Sun04052020

Last update02:53:14 AM GMT

Xử lý nước thải chăn nuôi bằng cây dầu mè

There are no translations available.

tt53Có cách nào thân thiện với môi trường, ít tốt kém, dễ thực hiện để xử lý nước thải chăn nuôi?
Câu hỏi ấy là một thử thách đối với Nguyễn Hà Phương Ngân - sinh viên Khoa Môi trường và Công nghệ sinh học ĐH Kỹ thuật công nghệ TP.HCM. Và cuối cùng cô đã tìm được câu trả lời với đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi bằng cây dầu mè (Jatropha curcas L.) trên mô hình bãi lọc thực vật”.
Mẫu nước thải chăn nuôi đầu vào được Ngân lấy từ một hộ gia đình chăn nuôi bò sữa ở xã Đông Thạnh, Hóc Môn, TP.HCM. Còn tìm cây dầu mè có phần khó khăn hơn.
Ngân nói: “TP.HCM cũng có cây này nhưng thường là cây lớn. Lúc đầu mình lấy hạt trồng nhưng do không biết cách chăm sóc nên số cây thu được không đủ thí nghiệm. Cuối cùng mình đón xe đêm đi Ninh Thuận để xin cây”.
“Quả ngọt” Ngân gặt được sau 30 ngày thí nghiệm, tốc độ phát triển của cây chính là cây cao gần gấp rưỡi chiều cao ban đầu, chứng tỏ cây có khả năng chịu đựng và thích nghi cao với nồng độ nước thải chăn nuôi, tốc độ phát triển của lá tăng 50% so với số lá ban đầu, khả năng tích lũy đạm trong cây cao đạt 39% lượng đạm đầu vào.
Trong đó, hàm lượng đạm tích lũy trong rễ 25%, thân 64%, lá 11%. Lượng đạm tích lũy trong đất cũng khoảng 39%, còn lại được vi sinh vật chuyển thành N2 thoát hơi...
Đây là giải pháp “nhất cử lưỡng tiện” khi vừa bảo vệ môi trường và hạt cây dầu mè là nguyên liệu sản xuất dầu sinh học (biodiesel - loại dầu sạch, thân thiện với môi trường) có giá trị kinh tế cao.
(Theo Monre.gov.vn)

Chế tạo thành công 5 chế phẩm vi sinh xử lý môi trường

There are no translations available.

Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình vừa chế tạo thành công 5 chế phẩm vi sinh xử lý môi trường gồm EM1, EM5 (dạng lỏng), EMFPE, EM Pokasi MT, EM Pokasi CN (dạng bột). Thành công của nghiên cứu sẽ thúc đẩy sự hình thành một nền công, nông nghiệp sạch, góp phần tích cực phục vụ phát triển bền vững.        
Các chế phẩm sinh học được chế tạo từ chế phẩm vi sinh gốc EM1 bổ sung thêm các nguyên liệu đường, bã ngô, bột gạo, nước… tạo ra 5 chế phẩm vi sinh trên. Các chế phẩm này có tác dụng xử lý rác thải, nước thải, khử mùi hôi, bổ sung vi sinh vật có ích tăng độ tơi xốp cho đất. Giá thành của các chế phẩm rẻ hơn các chế phẩm vi sinh có cùng tác dụng đang bán trên thị trường.       
Thời gian qua tại Quảng Bình, các chất thải công nghiệp, nông nghiệp đã thải ra môi trường nhiều, lại chưa được xử lý triệt để, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt tại bãi rác phường Đức Ninh (thành phố Đồng Hới), nước thải của Nhà máy Bia Hà Nội, các trang trại chăn nuôi, hồ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh. Với thành công của nghiên cứu kể trên, Quảng Bình chủ động được các sản phẩm xử lý hiệu quả các chất thải ảnh hưởng đến môi trường và có giá thành giảm.
(Theo Monre.gov.vn)

Công bố bản đồ rừng ngập mặn trên trái đất

There are no translations available.

