Sat05302020

Last update04:36:03 AM GMT

Ngày 7/12 (giờ Mexico): Khai mạc Phiên họp cấp cao của Hội nghị Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu

Theo Thông báo ban đầu của Ban tổ chức, ngày 7/12 khai mạc Phiên họp cấp cao của Hội nghị Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu.

Đến dự và phát biểu tại Phiên họp cấp cao của Hội nghị (7- 9/12/2010) sẽ có 15 Tổng thống, 05 Phó Tổng thống, 11 Thủ tướng, 3 Phó Thủ tướng và các Bộ trưởng, Thứ trưởng (và cấp tương đương) cùng đại diện của 158 nước và một số Tổ chức quốc tế. Theo Chương trình dự kiến sắp xếp các Đoàn phát biểu (do Ban Thư ký phát hành ngày 04/12/2010), Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà phát biểu vào chiều ngày 9/12/2010.

            Ở khu vực Đông Nam Á, Trưởng đoàn (cấp lãnh đạo Bộ) của 6 nước gồm Việt Nam, Lào, Thái Lan, Philippines, Malaysia và Singapore đã đăng ký phát biểu tại Phiên họp cấp cao của Hội nghị.


* Hoạt động của Đoàn đàm phán Việt Nam tại Hội nghị:

            Phiên họp toàn thể trong khuôn khổ COP/CMP, Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam đã phát biểu, nhấn mạnh Nghị định thư Kyoto phải tiếp tục được coi  là cơ sở nền tảng để ứng phó với biến đổi khí hậu và nêu rõ để đạt được mục tiêu giữ nhiệt độ toàn cầu tăng dưới 20C vào cuối thế kỷ này, các nước phát triển phải thực hiện tích cực hơn nữa các cam kết giảm phát thải khí nhà kính định lượng sau 2012 và yêu cầu AWG-KP cần sớm có các kết quả cụ thể về vấn đề này.

Tại cuộc họp của AWG-LCA, Phó Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam phát biểu, đánh giá cao cố gắng của Hội đồng điều phối trong việc xây dựng dự thảo tài liệu đàm phán, tuy nhiên yêu cầu các nước phát triển phải đưa ra các mục tiêu, cam kết cắt giảm phát thải khí nhà kính một cách mạnh mẽ, cụ thể trong các thời kỳ cam kết tiếp theo của Nghị định thư Kyoto sau năm 2012. Vấn đề giảm nhẹ phát thải khí nhà kính ở các nước đang phát triển phải được đi kèm với hỗ trợ về tài chính, chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển. Việt Nam chỉ chấp nhận những trách nhiệm đã được quy định tại Công ước khí hậu. Mọi ràng buộc mới đối với các nước đang phát triển là không thể chập nhận, đặc biệt không chấp nhận việc bắt buộc các nước đang phát triển xây dựng và thực thi chiến lược phát triển các-bon thấp.

           Ngày 6/12/2010,  Đoàn Việt Nam đã gửi Ban Thư ký Công ước khí hậu bản Thông báo Quốc gia lần thứ hai của Việt Nam về biến đổi khí hậu để Ban Thư ký chuẩn bị việc công bố.

            Ngoài việc tham dự các cuộc họp, khóa họp, Đoàn Việt Nam đang tích cực thu xếp, bố trí các cuộc gặp song phương. Đoàn đã tiếp xúc với các nước ASEAN để tham khảo ý kiến, hoàn chỉnh thêm quan điểm chung của ASEAN. Quan điểm này sẽ được Trưởng đoàn Cấp cao Việt Nam, với vai trò là Chủ tịch ASEAN năm 2010, thay mặt ASEAN phát biểu tại Phiên họp cấp cao của Hội nghị.

            Đoàn Việt Nam đã tổ chức gian triển lãm của Việt Nam về Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại Trung tâm Triển lãm Cancunmesse từ ngày 6/12/2010. Gian triển lãm đã thu hút được nhiều đại biểu và khách đến tham quan và tìm hiểu những hoạt động biến đổi khí hậu của Việt Nam.

