Thu10012020

Last update02:00:00 PM GMT

Thông báo - Dự báo

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Và Cảnh Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 5 Năm 2020 Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ

There are no translations available.

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước và 5 năm trước cho toàn vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp).

Tầng chứa nước Holocene (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 hạ so với tháng 4 với 21/22 công trình có mực nước hạ, 1/22 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 0,51m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9a-QN)

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -8,67m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9a-QN) và nông nhất là -1,57m tại TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam (QT13a-QD).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng hạ so với thực đo tháng 5.

Tầng chứa nước Pleistocene (qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 hạ so với tháng 4 với 10/10 công trình có mực nước hạ. Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 0,32m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9b-QN).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -8,21m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9b-QN) và nông nhất là -1,98m tại xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, Quảng Nam (QT14-QD).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng hạ so với thực đo tháng 5.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 5 Năm 2020 Vùng Nam Bộ

There are no translations available.

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước cho toàn vùng Nam Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22) và tầng chứa nước Pliocene hạ (n21).

Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 5.

Tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 41/59 công trình mực nước hạ, 6/59 công trình mực nước dâng và 12/59 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 1,28m tại TT Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang (Q625020) và giá trị dâng cao nhất là 1,10m tại phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh (Q625020).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -12,85m tại xã Tập Sơn, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (Q404020). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,64m tại xã Truông Mít, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (Q00102CM1).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 5.

Tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4  có xu thế hạ, có 33/53 công trình mực nước hạ, 10/53 công trình mực nước dâng và 10/53 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 1,78m tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (Q630030) và giá trị dâng cao nhất là 1,00m tại Phường Cái Vồn, TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (Q209030M1).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -28,10m tại phường Đông Hưng, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh (Q019340). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,56m tại phường Cái Vồn, TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (Q209030).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 5.

Cảnh báo: Độ sâu mực nước trung bình tháng 5 ở quận 12 tại phường Đông Hưng đạt -28,10m (Q019340) và phường Trung Mỹ Tây đạt -24,20m (Q011340) đạt 70,25% và 60,5% mực nước hạ thấp cho phép (-40m) của tầng chứa nước có áp. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 40/49 công trình mực nước hạ, 4/49 công trình mực nước dâng và 5/49 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,94m tại xã Đông Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (Q621040) và giá trị dâng cao nhất là 0,43m tại xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Q040020).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -26,02m tại Phường 5, Tp Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Q188030). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,73m tại xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Q040020).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 5.

Cảnh báo: Độ sâu mực nước trung bình tháng 5  ở quận 12 tại phường Hiệp Thành đạt -21,27m (Q017030M1); huyện Nhơn Trạch tại xã Hiệp Phước đạt -19,12m (Q039340M1) đạt 53,18%, 63,73% mực nước hạ thấp cho phép         (-30m) của tầng chứa nước có áp. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Tầng chứa nước Pliocene trung (n22)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 36/53 công trình mực nước hạ, 8/53 công trình mực nước dâng và 9/53 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 1,22m tại xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (Q22504TM1) và có một công trình mực nước dâng với giá trị là 0,41m tại  Phường 1, TX Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (Q217030M1).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -25,78m tại phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh (Q011040). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,09m tại xã Phú Xuân, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (Q611050)

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 5.

Cảnh báo: Độ sâu mực nước trung bình tháng 5 ở quận 12 tại phường Trung Mỹ Tây đạt -25,78m (Q011040) và ở huyện Bình Chánh tại xã Lê Minh Xuân đạt -19,90m (Q808040) đạt 64,45% và 49,75% mực nước hạ thấp cho phép (-40m) của tầng chứa nước có áp. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Tầng chứa nước Pliocene hạ (n21)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 28/40 công trình mực nước hạ, 7/40 công trình mực nước dâng và 5/40 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 1,69m tại xã Bình Đông, TX Gò Công, tỉnh Tiền Giang (Q622060) và giá trị dâng cao nhất là 1,64m tại xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (Q405050M1).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -25,08m tại xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (Q604060). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -6,15m tại xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (Q222040).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng dâng hạ không rõ ràng so với mực nước thực đo tháng 5.

