Fri09212018

Last update02:12:22 AM GMT

Hà Giang: Huyện Mèo Vạc đã đưa được nước từ hang sâu ra sử dụng

Sau gần 6 tháng lao động miệt mài của cán bộ, công nhân của 2 đơn vị liên doanh: Công TNHH Bảo Cường - Công ty cổ phần Khảo sát địa chất và Môi trường Hà Nội đã đưa được dòng nước từ hang sâu Tò Đú  ra sử dụng.

 Sau khi thăm dò, khảo sát phát hiện tại hang Tò Đú (xã Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc) có nguồn nước với trữ lượng lớn, tỉnh Hà Giang đã quyết định đầu tư để khai thác nguồn nước này để cung cấp nước sinh hoạt cho trên 3 vạn bà con các dân tộc sống ở các xã Cán Chứ Phìn, Giàng Chứ Phìn, Mèo Vạc, Pả Vi… là những xã luôn thiếu nước sinh hoạt trong các tháng mùa khô. Nhà thầu là 2 đơn vị liên doanh: Công TNHH Bảo Cường- Công ty cổ phần Khảo sát địa chất và Môi trường Hà Nội thi công công trình khai thác nước ngầm này. Nhà thầu thi công công trình đã áp dụng phương pháp khoan ngang xuyên qua lòng núi (đây là công nghệ khoan mới lần đầu tiên được áp dụng ở Hà Giang) với chiều dài 324m và tiến hành lắp đường ống dẫn nước từ lòng hang ra ngoài. Để sớm có nguồn nước phục vụ cho bà con các dân tộc sống trên cao nguyên đá này. 2 đơn vị đang khẩn trương triển khai thi công các phần việc còn lại: Xây dựng hồ chứa nước với dung tich 10 đến 12 nghìn m3 (cách vị trí cửa nước đưa từ lòng hang ra trên 300m) và xây dựng 1 hồ chưa nước với dung tích 15 nghìn m3 ngay tại trung tâm huyện lỵ Mèo Vạc…

 Có nguồn nước lấy ra được từ hang Tò Đú, mùa khô này, hơn 3 vạn bà con các dân tộc huyện Mèo Vạc sẽ bớt đi nỗi lo do thiếu nước và có điều kiện tập trung cho phát triển kinh tế, để đẩy nhanh tốc độ xóa nghèo.

(Theo Văn Phát - Monre)

Toàn cầu đứng trước thách thức lớn về nước sạch

Nuoc sach 
Anders Boenteer, Vin trưởng Vin Nghiên cu nước quc tế Stockholm (Thy Đin) cho biết, vn đề cht lượng nước s là tiêu đim quan tâm ca Tun l nước thế gii din ra t ngày 5 - 11/9 ti Stockholm. Đây là mt thách thc ln nht v vn đề nước mà toàn thế gii đang phi đối mt.

Anders Boenteer cho biết: “Trước kia chúng tôi thường tiến hành thảo luận vấn đề nước từ góc độ lượng, ví dụ như làm thế nào để ngày càng nhiều người có nước sử dụng. Tuy nhiên chúng tôi vẫn chưa có những quan tâm đầy đủ trong vấn đề chất lượng nước. Tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta cần phải tập trung vào những thách thức từ chất lượng nước.”

Nhiều chuyên gia học nổi tiếng tham gia “Tuần lễ nước thế giới” sẽ tiến hành thảo luận và đưa ra những kiến nghị cụ thể về cải thiện chất lượng nước, qua đó từng bước nâng cao sự hiểu biết của những nhà hoạch định chính sách và công chúng đối với vấn đề chất lượng nước.

Các chuyên gia cũng sẽ tiến hành thảo luận ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu đối với nước và vấn đề sử dụng nước trong sản xuất lương thực.

(Theo Ngc Thúy - Monre)

Ninh Bình: 31 công trình cấp nước sạch nông thôn được xây mới

Thực hiện Chiến lược Quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến 2020, đến nay, Ninh Bình đã xây dựng mới 31 công trình cấp nước tập trung, nâng tổng số công trình cấp nước tập trung khu vực nông thôn lên 78 công trình, trong đó 45 công trình quy mô cấp xã, 25 công trình quy mô thôn, 8 công trình quy mô xóm, phục vụ cấp nước cho 335,3 nghìn người (đạt 80%), tương ứng 94.900 hộ dân nông thôn. Đã có nhiều địa phương có trạm cấp nước sạch như : Lạng Phong (Nho Quan), Trường Yên (Hoa Lư)...

