khí bình thường.

Karine Léger thuộc cơ quan phụ trách chất lượng không khí Airparif tại tỉnh Ile de France cho biết mỗi thành phố ở châu Âu đang đối mặt với những thách thức lớn để đáp ứng các quy định chất lượng không khí. "Ở Paris, nồng độ ô nhiễm không khí đo được gấp đôi so với mức quy định và đó thực sự là một thách thức lớn", Léger nói.

Ô nhiễm không khí trong thành phố có thể làm giảm tuổi thọ của người dân Paris lên đến chín tháng so với những người sống ở nông thôn. "Theo các nhà khoa học thì mỗi năm 2.000-3.000 người chết ở khu vực Paris vì ô nhiễm không khí", Phó thị trưởng Paris Denis Baupin cho biết.

Ông Baupin phụ trách chính sách môi trường tại Paris. Hiện tại thành phố đang thực hiện các bước hướng tới việc cải thiện chất lượng không khí và xây dựng các công trình giao thông công cộng thân thiện môi trường, giảm ôtô trên đường phố thủ đô từng quý một.

Bong bóng Air de Paris có lẽ là một trong những phương tiện “vận tải” ít gây ô nhiễm nhất thành phố. Nhưng hoạt động quả bóng giá trị ở chỗ nâng cao ý thức cộng đồng về ô nhiễm. "Cứ mỗi buổi sáng, chúng tôi có ba lớp học từ các trường học của Paris. Các em đi vào bóng, có một chuyến bay thú vị và qua đó tìm hiểu về chất lượng không khí", Jerome Giacomoni, chủ tịch Aerophile nói.

(Theo TTO)

Chuyển nước đổ ra biển vào sản xuất

There are no translations available.

chuyenuocbienNgười đưa ra ý tưởng và là tổng công trình sư nối mạng nước các hồ thủy lợi là kỹ sư Nguyễn Hoàng Tuấn, Giám đốc Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Bình Thuận (CTKTCTTL). Các công trình nối mạng thủy lợi này mở ra tuyến kênh giao thông nối liền các vùng nông thôn, tạo thuận lợi lưu thông vật tư, hàng hóa và đưa cơ giới vào đồng ruộng.

Từ xa xưa cho đến khi nhà máy thủy điện Đại Ninh phát điện hòa lưới quốc gia, nguồn nước sau tuabin vẫn tiếp tục đổ vào sông Lũy để về biển. Làm sao giữ lại một phần nhỏ lượng nước lớn đó cho con người, gia súc và cánh đồng trong mùa khô hạn?

Tháng 12-2007, CTKTCTTL hoàn thành kênh tiếp nước hồ Cà Giây dẫn nước từ đập sông Lũy trên vào hồ Cà Giây với lưu lượng trên 10m3/s. Vụ Đông Xuân 2007-2008, toàn bộ diện tích của khu tưới hồ Cà Giây và một phần diện tích mở rộng gần 6.000 ha đã đưa vào sản xuất, giúp nông dân thu lãi ròng gần 60 tỷ đồng. Sau vụ Đông Xuân, hồ Cà Giây vẫn đạt mực nước thiết kế, mực nước trong hồ vẫn tăng lên vào mùa khô.

Từ một vùng thường xuyên bị hạn hán đe dọa, huyện Bắc Bình trở thành địa phương có nguồn nước tưới chủ động nhất tỉnh nên sản xuất cây lương thực tăng nhanh cả diện tích, năng suất và sản lượng. Chủ tịch UBND huyện Bắc Bình - Hồ Ngọc Được nhận xét: Thành tựu rõ nét nhất của Bắc Bình trong vài chục năm trở lại đây là công tác thủy lợi. Nông dân trồng lúa ở huyện Bắc Bình sẽ không lo thiếu nước, không còn đói nghèo nữa.