Cảnh báo: Độ sâu mực nước trung bình tháng 5 ở huyện Thủ Thừa tại xã Nhị Thành đạt -25,08m (Q604060); ở huyện Lai Vung tại xã Hòa Long đạt -16,44m (Q206040M1) đạt 83,6%, 54,8% mực nước hạ thấp cho phép (-30m) của tầng chứa nước có áp. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 5 Năm 2020 Vùng Bắc Trung Bộ

There are no translations available.

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước cho toàn vùng Bắc Trung Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính Holecene (qh) và Pleistocene (qp). Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 5.

TẦNG CHỨA NƯỚC HOLOCENE (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4, với 48/66 công trình có mực nước hạ, 12/66 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể và 6/66 công trình có mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,46m tại xã Quỳnh Dị, Tx. Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An (QT1-NA) và dâng cao nhất là 0,35m tại xã Hưng Hòa, TP. Vinh, tỉnh Nghệ An (QT12a-NA).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,21m xã Thạch Đỉnh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh (QT7-HT) và sâu nhất là -14,76m tại xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (QT2-HÐ).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu thế hạ so với mực nước thực đo tháng 5 với 42/66 công trình mực nước hạ, 15/66 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 9/66 dâng hạ không đáng kể. Mực nước hạ thấp từ 0,5 đến 1,0m tập trung ở khu vực huyện Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hóa); huyện Cẩm Xuyên, Hương Sơn (tỉnh Hà Tĩnh); huyện Quảng Trạch, Bố Trạch (tỉnh Quảng Bình) và mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0m tập trung chủ yếu khu vực huyện Thái Hòa (tỉnh Nghệ An); huyện Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình).

TẦNG CHỨA NƯỚC PLEISTOCENE (qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4 với 47/71 công trình có mực nước hạ, 18/71 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể và 6/71 công trình có mực nước dâng. Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 1,26m tại xã Hương Thủy, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh (QT2a-HK) và dâng cao nhất là 0,58m tại P. Nghi Thu, Tx. Cửa Lò, tỉnh Nghệ An (QT8b-NA).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,20m tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (QT3b-H) và sâu nhất là -13,19m xã Hùng Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An (QT2a-CC).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu thế hạ so với mực nước thực đo tháng 5 với 39/71 công trình mực nước hạ, 14/71 công trình mực nước dâng và 18/66 dâng hạ không đáng kể. Mực nước hạ thấp từ 1,0 đến 2,0m tập trung ở khu vực huyện Nghi   Lộc (tỉnh Nghệ An), hạ thấp từ 0,5 đến 1,0m phân bố ở huyện Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hóa); huyện Quỳ Hợp (tỉnh Nghệ An); huyện Hương Sơn (tỉnh Hà Tĩnh); huyện Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình) và mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0m tập trung ở khu vực huyện Thiệu Hóa (tỉnh Thanh Hóa); huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh)

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 5 Năm 2020 Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ

There are no translations available.

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước cho toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp).

Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 5.

Tầng chứa nước Holocene (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế dâng hạ không đáng kể, có 14/42 công trình mực nước hạ, 13/42 công trình mực nước dâng và 15/42 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là -0,74 m xã Trực Phú, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Q.109) và giá trị dâng cao nhất là 0,56 m tại xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (Q.89).

Trong tháng 5: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,01 m tại Xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.1) và sâu nhất là -13,06 m tại P. Tứ Liên, Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu thế hạ so với mực nước thực đo tháng 5.

Tầng chứa nước Pleistocene (qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, với 20/62 công trình mực nước dâng, 28/62 công trình mực nước hạ và 14/62 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 0,62 m tại xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.1aM1) và giá trị hạ thấp nhất là 0,80 m tại xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội (Q.76a) (xem hình 7).

Trong tháng 5: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0.27 m tại P. Lê Hồng Phong, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (Q.82a) và sâu nhất là -29,32 m tại P. Dịch Vọng, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội (Q.63aM).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu thế hạ so với mực nước thực đo tháng 5.

Cảnh báo: Các cơ quan quản lý tài nguyên nước và các hộ khai thác nước dưới đất cần chú ý đến lượng khai thác và chế độ khai thác hợp lý tại phường Mai Dịch quận Cầu Giấy và phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội vì mực nước dưới đất tại đây đã chạm ngưỡng cảnh báo cấp 1 là 83-85 % giá trị giới hạn cho phép.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Mặt Tháng 5 Năm 2020

There are no translations available.

Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ có 2 trạm trạm quan trắc TNN mặt (Phú Ninh và An Thạnh). Kết quả quan trắc cho thấy như sau.
Về mực nước:
– Trạm Phú Ninh: Mực nước trung bình tháng 5 năm 2020 trên sông Yên Thuận tại trạm Phú Ninh là 3155cm, giảm 10cm so với tháng trước, tăng 4cm so với tháng cùng kỳ năm 2019. Giá trị mực nước lớn nhất là 3171cm (ngày 05/5), giá trị mực nước nhỏ nhất là 3147cm (ngày 29/5).
– Trạm An Thạnh: Mực nước trung bình tháng 5 năm 2020 trên sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh là 318cm, giảm 12cm so với tháng trước, giảm 09cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 03cm so với giá trị tháng 5 TBNN. Giá trị mực nước lớn nhất là 348cm (ngày 24/5), giá trị mực nước nhỏ nhất là 296cm (ngày 12/5).
Về lưu lượng nước:
– Trạm Phú Ninh: Trong tháng 5 năm 2020, tại trạm Phú Ninh tiến hành đo lưu lượng nước 2 lần. Lưu lượng trung bình tháng 5 là 19,0m3/s, giảm 7,4m3/s so với tháng trước, giảm 0,9m3/s so với tháng 5 năm 2019. Lưu lượng nước lớn nhất là 20,5m3/s (ngày 03/5), lưu lượng nước nhỏ nhất là 17,5m3/s (ngày 18/5).
– Trạm An Thạnh: Trong tháng 5 năm 2020, tại trạm An Thạnh có 02 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 5 là 66,9m3/s, giảm 8,6m3/s so với tháng trước, giảm 5,8m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 10,6m3/s so với tháng 5 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 20,5m3/s (ngày 03/5), lưu lượng nước nhỏ nhất là 17,5m3/s (ngày 18/5).
Về chất lượng nước:
– Kết quả tính toán chất lượng nước sông tại trạm Phú Ninh theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông có thể sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt.
–  Kết quả tính toán chất lượng nước sông tại trạm An Thạnh theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông có thể sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt.
Vùng Tây Nguyên
Vùng Tây Nguyên có 4 trạm quan trắc TNN mặt (Ya Yun Hạ, Đức Xuyên, Đại Ninh và Cát Tiên). Kết quả quan trắc cho thấy như sau:
Về mực nước:
– Tại trạm Ya Yun Hạ: Mực nước trung bình tháng 5 năm 2020 trên sông Yayun tại trạm Ya Yun Hạ là 20773cm, tăng 02cm so với tháng trước, giảm 14cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 24cm so với tháng 5 TBNN. Giá trị mực nước lớn nhất là 20844cm (ngày 20/5), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20744cm (ngày 25/5).
– Tại trạm Đức Xuyên: Mực nước trung bình tháng 5 năm 2020 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên là 48665cm, tăng 39cm so với tháng trước, giảm 16cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 06cm so với giá trị tháng 5 TBNN. Giá trị lớn nhất là 48714cm (ngày 23/5), giá trị nhỏ nhất là 48599cm (ngày 12/5).
– Tại trạm Đại Ninh: Mực nước trung bình tháng 5 năm 2020 trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh là 87987cm, tăng 09cm so với tháng trước, giảm 36cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 20cm so với giá trị tháng 5 TBNN. Giá trị lớn nhất là 88026cm (ngày 28/5), giá trị nhỏ nhất là 87957cm (ngày 13/5).
– Tại trạm Cát Tiên: Mực nước trung bình tháng 5 năm 2020 trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên là 12709cm, tăng 43cm so với tháng trước, tăng 18cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 12cm so với giá trị tháng 5 TBNN. Giá trị lớn nhất là 12862cm (ngày 09/5), giá trị nhỏ nhất là 12563cm (ngày 30/5).
Về lưu lượng nước:
– Tại trạm Ya Yun Hạ: Trong tháng 5 năm 2020, tại trạm YaYun Hạ có 05 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 5 là 9,0m3/s, tăng 2,8m3/s so với tháng trước, giảm 2,6m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 4,2m3/s so với tháng 5 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 12,7m3/s (ngày 22/5), lưu lượng nước nhỏ nhất là 3,05m3/s (ngày 19/5).
– Tại trạm Đức Xuyên: Tháng 5 năm 2020, tại trạm Đức Xuyên có 05 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 4 là 19,5m3/s, tăng 8,6m3/s so với tháng trước, tăng 3,5m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 6,6m3/s so với tháng 5 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 28,8m3/s (ngày 23/5), lưu lượng nước nhỏ nhất là 15,1m3/s (ngày 28/5).
– Tại trạm Đại Ninh: Tháng 5 năm 2020, tại trạm Đại Ninh có 05 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng trung bình tháng 5 là 1,7m3/s, tăng 0,76m3/s so với tháng trước, giảm 11,15m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 11,5m3/s so với tháng 5 TBNN. Lưu lượng lớn nhất là 3,25m3/s (ngày 23/5), lưu lượng nhỏ nhất là 0,222m3/s (ngày 13/5).
– Tại trạm Cát Tiên: Tháng 5 năm 2020, tại trạm Cát Tiên có 6 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng trung bình tháng 5 là 155m3/s, tăng 50m3/s so với tháng trước, tăng 14,5m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 15,0m3/s so với tháng 5 TBNN. Lưu lượng lớn nhất là 201m3/s (ngày 08/5), lưu lượng nhỏ nhất là 128,0m3/s (ngày 05/5).
Về chất lượng nước:
– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Ya Yun tại trạm Yayun Hạ cho thấy cho thấy vào đầu tháng, chất lượng nước sông có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý thich hợp. Đến giữa tháng, chất lượng sông được cải thiện tốt hơn, có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên cho thấy: chất lượng nước sông có thể đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý thích hợp.
– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh cho thấy: chất lượng nước sông có thể đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý thích hợp.
– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên cho thấy vào đầu tháng, chất lượng nước sông có thể sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác, đến giữa tháng, chất lượng nước sông được cải thiện, có thể sử dụng cho mục đích sinh hoạt nhưng cần có các biện pháp xử lý thích hợp.
Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Mặt Tháng 5 Năm 2020 Vùng Lưu Vực Sông Sprepok