Bản đồ được cho là toàn diện nhất từ trước đến nay, do các nhà khoa học thuộc Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) và Cơ quan Khảo sát địa chất Mỹ (USGS) công bố.
Các nhà khoa học cho biết, sau khi phân tích dữ liệu từ Hệ thống vệ tinh chụp ảnh trái đất (Landsat) của NASA, họ ước tính rừng ngập mặn còn tồn tại chiếm 12,3% diện tích bề mặt trái đất (tương đương khoảng 137.760km2).
Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Chandra Giri tại USGS, con số trên sẽ tiếp tục giảm trong tương lai: rừng ngập mặn toàn cầu đang biến mất nhanh chóng do biến đổi khí hậu làm mực nước biển dâng cao, phá rừng để phát triển kinh tế ven biển, làm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Theo số liệu của EO, Indonesia có 17.000 hòn đảo nhỏ và chiếm gần ¼ diện tích rừng ngập mặn trên thế giới. Tuy nhiên, các khu rừng này đã bị giảm một nửa trong ba thập kỷ qua - cụ thể giảm từ 4,2 triệu ha năm 1982 xuống còn 2 triệu trong năm 2000. Trong phần rừng còn lại, có gần 70% là “trong tình trạng nguy kịch và bị thiệt hại nặng”.
Tạp chí Science Daily cho biết, rừng ngập mặn được tìm thấy ở 118 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có khoảng 42% rừng ngập mặn trên thế giới được tìm thấy tại châu Á, theo sau là châu Phi với 21%, 15% thuộc Bắc và Trung Mỹ, 12% tại châu Đại Dương và cuối cùng là Nam Mỹ với 11%.
Theo Đài Quan sát Trái đất (EO) của NASA, rừng mập mặn là một trong những hệ sinh thái có mức đa dạng sinh học cao trên hành tinh và là hệ sinh thái đặc trưng của đường bờ biển nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Rừng mập mặn còn được xem là “vườn ươm” cho nhiều loài sinh vật biển, cung cấp kế sinh nhai cho cư dân ven biển, cũng như làm “lá chắn” hiệu quả trước những cơn bão và sóng thần. Tầm quan trọng của rừng này to lớn như thế nhưng qua nghiên cứu cho biết có chưa đầy 7% diện tích rừng ngập mặn trên thế giới là được bảo vệ bởi luật pháp.
(Theo Monre.gov.vn)

Khoa học công nghệ về TN&MT: Sử dụng phần mềm Modflow đánh giá nước dưới đất

There are no translations available.

Khu công nghiệp (KCN) cảng biển Hòn La (Quảng Bình) là một trong những dự án phát triển kinh tế vùng ven biển Bắc Trung Bộ và là khu công nghiệp tổng hợp, đa ngành và cảng biển của tỉnh. KCN này thuộc địa phận các thôn Vĩnh Sơn, Minh Sơn, Thọ Sơn, Đông Hưng và 19/5 thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch. Để KCN có thể tồn tại và phát triển, vấn đề cung cấp nước cho những mục đích khác nhau là một trong những yếu tố không thể thiếu. Chính vì vậy, việc đánh giá trữ lượng khai thác tiềm năng dưới đất làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp khai thác và bảo vệ nguồn nước trong khu vực có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn.  

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và nguyên tắc "dạng tồn tại của nước dưới đất", các nhà khoa học Nguyễn Văn Canh, Nguyễn Đình Tiến (Đại học Khoa học - Đại học Huế) đã chia vùng nghiên cứu thành 4 tầng chứa nước và một thành tạo địa chất rất nghèo nước đến cách nước.

Trên cơ sở các điều kiện địa chất thủy văn của KCN, các nhà khoa học đã áp dụng phần mềm Modflow để mô hình hóa quá trình thẩm định và đánh giá trữ lượng khai thác tiềm năng của nước dưới đất.

Để xây dựng mô hình tính toán, trên bình đồ vùng mô hình được phân chia thành mạng lưới ô vuông gồm 80 cột và 70 hàng, tổng cộng có 5.600 ô lưới, với kích thước mỗi ô lưới là 100x100 m.

Về tổng thể, các tầng chứa nước này có quan hệ với nhau chặt chẽ, tạo thành một thể địa chất chứa nước thống nhất phủ lên nền đá gốc cách nước (nằm ở độ sâu 40-60m). Trường thấm được mô phỏng gồm 4 lớp: Lớp thức nhất, vùng dọc ven biển và ở thôn Minh Sơn mô phỏng tầng chứa nước Holocen, vùng dọc chân núi phía Tây phân chia, vùng trung tâm và phía Tây mô phỏng tầng chứa nước Pleistocen và tầng chứa nước khe nứt - đứt gãy hệ tầng Đồng Trầu.

Lớp thứ hai, tại vùng thôn Vĩnh Sơn mô phỏng tầng trầm tích thấm nước rất kém. Còn ở các vùng khác tiếp tục mô phỏng các trầm tích lộ tại khu vực đó.