Vào mùa khô, nước hồ Sông Quao (huyện Hàm Thuận Bắc) thường cạn kiệt, nước cấp cho sản xuất và sinh hoạt của dân thiếu nghiêm trọng. Nước cấp cho thành phố Phan Thiết thiếu. Tiếp tục tận dụng nguồn nước thủy điện Đại Ninh xả đầu năm 2009 CTKTCTTL hoàn thành tuyến kênh 812- Châu Tá dẫn nước từ sông Lũy về bổ sung tưới cho diện tích trên 10.000 ha, đồng thời chủ động nguồn nước tưới cho 8.500 ha đất nông nghiệp của hai huyện Bắc Bình và Hàm Thuận Bắc.

Ngay trong vụ Đông Xuân 2008-2009, người trồng lúa ở huyện Hàm Thuận Bắc đã lãi trên 50 tỷ đồng, trong khi vốn đầu tư xây dựng công trình chỉ 250 tỷ đồng. Có nước dồi dào, mỗi năm nông dân sản xuất 2 đến 3 vụ lúa, CTKTCTTL Bình Thuận mang lại hàng ngàn tỷ đồng cho nhân dân hai huyện.

(Theo Cục Quản lý tài nguyên nước)

Hà Nội: Đề xuất công nghệ mới làm sạch sông Tô Lịch

There are no translations available.

 

SongtolichNgày 24/8, Công ty CP Công nghệ thương mại Huệ Quang (thuộc Viện Nghiên cứu hỗ trợ phát triển nông thôn) đã đề xuất với UBND thành phố Hà Nội công nghệ làm sạch nước sông Tô Lịch. Trong đó, giai đoạn I, Công ty sẽ sử dụng dung dịch (chứ không sử dụng bất cứ loại hóa chất nào) để tập trung làm sạch khoảng 2km sông để phục vụ Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Sau khi thử nghiệm có hiệu quả, Công ty sẽ triển khai trên diện rộng nhằm giảm thiểu ô nhiễm, góp phần ổn định môi trường nước. 

Sau khi nghe ý kiến đóng góp của các Sở ngành liên quan, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Vũ Hồng Khanh đề nghị Công ty nên tập trung nghiên cứu để nước đã qua xử lý phải bảo đảm tiêu chuẩn môi trường Việt Nam. Đồng thời cần đặc biệt chú ý đến vấn đề hiệu quả kinh tế cũng như xã hội để thuyết phục được các cơ quan chức năng cũng như tạo được sự đồng thuận của người dân. Trước mắt, thành phố đồng ý làm thí điểm ở một đoạn sông có điều kiện tương tự sông Tô Lịch, nếu đạt kết quả tốt sẽ cho nhân rộng trên con sông này cũng như các sông hồ khác trên địa bàn.    

(Theo Minh Nghĩa - Monre)

Địa kỹ thuật không phải là giải pháp cho nước biển dâng

There are no translations available.

NuocbiendangNghiên cứu mới đây cho thấy, khoảng 150 triệu người có thể bị ảnh hưởng nếu nước biển dâng 30cm đến 70cm vào cuối thế kỷ này. Hiện tượng nước biển dâng sẽ làm ngập lụt các vùng đất trũng ven biển, bao gồm cả một số thành phố vào loại lớn nhất thế giới... Các nhà khoa học của trường Đại học Normal, Bắc Kinh, đứng đầu là John Moore chỉ ra rằng, để chống lại hiện tượng trái đất ấm dần, loài người cần tập trung vào việc cắt giảm khí hiệu ứng nhà kính, thay vì dựa vào các giải pháp địa kỹ thuật.

Tiến sĩ Svetlana Jevrejeva, đồng tác giả của nghiên cứu phát biểu: "Các giải pháp địa kỹ thuật thay thế cho việc kiểm soát phát thải khí nhà kính có thể dẫn tới gánh nặng cho thế hệ sau đi kèm với rủi ro lớn".