Theo Chi cục Phát triển nông thôn, chất lượng nước sinh hoạt của các công trình cấp nước nông thôn này cơ bản đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Định kỳ hàng năm Chi cục tiến hành xét nghiệm mẫu nước 3 tháng/1 lần, đảm bảo chất lượng nước đạt tiêu chuẩn khi tới tay người dân, góp phần từng bước cải thiện điều kiện sinh hoạt, điều kiện vệ sinh, nâng cao sức khỏe cho dân cư nông thôn, giảm được bệnh tật, tạo cơ hội xóa đói, giảm nghèo xây dựng nông thôn mới.

Mục tiêu đến năm 2015, Ninh Bình có khoảng 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó có 60% từ các công trình cấp nước tập trung. Một số kế hoạch đã được Ninh Bình đề ra như : Tăng nguồn vốn đầu tư bằng nhiều cơ chế tài chính; thực hiện chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư; đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm thu hút nguồn vốn viện trợ không hoàn lại; thực hiện hỗ trợ từ nguồn ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công lập, HTX, ưu đãi về sử dụng đất, thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thời gian tới, tỉnh sẽ xây dựng thêm 36 trạm cấp nước tập trung mới phục vụ cho 220.000 người dân nông thôn và nâng cấp sửa chữa 17 công trình cấp nước tập trung hiện bị xuống cấp. Xây dựng, ban hành khung giá tiêu thụ nước sinh hoạt nông thôn một cách hợp lý. Tổ chức sắp xếp lại mô hình quản lý vận hành các trạm cấp nước hiện có theo các loại hình quản lý một cách phù hợp...

(Theo PV - Monre)

Lợi ích tiền tỷ từ kênh dẫn nước

Tận dụng nguồn nước xả của Nhà máy Thủy điện Đại Ninh, Công ty Khai thác công trình thủy lợi Bình Thuận đã xây dựng nhiều công trình thủy lợi dẫn nước, cung cấp nguồn nước bổ sung cho hàng ngàn ha đất nông nghiệp ở những vùng khô hạn thuộc tỉnh Bình Thuận, đem lại lợi ích hàng chục tỷ đồng sau mỗi vụ mùa.

Kênh dẫn nước từ đập dâng sông Lũy về hồ chứa Cà Giây được hoàn thành cuối năm 2007 đã giúp cung cấp nước ổn định cho gần 5.000 ha lúa vụ đông xuân 2007 – 2008 khu hồ Cà Giây (huyện Bắc Bình) và một phần diện tích mở rộng của huyện.

Năm 2008, Công ty Khai thác công trình thủy lợi Bình Thuận tiếp tục xây dựng kênh tiếp nước Châu Tá – 812 với chiều dài 33 km, nối liền hệ thống kênh mương, bảo đảm cấp nước sinh hoạt và nước tưới cho 8.500 ha sản xuất nông nghiệp của hai huyện Bắc Bình và Hàm Thuận Bắc. Đồng thời, bổ sung nguồn nước cho hồ Sông Quao (Hàm Thuận Bắc) để chống hạn cho 12.000 ha đất canh tác vùng này và cấp nước sinh hoạt cho nhân dân các khu vực lân cận…

Vốn là vùng khô hạn nhất tỉnh, nhưng hiện nay, các xã phía bắc huyện Hàm Thuận Bắc và phía Nam huyện Bắc Bình đã chủ động được nguồn nước tưới cho hàng chục ngàn ha lúa sản xuất 3 vụ trong năm. Theo tính toán, lợi ích từ hai công trình dẫn nước mang lại lên tới cả ngàn tỷ đồng. Trong khi đó, kinh phí đầu tư cho các công trình dẫn nước chỉ hơn 200 tỷ đồng. Đáng chú ý là bên cạnh việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt, hệ thống "nối mạng" các công trình thủy lợi còn tạo ra hàng chục km đường giao thông nông thôn liên vùng, vừa tạo điều kiện cho công tác quản lý công trình trong mùa mưa bão, vừa đáp ứng nhu cầu đi lại, nhu cầu sản xuất và vận chuyển nông sản.

(Theo Thanh Huyền - Monre)

TP.HCM: Cần xem lại quy trình xử lý nước

 

Tổng Công ty cấp nước Sài Gòn (Sawaco) vừa báo cáo với UBND TP.HCM chiều ngày 7/9 về tình trạng nước đục cục bộ trên mạng lưới cấp nước của thành phố. Nguyên nhân là do Sawaco vừa điều tiết nguồn nước Nhà máy Nước Tân Hiệp trở lại cho các khu vực khác sau khi nhà máy nước BOO Thủ Đức bắt đầu cung cấp nước, nhằm điều hòa áp lực trên toàn mạng lưới cấp nước thành phố.