PV (TN&MT) từ Cancun

Quan trắc tài nguyên môi trường nước dưới đất vùng Nam Tây Nguyên

Đoàn Điều tra Quy hoạch Tài nguyên nước (ĐTQHTNN) 704 (thuộc Liên đoàn Điều tra Quy hoạch tài nguyên nước miền Trung) thực hiện “Quan trắc Tài nguyên Môi trường nước dưới đất khu vực Đắk Lắk và Đắk Nông“. Đây là dự án khoa học nằm trong đề án nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dưới đất toàn vùng Tây Nguyên. Dự án này làm cơ sở khoa học cho các ngành chức năng theo dõi có hệ thống và dự báo sự biến đổi về số lượng, chất lượng nước dưới đất, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ môi trường nước ở Nam Tây Nguyên.             
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm địa chất thủy văn của toàn khu vực, Đoàn ĐTQHTNN 704 đã bố trí hệ thống 62 lỗ khoan sâu theo 3 tuyến xác định: Tuyến 1 từ Ea H’leo đi Buôn Hồ (Đắk Lắk) đến Krông Nô-thị xã Gia Nghĩa (Đắk Nông); tuyến 2 từ Ea Súp đến Ea H’leo và tuyến 3 từ Buôn Ma Thuột đến Ea Kar (Đắk Lắk). Tại mỗi lỗ khoan đã lập một trạm quan trắc. Hiện nay, đã có 1/3 số trạm quan trắc được trang bị các máy đo tự động về các chỉ số dao động mực nước ngầm, nhiệt độ, các thành phần hóa chất của nước diễn biến theo thời gian. Theo lịch được sắp xếp, trong mùa mưa, cứ 3 ngày cán bộ kỹ thuật quan trắc, đo mực nước 1 lần và trong mùa khô sau 5 ngày, đo mực nước một lần. Ngoài việc nghiên cứu nước ngầm tại các lỗ khoan, đoàn còn theo dõi các điểm lộ nước mạch tự nhiên và sông suối. Trong một năm, đoàn lấy mẫu phân tích, xét nghiệm chất lượng nước mỗi lỗ khoan và các điểm lộ nước mạch tự nhiên và sông suối 1 lần trong mùa mưa và 1 lần trong mùa khô.        
Qua quá trình nghiên cứu, quan trắc sự biến đổi môi trường nước dưới đất, đã cho thấy do tác động nhiều mặt của con người, nhất là hoạt động canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản, hiện nay mực nước ngầm và chất lượng nước ở hầu hết khu vực Đắk Lắk và Đắk Nông đã thay đổi. Trong vài năm gần đây, về mùa khô mực nước ngầm trung bình toàn tỉnh thấp hơn những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước khoảng 1,4-1,5 mét. Những vùng sản xuất cà phê và địa bàn rừng bị tàn phá, mực nước ngầm tụt xuống còn thấp hơn. Đặc biệt, những vùng trồng nhiều cà phê, về mùa khô do phải bơm hút nước tưới quá lớn như ở Buôn Ma Thuột, Krông Buk, Krông Pách, Krông Ana, Cư M’gar (Đắk Lắk) mực nước ngầm tụt xuống thấp hơn những năm đầu thập niên 80 từ 4 đến 5 mét. Riêng năm 2010, tổng lượng mưa ít hơn mức bình quân của các năm trước, cộng thêm lớp thảm thực vật trên bề mặt đất toàn vùng giảm đáng kể so với trước, nên mực nước ngầm tụt xuống rất thấp.       
Hiện nay, chất lượng nước ngầm ở Đắk Lắk và Đăk Nông cũng đã biến đổi so với trước. Qua xét nghiệm, phân tích các mẫu thu thập trong các lỗ khoan, và điểm lộ nước mạch, thì trong nước ngầm đã phát hiện được hóa chất Nitric và chất Nitrat với hàm lượng thấp. Những hóa chất này xuất hiện ở trong nước ngầm do, bón phân vô cơ cho cây trồng và chất thải của con người. Trong mùa mưa nước mặt hòa tan và đã mang theo những hóa chất này ngấm vào lòng đất gây ô nhiễm, làm giảm chất lượng nước ngầm.
(Theo Monre.gov.vn)

Họp thẩm định nhiệm vụ quy hoạch, quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất

Quang cảnh cuộc họpNgày 26 tháng 11 năm 2010, hội đồng thẩm định nhiệm vụ “Điều tra đánh giá bổ sung và quy hoạch phân bổ tài nguyên nước dưới đất tỉnh hậu Giang tỷ lệ 1/100.000 giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến 2020” đã nhóm họp.
Theo QĐ số 335/QĐ-STN&MT ngày 17 tháng 11 năm 2010 của Giám đốc sở TNMT Hậu Giang: Ông Nguyễn Văn Huyền, GĐ STNMT làm Chủ tịch, hai ủy viên phản biện gồm PGs Ts Nguyễn Việt Kỳ, Trưởng khoa ĐC và khoáng sản ĐH Bách khoa TP Hồ Chí Minh và Ts Lê Anh Tuấn, Trường ĐH Cần Thơ; các ủy viên có ông Huỳnh Trường Vĩnh PGĐ sở KH và CN; Trần Nghĩa Bình PGĐ sở Tài chính; Nguyễn Ngọc Điện PGĐ sở KH&ĐT; Phạm Hoài An, PGĐ NN&PTNT. Cơ quan tư vấn là Liên đoàn Quy hoạch và điều tra tài nguyên nước miền nam do Ts Bùi Trần Vượng và Ths Nguyễn Tiến Tùng trình bày và giải trình trước hội đồng thẩm định. Sau khi nghe báo cáo nhận xét, đánh giá của các thành viên hội đồng, ý kiến của khách mời, giải trình của cơ quan tư vấn Hội đồng thẩm định đã bỏ phiếu kín và thống nhất thông qua./.
Tỉnh Hậu Giang có gần 40.000 giếng khoan khai thác nước dưới đất phục vụ nhu cầu dân sinh. Một số doanh nghiệp có giếng khoan lưu lượng lớn khai thác nước dưới đất phục vụ sản xuất, chế biến.


 

(Theo Hoàng Quốc Cường -stnmt.haugiang.gov.vn)

Thừa Thiên - Huế: Các hồ thủy điện chưa sạch trước lúc chặn dòng

Theo các nghiên cứu về tác động của các dự án thủy điện, thì việc sử dụng nước của thủy điện làm biến đổi rất nhiều chất lượng nước trong thời gian đầu tích nước vào lòng hồ do quá trình phân hủy thực vật trong lòng hồ. Quá trình này làm ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân vùng hạ lưu các con sông. 
Giám đốc Công ty Cấp nước Thừa Thiên - Huế, ông Trương Công Nam cho biết: Kết quả quan trắc của đơn vị cho thấy, hàm lượng các kim loại như sắt, manggan trong nước sông Hương đoạn sau đập Bình Điền qua thành phố Huế tăng lên đáng kể. Tuy hàm lượng của các kim loại nặng này đang nằm trong giới hạn cho phép, nhưng khi có thêm các hồ chứa Tả Trạch, hồ thủy điện Hương Điền, thủy điện A Lưới đi vào vận hành thì đây là vấn đề cần phải được lưu tâm. Về chất lượng nước sông Hương theo kết quả của các đơn vị nghiên cứu như Viện Tài nguyên sinh học, Ban Quản lý dự án sông Hương cho thấy, chất lượng nước sông Hương cũng đang có xu hướng giảm, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng đặc biệt là vào các tháng mùa khô và đặt ra rất nhiều vấn đề liên quan khác về an toàn của các hồ chứa thủy điện tác động đến môi trường. Trong khi đó, việc thu dọn lòng hồ trước khi tích nước chưa được chủ đầu tư các dự án thủy điện nói trên thực hiện nghiêm túc và chưa được kiểm soát chặt chẽ, gây ô nhiễm nguồn nước không chỉ cho lòng hồ mà cả phía hạ lưu các con sông. Mặt khác, các dự án thuỷ điện đều chặn dòng vào mùa khô, dễ làm cho vùng hạ lưu bị thiếu nước. Điển hình là thuỷ điện Hương Điền do tích nước sớm trong tháng 12/2009 nên ở hạ du đã xảy ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng trong mùa khô năm 2010, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp cho hạ lưu sông Bồ. Sau khi các dự án thủy điện được chặn dòng, sự thay đổi chế độ dòng chảy hạ lưu còn làm tăng tốc độ bồi lắng trên các con sông cũng đang là vấn đề nan giải hiện nay cần được khắc phục...
Theo qui hoạch, tỉnh Thừa Thiên - Huế có 21 công trình thủy điện vừa và nhỏ; trong đó có 5 công trình thủy điện chính là A Lưới, Hương Điền, Bình Điền, Alin B1 và Tả Trạch với tổng công suất 360MW, chiếm tỷ lệ 80%. Chỉ riêng dự án hồ Tả Trạch vừa là công trình thủy lợi, nhiệm vụ chính là phòng chống lũ lụt và cấp nước cho hạ lưu, vừa kết hợp phát điện, còn lại đều có nhiệm vụ chính là phát điện thương mại. Đến nay, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 10 dự án phát triển thủy điện; trong đó có 4 dự án được triển khai, gồm: thủy điện Bình Điền 44MW, thủy điện Hương Điền 81MW, thủy điện A Lưới 170MW và thủy điện A Lin B1 40MW. Đáng chú ý là các dự án thủy điện này đều nằm ở đầu nguồn các con sông Hương và sông Bồ, nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho thành phố Huế và các địa phương vùng lân cận...
(Theo Monre.gov.vn)
 