Tiến sĩ Jevrejeva cho rằng, những phương án như lắp đặt các hệ thống gương vũ trụ, hay rải các hạt bụi cỡ nhỏ vào không gian chỉ có thể giải quyết phần ngọn, vì khí nhà kính vẫn tồn tại trong khí quyển.

Nghiên cứu này đã thẩm tra 2 quy trình địa kỹ thuật với 5 kịch bản khác nhau.

Quy trình thứ nhất nhằm giảm bức xạ mặt trời xuống bề mặt trái đất bằng cách rải các đám bụi SO2 vào tầng bình lưu. Có thể thay thế bằng cách phóng các gương khổng lồ lên quỹ đạo.

Quy trình thứ 2 nhằm biến đổi chu trình cacbon bằng cách trồng rừng, chuyển các chất hữu cơ sang dạng than củi, hoặc sử dụng năng lượng tái sinh chế tạo từ các nguồn sinh học (năng lượng sinh học).

Nghiên cứu sử dụng mô hình sử dụng các dữ liệu đo thủy triều trong vòng 300 năm để tái hiện các đáp ứng của mực nước biển với sự biến đổi nhiệt lượng từ mặt trời xuống trái đất, với hiện tượng giảm nhiệt độ trái đất do núi lửa phun, và với các hoạt động của loài người.

Sau đó, sử dụng mô hình này để mô phỏng mực nước biển dưới ảnh hưởng của các giải pháp địa kỹ thuật trong 100 năm tới. Kết quả chỉ ra rằng, khi áp dụng các quy trình này riêng rẽ, mực nước biển vẫn dâng mạnh.

Tiến sĩ Jevrejeva cho rằng, quy trình hữu hiệu nhất là kết hợp cả 3 phương pháp nhằm thay đổi chu trình cacbon, vì những phương pháp này dựa trên cơ chế sinh học để loại CO2 trong khí quyển và dự trữ trong sinh quyển dưới dạng sinh khối, trong đất, hoặc trong các cấu tạo địa chất.

Chẳng hạn, trồng rừng sẽ làm giảm nồng độ CO2 trong khí quyển, nhưng chỉ giảm 45ppm, thấp hơn rất nhiều so với lượng phát thải của loài người. Chuyển các chất hữu cơ sang dạng than củi có thể làm giảm 35ppm. Việc sản xuất nhiên liệu sinh học có hiệu quả hơn. Kết hợp cả 3 phương pháp này có thể làm giảm nồng độ CO2 trong khí quyển đến 250ppm, và giới hạn mức nước biển dâng từ 20cm đến 40cm.

Công nghệ tạo kho chứa cacbon (carbon storage) cũng có nhiều ưu điểm, làm giảm nồng độ CO2 trong khí quyển.

Còn các phương pháp nhằm phản chiếu ánh sáng mặt trời quay trở lại vũ trụ không làm giảm nồng độ CO2. Nếu sử dụng gương vũ trụ, sẽ gặp phải khó khăn về công nghệ và rất đắt đỏ. Phương pháp dùng bụi SO2 ở tầng bình lưu cũng gây nhiều tranh cãi. Dù việc sử dụng SO2 có thể làm giảm nhiệt độ trái đất 1°C trong hàng thập kỷ, nồng độ CO2 vẫn giữ nguyên.

Các mô phỏng chỉ ra rằng, việc rải bụi SO2 trong tầng bình lưu giống như ảnh hưởng của các núi lửa lớn phun, xảy ra theo tần suất 1,5 năm. Bên cạnh giảm nhiệt độ trái đất, phương pháp này có thể làm chậm quá trình nước biển dâng 40 đến 80 năm.

Trong các quá trình phun trào của núi lửa, kèm theo ảnh hưởng làm giảm nhiệt độ trái đất là hạ mực nước biển. Nghiên cứu sử dụng các kịch bản, ứng với lượng bụi tương đương với đợt phun trào lớn nhất trong thế kỷ 20, phun trào của núi lửa Pinatubo, Phillipin 1991. Các hạt bụi từ tro núi lửa di chuyển đến tầng bình lưu và phản xạ các bức xạ từ mặt trời, nhưng lượng CO2 vẫn giữ nguyên trong khí quyển.