Quá trình này đã làm thay đổi áp lực và xáo trộn thủy lực trong mạng, gây bong tróc các cặn bám, dẫn đến tình trạng nước đục tại các khu vực: phường 16, quận 8, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân (công ty cổ phần Cấp nước Chợ Lớn); phường 15, quận 10, phường 3, quận 11, phường Phú Trung, quận Tân Phú (công ty cổ phần Cấp nước Phú Hòa Tân); phường 4, quận Tân Bình (chi nhánh Cấp nước Tân Hòa;) khu vực phường 8, 9, 10, 12, 13, 14, quận Gò Vấp, phường An Phú Đông, Thạnh Lộc, Thới An, Trung Mỹ Tây, quận 12 (xí nghiệp Cấp nước Trung An); phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức (công ty cổ phần Cấp nước Thủ Đức).

Cũng theo Sawaco, do khả năng tiêu thụ thực tế chưa đạt yêu cầu thiết kế ở một số tuyến ống cấp hai đã được đầu tư trước, khiến tốc độ và thời gian lưu chuyển nước trong ống chậm, tạo phản ứng làm nước có màu (dù vẫn đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế). Đồng thời, việc đầu tư, nghiên cứu xây dựng các điểm xả mới còn chậm, chưa đủ do vướng mặt bằng thi công, không có hệ thống thoát nước…, mà chỉ tận dụng các công trình hiện hữu nên quá trình súc xả định kì chưa cao; nhiều tuyến ống cũ mục còn chưa được cải tạo kịp thời… Để khắc phục, trước mắt Sawaco đã tiến hành súc xả giữa các đơn vị theo tuần tự từ các tuyến ống cấp 1, 2 rồi đến mạng phân phối. Sawaco cũng cho biết sẽ tăng cường công tác bảo trì, bảo dưỡng hệ thống cấp nước để giảm thiểu khả năng xảy ra nước đục; phân chia vùng phục vụ hợp lý hơn từ các nhà máy cấp nước để giảm thời gian lưu nước trên mạng lưới...

Biện pháp chữa cháy

Lý giải nguyên nhân tại sao nước máy thành phố thường bị đục nhiều năm qua, ông Lê Quốc Hùng, kĩ sư cơ khí và chuyên ngành về xử lý nước, Giám đốc Công ty OBM, cho rằng: một trong những nguyên nhân dễ thấy nhất là hệ thống đường ống nước hiện nay không có van một chiều, khiến nước dơ, thậm chí nước bị đầu độc vô tình hay cố ý, có thể đi ngược vào trong hệ thống mạng. Không khắc phục điều này sẽ rất nguy hiểm, thậm chí đến an ninh nguồn nước.

Theo ông Hùng, nguyên nhân thứ nhất là do công nghệ xử lý nước hiện nay của ta đã quá cũ, từ những thập niên 1930. Ngày đó chưa nảy sinh những chất như bây giờ nên việc sử dụng theo quy trình cũ này là không hợp lý. Quy trình này hoàn toàn đi ngược lại với công nghệ của thế giới. Ông Hùng ví dụ, hiện nay thế giới xử lý theo quy trình oxy hóa bằng ozon, keo tụ rồi mới châm clor, khi đó hàm lượng clor được châm thấp, không cao như của ta hiện nay, nên chất lượng nước tốt hơn; đồng thời những chất độc trong nước như dioxin (ở Việt Nam do hai nguyên nhân: do Mỹ rải và do tự sản sinh trong quá trình sản xuất công nghiệp)… cũng đã được diệt triệt để.

Nguyên nhân thứ hai là quy trình của một số nhà máy nước hiện nay không được thiết kế để xử lý mangan trong nước. Nhiều tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh vì xử lý không đạt nên nước mới vàng. Quy trình lạc hậu thì không thể xử lý đúng tiêu chuẩn. Thực tế nhiều người dân đang sử dụng nước máy đã phải quay lại sử dụng nước giếng. Mặt khác, tiêu chuẩn mangan của Việt Nam hiện nay quá cao (0,3mg/l - trong khi tiêu chuẩn của châu Âu là 0,05mg/l). Điều này khiến nếu có mangan trong nước thì người dân cũng không có cơ sở để kiện công ty nước.

Và nguyên nhân thứ ba là hệ thống đường ống nước hiện nay còn đơn giản, không có van một chiều. Điều này khiến nước dơ (ví dụ từ nước giếng…), thậm chí nước bị đầu độc dù vô tình hay vô ý, có thể đi ngược vào trong hệ thống mạng, rất nguy hiểm.