Lớp thứ ba tại vùng thôn Vĩnh Sơn bên dưới diện phân bố của tầng trầm tích, các nhà khoa học mổ phòng tầng chứa nước Pleistocen. Ở các vùng còn lại, mô phỏng tầng chứa nước khe nứt - đứt gãy hệ tầng Đồng Trầu.

Lớp thứ tư, toàn bộ vùng nghiên cứu được mô phỏng bởi tầng chứa nước khe nét - đứt gãy hệ thống Đồng Trầu.

Để giải bài toán thuận có khai thác, các nhà khoa học đã sơ đồ hóa toàn bộ các vùng có thể khai thác được của các tầng chứa nước thành một hệ thống bãi giếng khai thác bao gồm 962 lỗ khoan. Mỗi ô lưới được xem như một giếng khai thác, phân bố cách nhau 100m.

Phương pháp giải là phương pháp lặp. Ban đầu gắn lưu lượng cho từng giếng khai thác, sau đó chạy mô hình với thời gian khai thác 27 năm, cho ra kết quả mực nước trên toàn vùng và kiểm tra so sánh cao trình mực nước tính toàn khai thác với cao trình mực nước cho phép tại các lỗ khoan quan trắc mực nước. Nếu cao trình mực nước tính toán nằm dưới cao trình mực nước hạ thấp cho phép thì giảm lưu lượng khai thác tại các giếng lân cận lỗ khoan quan trắc mực nước và ngược lại.

Công việc trên lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi tại các lỗ quan trắc mực nước đều có cao trình mực nước tính toán khai thác gần và bằng với cao trình cho phép thì đảm bảo, tổng lưu lượng của tất cả các giếng khai thác chính là trữ lượng khai thác tiềm năng của nước dưới đất.

Từ các kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định được trữ lượng khai thác tiềm năng là 8.351,56 m3/ ngày đêm, trong đó nguồn nước hình thành chủ yếu là trữ lượng tĩnh là 2.475,89 m3/ ngày đêm, nước mưa thấm trên diện phân bố 872,64 m3/ ngày đêm, thấm xuyên từ hồ Đồng Mười Dưới và Trên là 955,92 m3/ ngày đêm. Phần còn lại được cung cấp bổ sung từ các vùng địa hình cao phía Tây là 4.047,11 m3/ ngày đêm.

Nguồn trữ lượng khai thác tiềm năng chủ yếu là bổ sung từ các vùng địa hình cao phía Tây, trữ lượng tĩnh, thấm xuyên từ hồ Đồng Mười Dưới và trên và cung cấp của nước mưa trên diện tích phân bố. Các lớp trầm tích của đới thông khí và lớp thổ nhưỡng là cát mịn, cho nên nước dưới đất trong vùng rất dễ bị nhiễm bẩn bởi các nhân tố trên mặt, đặc biệt là các nhân tố nhân tạo.

 

(Theo Monre.gov.vn)

Công nghệ mới biến chất thải thành sản phẩm có giá trị

There are no translations available.

Với công nghệ mới, bụi thép (dạng chất thải bụi có chứa sắt) sẽ được tái chế lại và đưa vào sử dụng. Công nghệ này được giới thiệu tạ Hội thảo “Công nghệ OxIndus: Biến chất thải thành sản phẩm có giá trị” nhằm giới thiệu công nghệ xử lý và tái chế bụi thép tới doanh nghiệp và xúc tiến chuyển giao công nghệ này vào Việt Nam. 

Hội thảo do Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ phối hợp với Công ty Nghiên cứu phát triển nguồn lực tự nhiên (NRD), Công ty Hóa chất, Kim loại và Khoáng sản (CMM) - Cộng hòa Pháp tổ chức tại Hà Nội.

Công nghệ OxIndus giúp giải quyết vấn đề bụi thép (bụi thép sinh ra từ lò hồ quang điện) được giới thiệu gồm có 2 quy trình: Tái chế hoàn toàn bụi thép, triển khai tại nhà máy thép, tập trung ở khâu trộn bụi thép với các chất phụ gia và tái tuần hoàn vào lò hồ quang cho phép thu hồi lượng sắt hao hụt, nâng cao hàm lượng các kim loại có giá trị (kẽm) chứa trong bụi, giảm phát thải các khí độc hại và thu hồi được một loại bụi mới, giàu kẽm và chứa rất ít sắt ; Quy trình xử lý tinh giúp, xử lý triệt để bụi thu hồi được từ quy trình tái chế bụi thép, cho phép loại bỏ Chlore và giảm thiểu hàm lượng Fluor, được xử lý tập trung trong một nhà máy có khả năng tiếp nhận toàn bộ lượng bụi thép từ các nhà máy thép tại Việt Nam. 