An Giang: Khoan giếng bơm nước tưới cho lúa, gây ảnh hưởng môi trường

Thời gian qua, mặc dù đã có đường bơm nước bơm bằng điện để phục vụ tưới lúa, nhưng nhiều nông dân ở xã Châu Phong, thị xã Tân Châu ( An Giang ) đã lấy lý do nước bơm không đủ đáp ứng nhu cầu, hàng chục hộ dân đã tự đào giếng khoan ngay chân ruộng và đặt máy bơm rút nước lên tưới lúa, gây nên tình trạng ô nhiệm môi trường sản xuất, xuất hiện tình trạng đất bị dậy phèn, ảnh hưởng đến môi trường sản xuất nông nghiệp ở địa phương.  
Trên địa bàn xã này hiện nay đã có 23 giếng khoan đang sử dụng để phục vụ sản xuất nông nghiệp, tập trung chủ yếu ở ấp Vĩnh Lợi 1. Theo điều tra thì có 14 giếng khoan được khoan từ năm 2002 đến năm 2006, riêng trong năm 2010, trên địa bàn xã có 9 chủ đất tự khoan giếng đều không xin phép. Địa phương đã phát hiện kịp thời, tạm giữ phương tiện và xử phạt vi phạm hành chính 2 đơn vị thi công không có giấy phép hành nghề. Đồng thời lập biên bản yêu cầu 9 hộ sử dụng giếng khoan không có giấy phép phải lấp giếng, theo hướng dẫn của Sở Tài nguyên và Môi trường.
Anh Nguyễn Trung Giang, cán bộ địa chính xã Châu Phong cho hay, trước năm 2009, đã xảy ra tình trạng bà con tự ý đào giếng tại các chân ruộng có đất cao (đất gò) để bơm tăng cường khi thiếu nước. Từ năm 2009 đến nay, khi lượng giếng khoan bắt đầu nhiều thì đã xảy ra hiện tượng nước bị dậy phèn, Thị xã Tân Châu đã tiến hành khảo sát và đề nghị bà con không được khoan giếng để địa phương tìm biện pháp giải quyết. Tuy nhiên, do thấy cái lợi trước mắt nên riêng ở xã Châu Phong đã có nhiều hộ đào hoặc thuê mướn đào thêm giếng. 
Anh Nguyễn Văn Toàn, chủ máy bơm giếng tự phát cho biết, anh đào giếng mấy năm nay do đường nước chung không đủ đáp ứng sản xuất. Có giếng, máy bơm riêng có thể chủ động nguồn nước. Mỗi giếng từ tiền công đến máy móc khoảng trên dưới 6 triệu đồng, có thể phục vụ diện tích từ vài công đết đến một vài ha, tùy công suất máy và một hay hai mũi khoan. Tuy nhiên, anh cũng thừa nhận nước giếng của anh đang nghi bị nhiễm phèn, một số hộ dân cùng khu vực cho biết là một số giếng đào khác còn xuất hiện màng khí vàng đỏ, mùi khó chịu khi tiến hành bơm nước lên.
Theo anh Phạm Đăng Thân , Chủ tịch UBND xã Châu Phong, một cái khó khác của địa phương là những quy định của pháp luật đối với công tác xử lý đào giếng chưa cụ thể, rõ ràng nên địa phương đang gặp lúng túng. Việc đào giếng tự phát thời gian qua ngoài ảnh hưởng đến nguồn đất mặt nhiễm phèn, còn tác động xấu đến việc chủ động trong quy hoạch sản xuất, xuống giống đồng loạt theo lịch thời vụ của địa phương.   
(Theo Monre.gov.vn)
  