There are no translations available.

DỰ BÁO TNN MẶT LƯU VỰC SÔNG SRÊ PỐK

  1.  Kết quả quan trắc số lượng và chất lượng nước tháng 5 năm 2020 được tổng hợp, đánh giá như sau:

* Số lượng nước

– Mực nước trung bình tháng 5 năm 2020 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên là 48665cm, tăng 39cm so với tháng trước, giảm 16cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 06cm so với giá trị tháng 5 TBNN. Giá trị lớn nhất là 48714cm (ngày 23/5), giá trị nhỏ nhất là 48599cm (ngày 12/5).

– Tháng 5 năm 2020, tại trạm Đức Xuyên có 05 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 4 là 19,5m3/s, tăng 8,6m3/s so với tháng trước, tăng 3,5m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 6,6m3/s so với tháng 5 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 28,8m3/s (ngày 23/5), lưu lượng nước nhỏ nhất là 15,1m3/s (ngày 28/5)

– Trong tháng 5 năm 2020, tổng lượng nước trên sông Ea Krông Nô chảy qua mặt cắt ngang tại trạm Đức Xuyên vào khoảng 52,3 triệu m3, tăng 24,0 triệu m3 so với tháng trước.

* Chất lượng nước

Kết quả tính toán chất lượng nước sông tại đây theo chỉ số WQI cho thấy: chất lượng nước sông có thể đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý thích hợp.