Công nghệ OxIndus được các nhà khoa học đánh giá là công nghệ hiệu quả, đem lại giải pháp khả thi về môi trường và kinh tế trong sản xuất thép bằng công nghệ Lò hồ quang điện. Toàn bộ quy trình không làm phát sinh chất thải độc hại. Sản phẩm thu được, gọi là OxIndus, là một nguyên liệu phụ cho công nghiệp sản xuất kim loại kẽm.

Phương Nga

5.853 hộ bị thiệt hại do Công ty Vedan xả thải

Ban Chỉ đạo bồi thường thiệt hại do Công ty cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam xả thải cho biết, tính đến thời điểm này tỉnh đã nhận được 5.853 đơn của các hộ bị thiệt hại, phát sinh hơn 800 đơn so với thống kê ban đầu.

Trong đó, huyện Nhơn Trạch có 3.625 đơn, thuộc 2 xã Long Thọ, Phước An và huyện Long Thành 2.228 đơn thuộc 4 xã: Phước Thái, Long Phước, Tân Hiệp, Phước Bình. Hiện các xã có người dân bị thiệt hại do Công ty Vedan xả thải đã tiến hành xác minh thực tế đạt 90-95% và niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã. Trong thời gian tới, Ban chỉ đạo sẽ tiếp tục phối hợp với 2 huyện nói trên đẩy nhanh tiến độ xác minh, niêm yết mức thiệt hại và số tiền bồi thường; nếu người dân thống nhất, Ban chỉ đạo và địa phương nhanh chóng chi trả tiền bồi thường.

Hương Giang

 

 

(Theo  Monre.gov.vn)

Hỗ trợ quản lý tốt hơn các nguy cơ thảm họa tự nhiên trên toàn cầu

There are no translations available.

Các nhà công nghệ thông tin hàng đầu thế giới như Google, Microsoft, Yahoo cùng Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA), Ngân hàng Thế giới (WB) và các nhà lập trình phần mềm tư nhân trên toàn cầu đang thúc đẩy các nỗ lực hợp tác để hỗ trợ quản lý tốt hơn các nguy cơ thảm họa tự nhiên trên toàn cầu.

Hội nghị "Lập trình ngẫu nhiên với thiện chí" lần thứ 3 (RHoK) được các đại gia công nghệ thông tin này phối hợp tổ chức tại hơn 20 địa điểm trên khắp thế giới vào đầu tháng 12 sẽ tập hợp các nhà lập trình phần mềm nổi tiếng thế giới và các chuyên gia hàng đầu về quản lý các nguy cơ thảm họa tự nhiên toàn cầu để tìm kiếm các giải pháp phần mềm có thể giúp làm giảm hoặc phản ứng hiệu quả hơn trước các thách thức này. 

Các hội nghị RHoK tập trung vào việc sử dụng sáng tạo và hợp tác công nghệ, phát huy sức mạnh của trí tuệ tập thể để làm cho thế giới an toàn hơn. 

Hội nghị RHoK lần thứ nhất tại thành phố Mountain View, bang California (Mỹ) tháng 11/2009 đã dẫn đến những ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình quản lý và xử lý các thảm họa động đất ở Haiti và Chile. 

Hội nghị RHoK lần thứ 2 được tổ chức đồng thời ở sáu nước trên khắp thế giới vào tháng 06/2010 đã dẫn đến các ứng dụng thành công trong quan sát và phát hiện nguy cơ lở đất cũng như giúp phát triển các kế hoạch xây dựng ở thành thị cũng như nông thôn. WB đã ứng dụng các thành quả này thành công ở các nước Caribe. 

Các hội nghị này cũng tạo cho các nhà lập trình tư nhân các cơ hội sử dụng tài năng vào những mục đích tốt đẹp với sự định hướng của các chuyên gia hàng đầu về các nguy cơ và thách thức đối với nhân loại. 

Giám đốc Google về quảng bá mạng Internet, ông Vint Cerf cho biết, các Hãng Google, Microsoft, Yahoo, NASA và WB hỗ trợ các hội nghị RHoK nhằm nối kết cộng đồng các nhà lập trình phần mềm với các chuyên gia về thảm họa tự nhiên, khuyến khích cộng đồng các nhà lập trình phần mềm toàn cầu tăng cường hợp tác và đổi mới công nghệ, tận dụng tri thức công nghệ phục vụ phát triển bền vững, thúc đẩy sử dụng các dữ kiện mở để giải quyết các thách thức lớn nhất của thế giới.

 

(Theo TTXVN)