Hà Nội vẫn còn 16 trạm cấp nước ở nông thôn chưa hoạt động

Để góp phần thực hiện mục tiêu, đến năm 2020 tất cả dân cư khu vực nông thôn trên cả nước được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn theo Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, thời gian qua, thành phố Hà Nội đã đầu tư kinh phí xây dựng rất nhiều công trình cấp nước cho người dân khu vực ngoại thành. 
Đa số các công trình này đang hoạt động hiệu quả, đã nâng tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch trên địa bàn ngày một cao và môi trường sống khu vực nông thôn cũng từng bước được cải thiện. Đến thời điểm này, hơn 80 % số dân ở khu vực nông thôn Thủ đô đã được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó có 32%    được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Tuy nhiên, hiện nay, ngoài 85 trạm cấp nước tập trung ở khu vực nông thôn đã đầu tư xây dựng và đang hoạt động hiệu quả, Hà Nội   vẫn còn 16 trạm cấp nước chưa đi vào hoạt động.   
Trao đổi với phóng viên về vấn đề này, ông Vũ Bình Nguyên, Giám đốc Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội cho biết: Sau khi đơn vị này phối hợp với phòng Kinh tế của các huyện ngoại thành tiến hành khảo sát, kiểm tra, đã cho thấy: Hiện nay, khu vực nông thôn Hà Nội vẫn còn 16 trạm cấp nước tập trung chưa hoạt động. Trong đó, có 3 trạm tại các xã Xuân Dương (huyện Thanh Oai), Liên Bạt (Ứng Hòa) và Quảng Phú Cầu (Ứng Hòa) đã được chuyển tiếp cho các huyện quản lý và đã được các địa phương tiến hành làm các thủ tục để xây dựng trong giai đoạn 2 từ nguồn kinh phí của thành phố; 4 trạm tại các thị trấn Chúc Sơn (Chương Mỹ); Phùng (Đan Phượng), Quốc Oai (Quốc Oai) và xã Dương Liễu (Hoài Đức) cũng đang được các doanh nghiệp nhận triển khai xây dựng. Còn lại 9 công trình ở một số xã như: Tam Hiệp (Phúc Thọ), Phùng Xá (Thạch Thất), Kim Lan (Gia Lâm), An Mỹ (Mỹ Đức)... đã đầu tư xây dựng nhưng hiện nay vẫn chưa thể hoạt động do xây dựng dở dang hoặc đầu tư chưa đồng bộ.   
Để có những đánh giá đầy đủ, thấu đáo nguyên nhân của tình trạng này, theo Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường Hà Nội cần có sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chính quyền để đánh giá tổng thể, đồng bộ hơn.Tuy nhiên, sơ bộ nguyên nhân một số trạm cấp nước đã được đầu tư xây dựng từ những năm đầu của thập niên 2000 mà đến nay vẫn chưa được vào khai thác được   là do: Công tác khảo sát, nắm bắt nhu cầu sử dụng và khả năng chi trả của người dân chưa được tiến hành một cách thật sự cẩn thận; cơ cấu bố trí vốn chưa tương xứng với nhu cầu, tiến độ xây dựng đặt ra; công tác quản lý nguồn tài nguyên nước chưa chặt chẽ, dẫn đến một bộ phận người dân không hưởng ứng việc    dùng nước sạch từ các dự án cấp nước tập trung... 
Thực trạng này đang đòi hỏi các ngành liên quan, các cấp chính quyền   của thành phố Hà Nội và các doanh nghiệp cần nhanh chóng tiến hành hoàn thiện các công trình cấp nước, nhất là các công trình không hoạt động được do đầu tư chưa đồng bộ hoặc xây dựng dở dang. Có như vậy, mới tránh được lãng phí và Hà Nội cũng mới có thể hoàn thành mục tiêu đến năm 2015, 100% dân số khu vực nông thôn Thủ đô được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; trong đó phấn đấu 60% dân số nông thôn ngoại thành thành Hà Nội được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế với số lượng 100 lít /người/ ngày. 
Hiện Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội đã đề nghị cơ quan chủ quản là Sở NN&PTNT Hà Nội xem xét và tiếp trình UBND thành phố Hà Nội cho phép Trung tâm được tiến hành nghiên cứu, lập Dự án tổng thể phục hồi hoạt động của các trạm cấp nước không hoạt động.  
(Theo Monre.gov.vn)
  