Không ai có thể biết liệu việc đưa bụi SO2 vào tầng bình lưu có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái hay không? Báo cáo của Viện khoa học quốc gia (PNAS) chỉ ra, việc rải bụi SO2 vào khí quyển dễ dẫn đến các hậu quả không mong muốn như làm thay đổi chu kỳ mưa, nồng độ ozone ở tầng bình lưu, và không làm giảm lượng CO2 bị hấp thụ bởi đại dương dẫn đến tăng độ axit trong nước biển.

Phương pháp gây tranh cãi này đã được thử trong quy mô nhỏ ở CHLB Nga, sử dụng máy bay nhỏ để rải bụi. "Lớp SO2 trong tầng bình lưu có thể làm giảm nhiệt độ trái đất một cách có hiệu quả, và là biện pháp rẻ tiền để chống lại BĐKH", giáo sư Yuri Israel từ Nga nói.

Nhưng nhiều người phản đối các công nghệ địa kỹ thuật, một trong số họ là Sir David King, Chủ tịch Hội đồng cố vấn khoa học Vương quốc Anh. "Điều làm tôi lo ngại là công nghệ rẻ và có thể thực thi, chỉ cần bất kỳ nước nào có tên lửa là có thể đưa bụi lên tầng bình lưu. Chúng tôi không tin tưởng vào các mô hình mô phỏng các quá trình của bụi ở đó".

Hãy tưởng tượng, nếu bụi có thể tạo thêm nhiều bụi hơn ở tầng bình lưu (bởi vì có nhiều hợp chất hóa học ở đó, gồm cả ozone), đến một lúc nào đó nhiều hơn mức dự kiến sẽ dẫn tới trái đất lạnh dần, trong khi ta muốn nhiệt độ ổn định. Sir David giải thích.

(Theo Minh Hạnh - Monre)

Ô nhiễm phóng xạ - Không nên quá lo lắng

There are no translations available.

Những cảnh báo về khu vực dân cư sinh sống trên nền đất nhiễm phóng xạ tự nhiên là có trên thực tế. Liên Đoàn Địa chất - Xạ hiếm cũng đang bắt tay xây dựng bản đồ phông nhiễm xạ ở Việt Nam. Tuy nhiên, những lo lắng thái quá về ô nhiễm phóng xạ từ đồ dùng có nguồn gốc từ đất nhiễm xạ là không nên. Đây là ý kiến của các chuyên gia địa chất.

Phóng xạ tự nhiên vẫn tồn tại

Câu chuyện về gạch men nhiễm phóng xạ cách đây vài năm đã từng làm không ít người lo lắng. Sự liên tưởng về những đồ dùng như gạch, đĩa, bát, chum vại sành sứ được sản xuất từ đất của những vùng có nhiễm phóng xạ cũng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe? Về điều này, ông Nguyễn Văn Nam, Phó phòng Kỹ thuật, Liên đoàn Địa chất – Xạ hiếm, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cho biết: Không nên mắc bệnh hoang tưởng về cái gọi là ô nhiễm phóng xạ. Cần biết rằng, môi trường xung quanh chúng ta chỗ nào cũng có phóng xạ, từ khoáng chất dưới đất hay tia vũ trụ trên trời. Đó là những nguồn xạ tự nhiên vốn đã được sinh ra từ khi hình thành trái đất. Điều quan trọng, nguồn phóng xạ này có nhiều hay ít, có vượt chuẩn hay không vượt chuẩn? Một điểm mà ông Nguyễn Văn Nam nhấn mạnh: Đa số chúng ta đều khỏe mạnh, điều đó cho thấy, nguồn xạ này hầu như là “chung sống hòa bình” với con người.