  1.  Dự báo tài nguyên nước mặt trên từng tiểu vùng thuộc lưu vực sông Srê Pốk

Dựa trên số liệu dự báo lượng mưa trong tháng 6 năm 2020 từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho thấy: tổng lượng mưa trên vùng Tây Nguyên dao động phổ biến xấp xỉ so với giá trị TBNN cùng thời kỳ. Trên cơ sở đó, chúng tôi đã tiến hành dự báo tổng lượng nước đến tại các vị trí trên lưu vực sông Srê Pốk trong tháng 6 năm 2020, cụ thể như sau:

Bảng 1.1:        Dự báo tổng lượng nước đến tại các điểm dự báo trong tháng 6 năm 2020 trên lưu vực sông Srê Pốk (106 m3)

TT

Vị trí dự báo

TBNN (1981 – 2010)

Tổng lượng nước đến

1

Ia Bông

47,6

2

Ia Drăng

104,5

3

Ia Mơ

160,0

4

Ea Lê

91,7

5

Ya Hleo

272,8

6

Giang Sơn

114,8

104,4

7

Thủy văn Đức Xuyên

207,4

195,5

8

Cầu 14

486,7

465,6

9

Bản Đôn

567,7

557,9

10

Hồ SrêPok

662,2

11

TNN Đức Xuyên

66,8

12

Hòa Tân

76,4

13

Buôn Trấp

147,6

14

Krông Nô

164,1

15

Bình Hòa

228,7

Tại trạm Đức Xuyên, tổng lượng nước dự báo tháng 06 năm 2020 giảm khoảng 26,4 triệu m3 so với tổng lượng nước thực đo của tháng cùng kỳ năm 2019.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Mặt Tháng 4 Năm 2020 Vùng Lưu Vực Sông Sprepok

There are no translations available.

DỰ BÁO TNN MẶT LƯU VỰC SÔNG SRÊ PỐK

  1. Kết quả quan trắc số lượng và chất lượng nước tháng 3 năm 2020 được tổng hợp, đánh giá như sau:

* Số lượng nước

– Mực nước trung bình tháng 4 năm 2020 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên là 48626cm, giảm 14cm so với tháng trước, giảm 36cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 11cm so với giá trị tháng 4 TBNN. Giá trị lớn nhất là 48656cm (ngày 26/4), giá trị nhỏ nhất là 48597cm (ngày 12/4).

– Tháng 4 năm 2020, tại trạm Đức Xuyên có 03 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 4 là 10,9m3/s, giảm 1,8m3/s so với tháng trước, giảm 1,4m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 4,2m3/s so với tháng 4 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 12,1m3/s (ngày 16/4), lưu lượng nước nhỏ nhất là 10,2m3/s (ngày 07/4)

– Trong tháng 4 năm 2020, tổng lượng nước trên sông Ea Krông Nô chảy qua mặt cắt ngang tại trạm Đức Xuyên vào khoảng 28,3 triệu m3, giảm 5,8 triệu m3 so với tháng trước.

* Chất lượng nước

Kết quả tính toán chất lượng nước sông tại đây theo chỉ số WQI cho thấy: vào đầu tháng, chất lượng nước sông có thể đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý thích hợp. Đến giữa tháng, do nồng độ tổng Coliform tăng cao đột biến, chất lượng nước sông bị ô nhiễm nặng.

  1. Dự báo tài nguyên nước mặt trên từng tiểu vùng thuộc lưu vực sông Srê Pốk

Dựa trên số liệu dự báo lượng mưa trong tháng 5 năm 2020 từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho thấy: tổng lượng mưa trong tháng 5 năm 2020 trên vùng Tây Nguyên thấp hơn 15% – 30% so với TBNN cùng thời kỳ. Trên cơ sở đó, chúng tôi đã tiến hành dự báo tổng lượng nước đến tại các vị trí trên lưu vực Srê Pốk trong tháng 5 năm 2020, cụ thể như sau:

Bảng 1.1:          Dự báo tổng lượng nước đến tại các điểm dự báo trong tháng 5 năm 2020 trên lưu vực sông Srê Pốk (106 m3)

TT

Vị trí dự báo

TBNN (1981 – 2010)

Tổng lượng nước đến

1

Ia Bông

13,8 ± 1,8

2

Ia Drăng

29,5 ± 4,2

3

Ia Mơ

51,9 ± 6,2

4

Ea Lê

38,5 ± 5,6

5

Ya Hleo

106,2 ± 6,4

6

Giang Sơn

87,9

68,7 ± 9,6

7

Thủy văn Đức Xuyên

140,0

88,1 ± 8,8

8

Cầu 14

337,5

202,5 ± 22,5

9

Bản Đôn

402,3

258,1 ± 27,3

10

Hồ SrêPok

311,7 ± 43,6

11

TNN Đức Xuyên

44,6 ± 16,7

12

Hòa Tân

29,5 ± 14,7

13

Buôn Trấp

82,3 ± 10,8

14

Krông Nô

76,9 ± 7,9

15

Bình Hòa

105,4 ± 9,9

Tại trạm Đức Xuyên, tổng lượng nước dự báo tháng 5 năm 2020 tăng khoảng 3,6 triệu m3 so với tổng lượng nước thực đo của tháng cùng kỳ năm 2019.