Trung Quốc trồng khoai tây để chống hạn hán

Thu hoạch khoai tây ở tỉnh Hắc Long Giang.Trước tình trạng thiếu triền miên nước tưới cho nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp trong khi nhu cầu lương thực ngày càng lớn, chính phủ Trung Quốc đang khuyến khích nông dân trồng khoai tây để có “một mũi tên trúng 3 đích”.
Trung Quốc từng là nước trồng khoai tây lớn nhất thế giới, với 5 triệu hecta đất trồng loại cây này vào năm 2007, chiếm 25% tổng sản lượng của toàn cầu. Hiện hầu hết sản lượng củ thu hoạch được là cho tiêu thụ trong nước. “Khoai tây có khả năng ‘kháng hạn’ tốt hơn nhiều gạo và lúa mì, rất thích hợp với Trung Quốc khi 60% diện tích đất trồng trọt của nước này bị khô hạn”, Qu Dongyu, một chuyên gia nông nghiệp của Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc nói.
Trung Quốc, bị ảnh hưởng nặng nặng nề bởi lụt lội, nhưng cũng thiếu khoảng 30 triệu mét khối nước cho tưới tiêu mỗi năm. Trung Quốc chỉ chiếm 6% tài nguyên nước trên thế giới. Tình hình thiếu nước mỗi lúc càng nghiêm trọng, nhất là ở các tỉnh phía Bắc. Vì thế, người dân không thể nào trồng được ngô nữa.
Mặt khác, diện tích đất canh tác của nước này chỉ chiếm 8% của thế giới. Diện tích này càng ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng. Trong khi đó, dân số Trung Quốc chiếm đến 20% dân số thế giới. Vì thế, cần một lượng thực phẩm bổ sung lớn để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

Trong khi đó, chính việc thiếu sự tiếp cận với các kỹ thuật tiên tiến đã cản trở đà phát triển của ngành nông nghiệp trồng cây khoai tây: chỉ 25% giống cây trồng được chứng nhận không sâu bệnh và chỉ 1% nông dân dùng máy móc trong sản xuất khoai tây. Ngoài ra, hầu hết các nông dân thiếu hiểu biết về vật gây hại và phương pháp kiểm soát sâu bệnh.

Để tăng năng suất hơn nữa, chính phủ đã kêu gọi các nhà khoa học tham gia nghiên cứu cải tiến giống khoai tây để cung cấp cho nông dân. Thành tựu kinh tế của cuộc “cách mạng nông nghiệp” này rất lớn. Ở một vài vùng, giá bán ra của khoai tây đã cao hơn gấp 3 lần giá của lúa.

Trong tình hình thu nhập người thành thị tăng nhanh hơn thu nhập người nông thôn, chính phủ đang tìm cách tăng nguồn thu cho người nông thôn, nhằm giảm nguy cơ bất bình trong dân và bất ổn xã hội. Dư luận cho rằng chính sách này của chính phủ không chỉ có lợi cho nông dân. Thị trường 1,3 tỷ người thu hút nhiều nhà đầu tư, nhất là giới công nghiệp nông - thực phẩm. Nhiều người đã trở nên giàu có nhờ kinh doanh khoai tây.




(Theo Việt Hà - Dantri.com)