Về những thắc mắc của người dân, ông Nguyễn Thành Vạn, Phó Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản cho rằng: Đó là những thắc mắc rất logic và dễ hiểu. Tuy nhiên, ông Vạn cho rằng, không nên quá lo lắng.

Giải thích kỹ hơn về những vùng đất có nguồn phóng xạ tự nhiên, ông Nguyễn Văn Nam cho biết: Đó là những vùng chứa khoáng sản và đặc điểm của nó là phát lộ trên mặt đất. Chính vì vậy, những vùng đất này không nhiều. Nghiên cứu của Liên đoàn Địa chất – Xạ hiếm đã chỉ ra những vùng nhiễm xạ tự nhiên  như xã Tiên An (huyện Tiên Phước, Quảng Nam); Nậm Xe (Lai Châu), Bình Đường (Cao Bằng), Đông Nam Bến Giằng (Quảng Nam) và vùng mỏ đất hiếm Mường Hum (huyện Bát Xát, Lào Cai)... Tất cả những báo cáo nghiên cứu này đã được chuyển cho địa phương để họ có cách sử dụng khi thực hiện quy hoạch khu vực dân cư, các công trình công cộng, an sinh, quốc phòng.

Sớm hoàn thành bản đồ phân vùng ảnh hưởng phóng xạ

Về lý thuyết: Khi các nguyên tố phóng xạ có điều kiện phát tán vào nước, thực vật, không khí... chúng xâm nhập vào cơ thể qua đường thở và ăn uống, gây nguy hiểm. Nói cách khác, các nguyên tố phóng xạ phân rã trong cơ thể, phá huỷ hoặc gây biến đổi mô tế bào, dẫn tới ung thư, gây đột biến gen hoặc dị tật cho con cái của người bị chiếu xạ. Nếu bị chiếu ngoài (tia phóng xạ từ bên ngoài môi trường chiếu vào cơ thể) có thể gây bệnh máu trắng... Nguy hiểm hơn là người dân ở đây sinh sống, cầy cấy trên chính loại đất này khiến cây trồng của họ cũng có khả năng bị nhiễm xạ. Những loại cây được chỉ ra là có khả năng hấp thụ phóng xạ cao như khoai sọ, sắn, lạc, khoai lang...

Tuy nhiên, việc các chất phóng xạ có ảnh hưởng đến sức khỏe hay không, ảnh hưởng đến mức nào lại phụ thuộc rất nhiều vào cường độ phát xạ, thời gian tiếp xúc... Ông Nam đưa ra một ví dụ: Nếu viên gạch được làm từ vùng đất nhiễm phóng xạ tự nhiên thì nếu dùng để lát sân cũng khác hẳn với dùng để xây tường, làm nhà. Điều đó cho thấy, nếu chỉ đi qua vùng đó 1- 2 lần hoặc chỉ ăn ngô, lúa ở đây vài ba lần thì không thể phát bệnh ung thư, hay biến đổi gen như cảnh báo. Một đặc điểm nữa mà ông Nguyễn Văn Nam cũng nhấn mạnh: Đa số vùng nhiễm phóng xạ tự nhiên là vùng rừng núi cách xa khu dân cư. Điều này cũng là may mắn vì như vậy, nguồn phát xạ cũng được giảm thiểu rất nhiều.

Được biết, hiện tại, Liên đoàn Địa chất - Xạ hiếm đang được giao nhiệm vụ xây dựng bản đồ phông bức xạ của Việt Nam. Điều này có thể nói là khá chậm so với các nước vì nó rất có ý nghĩa trong việc xác định vùng quy hoạch đối với khu dân cư. Tuy nhiên, những phác thảo đầu tiên mới đang được xây dựng, nhanh cũng phải đến năm 2012 mới có thể hoàn thành bản đồ này.

(Theo Hoàng Lê - Monre)