  1. Dự báo lượng nước có thể khai thác, sử dụng trên dòng chính sông Srê Pốk

Trên cơ sở số liệu đã tính toán, dự báo lượng tổng lượng nước đến, chúng tôi đã xác định được lượng nước có thể khai thác sử dụng cho các nhu cầu sử dụng nước mặt của các ngành tại 15 điểm dự báo như sau:

Bảng 1.2:          Dự báo lượng nước có thể khai thác, sử dụng trong tháng 5/2020 (106 m3)

TT

Vị trí dự báo

Lượng nước có thể KTSD

1

Ia Bông

10,5 ± 1,8

2

Ia Drăng

23,8 ± 4,2

3

Ia Mơ

39,1 ± 6,2

4

Ea Lê

23,0 ± 5,6

5

Ya Hleo

69,1 ± 6,4

6

Giang Sơn

65,2 ± 9,6

7

Thủy văn Đức Xuyên

72,3 ± 8,8

8

Cầu 14

174,6 ± 22,5

9

Bản Đôn

216,8 ± 27,3

10

Hồ SrêPok

261,0 ± 43,6

11

TNN Đức Xuyên

39,4 ± 16,7

12

Hòa Tân

26,9 ± 14,7

13

Buôn Trấp

75,1 ± 10,8

14

Krông Nô

63,5 ± 7,9

15

Bình Hòa

87,2 ± 9,9

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Mặt Tháng 4 Năm 2020

There are no translations available.

Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ có 2 trạm trạm quan trắc TNN mặt (Phú Ninh và An Thạnh). Kết quả quan trắc cho thấy như sau.

Về mực nước:

– Trạm Phú Ninh: Mực nước trung bình tháng 4 năm 2020 trên sông Yên Thuận tại trạm Phú Ninh là 3165cm, giảm 7cm so với tháng trước, tăng 12cm so với tháng cùng kỳ năm 2019. Giá trị mực nước lớn nhất là 3195cm (ngày 20/4), giá trị mực nước nhỏ nhất là 3158cm (ngày 19/4).

– Trạm An Thạnh: Mực nước trung bình tháng 4 năm 2020 trên sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh là 330cm, tăng 03cm so với tháng trước, tăng 05cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 08cm so với giá trị tháng 4 TBNN. Giá trị mực nước lớn nhất là 344cm (ngày 14/4), giá trị mực nước nhỏ nhất là 316cm (ngày 21/4).

Về lưu lượng nước:

– Trạm Phú Ninh: Trong tháng 4 năm 2020, tại trạm Phú Ninh tiến hành đo lưu lượng nước 2 lần. Lưu lượng trung bình tháng 4 là 26,4m3/s, giảm 3,2m3/s so với tháng trước, giảm 0,6m3/s so với tháng 4 năm 2019. Lưu lượng nước lớn nhất là 30,2m3/s (ngày 22/4), lưu lượng nước nhỏ nhất là 22,6m3/s (ngày 08/4).

– Trạm An Thạnh: Trong tháng 4 năm 2020, tại trạm An Thạnh có 03 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 4 là 75,5m3/s, tăng 6,4m3/s so với tháng trước, tăng 4,0m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 13,3m3/s so với tháng 4 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 88,4m3/s (ngày 14/4), lưu lượng nước nhỏ nhất là 59,2m3/s (ngày 25/4).

Về chất lượng nước:

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông tại trạm Phú Ninh theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông có thể sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt.

–  Kết quả tính toán chất lượng nước sông tại trạm An Thạnh theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông có thể sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt.

Vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên có 4 trạm quan trắc TNN mặt (Ya Yun Hạ, Đức Xuyên, Đại Ninh và Cát Tiên). Kết quả quan trắc cho thấy như sau:

Về mực nước:

– Tại trạm Ya Yun Hạ: Mực nước trung bình tháng 4 năm 2020 trên sông Yayun tại trạm Ya Yun Hạ là 20771cm, tăng 06cm so với tháng trước, giảm 10cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 12cm so với tháng 4 TBNN. Giá trị mực nước lớn nhất là 20812cm (ngày 15/4), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20753cm (ngày 13/4).

– Tại trạm Đức Xuyên: Mực nước trung bình tháng 4 năm 2020 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên là 48626cm, giảm 14cm so với tháng trước, giảm 36cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 11cm so với giá trị tháng 4 TBNN. Giá trị lớn nhất là 48656cm (ngày 26/4), giá trị nhỏ nhất là 48597cm (ngày 12/4).

– Tại trạm Đại Ninh: Mực nước trung bình tháng 4 năm 2020 trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh là 87978cm, giảm 02cm so với tháng trước, giảm 07cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 04cm so với giá trị tháng 4 TBNN. Giá trị lớn nhất là 87996cm (ngày 13/4), giá trị nhỏ nhất là 87965cm (ngày 06/4).

– Tại trạm Cát Tiên: Mực nước trung bình tháng 4 năm 2020 trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên là 12666cm, tăng 36cm so với tháng trước, giảm 35cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 29cm so với giá trị tháng 4 TBNN. Giá trị lớn nhất là 12740cm (ngày 24/4), giá trị nhỏ nhất là 12605cm (ngày 01/4).

Về lưu lượng nước:

– Tại trạm Ya Yun Hạ: Trong tháng 4 năm 2020, tại trạm YaYun Hạ có 03 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 4 là 6,2m3/s, giảm 1,0m3/s so với tháng trước, giảm 3,1m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 0,2m3/s so với tháng 4 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 6,97m3/s (ngày 04/4), lưu lượng nước nhỏ nhất là 5,76m3/s (ngày 21/4).

– Tại trạm Đức Xuyên: Tháng 4 năm 2020, tại trạm Đức Xuyên có 03 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 4 là 10,9m3/s, giảm 1,8m3/s so với tháng trước, giảm 1,4m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 4,2m3/s so với tháng 4 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 12,1m3/s (ngày 16/4), lưu lượng nước nhỏ nhất là 10,2m3/s (ngày 07/4).

– Tại trạm Đại Ninh: Tháng 4 năm 2020, tại trạm Đại Ninh có 03 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng trung bình tháng 4 là 1,0m3/s, tăng 0,18m3/s so với tháng trước, giảm 1,47m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 2,3m3/s so với tháng 4 TBNN. Lưu lượng lớn nhất là 1,35m3/s (ngày 18/4), lưu lượng nhỏ nhất là 0,536m3/s (ngày 28/4).

– Tại trạm Cát Tiên: Tháng 4 năm 2020, tại trạm Cát Tiên có 3 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng trung bình tháng 4 là 105m3/s, tăng 9m3/s so với tháng trước, giảm 26,2m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 7,0m3/s so với tháng 4 TBNN. Lưu lượng lớn nhất là 135m3/s (ngày 23/4), lưu lượng nhỏ nhất là 83,0m3/s (ngày 03/4).

Về chất lượng nước:

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Ya Yun tại trạm Yayun Hạ cho thấy cho thấy chất lượng nước sông có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý phù hợp.

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên cho thấy: vào đầu tháng, chất lượng nước sông có thể đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý thích hợp. Đến giữa tháng, do nồng độ tổng Coliform tăng cao đột biến, chất lượng nước sông bị ô nhiễm nặng.

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh cho thấy: vào đầu tháng, chất lượng nước sông có thể đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý thích hợp. Đến giữa tháng, do nồng độ tổng Coliform tăng cao đột biến, chất lượng nước sông bị ô nhiễm nặng.

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên cho thấy vào đầu tháng, chất lượng nước sông có thể sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác, đến giữa tháng, chất lượng nước sông được cải thiện, có thể sử dụng cho mục đích sinh hoạt nhưng cần có các biện pháp xử lý thích hợp.

Xem chi tiết tại đây