Việc Sawaco đang áp dụng một số biện pháp để đảm bảo chất lượng nước như trang bị thêm thiết bị châm hóa chất để xử lý các chất ô nhiễm (hệ thống châm clor), hay nghiên cứu một số hóa chất, công nghệ mới áp dụng cho quá trình xử lý như sử dụng PAC than cho phèn truyền thống, nghiên cứu sử dụng các vật liệu mới để khử mangan thay cho clor…, ông Hùng cho rằng chỉ là biện pháp "chữa cháy". Nó không phải là chuẩn mà các nước trên thế giới đang hướng đến. Quy trình xử lý mangan hiện nay của ta rất cũ, cần tiếp cận với quy trình của thế giới, chứ cũng không thể sáng tạo được. Trong thời gian ngắn nhất, ngành cấp nước phải thay đổi đường ống không có van nước một chiều. Đây là cái rẻ nhất và dễ làm nhất.

(Theo Lê Quỳnh - Monre)

Hai học sinh VN dự Tuần lễ Nước thế giới

Đỗ Ngọc Linh và Ma Thị Thúy Trà, học sinh lớp 12 chuyên sinh Trường THPT chuyên Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên), sẽ đại diện VN tham dự cuộc thi ý tưởng bảo vệ nguồn nước quốc tế dành cho học sinh trên thế giới và tuần lễ Nước quốc tế được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) từ ngày 4 đến 9/9.

Hai bạn mang đến cuộc thi đề tài “Xây dựng truyện khoa học vui nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường nước trong cộng đồng”. Cuộc thi với sự tham gia của rất nhiều đoàn học sinh trên thế giới, với mục đích khuyến khích học sinh nghiên cứu khoa học, nâng cao ý thức và bảo vệ nguồn nước.

Trước đó Ngọc Linh và Thúy Trà đã đoạt giải Nhất cuộc thi “Cải thiện việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước” do Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giáo dục - đào tạo, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN cùng Đại sứ quán Thụy Điển tại VN phối hợp tổ chức.

(Theo P.T – T.T - Monre)

Điều tiết nước sông Hồng mùa cạn?

Sông Hồng không còn là sông chảy tự nhiên?

Thuyết minh về dự án, ông Trần Đình Đại cho biết, trước nghiên cứu này, có không ít các chương trình, đề tài nghiên cứu, dự án đề cập đến việc chỉnh trị sông Hồng. Tuy nhiên hầu hết đều tập trung nghiên cứu chỉnh trị sông Hồng ở khía cạnh chống, thoát lũ, an toàn trong mùa lũ và phát triển quỹ đất 2 bên bờ sông đoạn qua Hà Nội mà ít đề cập đến vấn đề cấp thiết khác là nghiên cứu dòng chảy kiệt, khai thác nguồn nước sông Hồng vào mùa kiệt.

Ông Đại đưa ra một nhận định: Sông Hồng (được tạo ra từ 3 con sông chính là sông Đà, sông Thao, sông Lô) không còn là con sông chảy tự nhiên nữa mà là sông do con người điều tiết. Lý do là dù có lưu vực rất rộng, nhưng ở thượng nguồn (cả bên Trung Quốc lẫn Việt Nam) sông Hồng có đến 21 công trình đập chứa nước lớn. Các đập này khai thác tối đa nguồn nước nhằm phục vụ các mục đích khác nhau đã ảnh hưởng lớn đến lưu lượng nước sông Hồng. Hơn thế, sau khi có các hồ chứa, lượng phù sa sông Hồng giảm đi rõ rệt, hiện tượng xói nước trong đã làm lòng sông bị xói sâu, mực nước càng xuống thấp. Từ tháng 10/2009 đến tháng 3/2010, sông Hồng đã trải qua mùa kiệt chưa từng có. Có đoạn, có lúc, mực nước chỉ còn 1m…

Những hệ luỵ

Tình trạng sông Hồng ngày càng cạn kiệt đã ảnh hướng lớn đến nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu dùng nước cho nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, bảo vệ môi trường sinh thái. Những năm gần đây, một diện tích lớn đất trồng trọt của đồng bằng sông Hồng bị thiếu nước canh tác. Riêng năm qua, ước tính có khoảng 80.000 ha bị thiếu nước.

Một hệ lụy khác, sông Hồng cung cấp một phần nước mặt cho các nhà máy nước và bổ trợ nguồn nước ngầm cho khu vực. Tuy nhiên, những năm gần đây, do sông Hồng cạn kiệt và việc khai thác tràn lan, mực nước ngầm của Hà Nội đã tụt xuống sâu hơn 1m. Nếu không có nguồn nước mặt sông Đà bổ sung, Hà Nội chắc chắn thiếu nước sinh hoạt.

Ở khía cạnh giao thông thủy, sông Hồng vốn là một trong những tuyến thủy nội địa quan trọng của miền Bắc với mật độ tàu bè vào mùa nước lớn khoảng 500 lượt/ngày. Tuy nhiên, như đã đề cập, đầu năm nay, khi sông Hồng cạn trơ đáy, chỉ còn một lạch nhỏ với độ sâu 1m khiến cho giao thông thủy hoàn toàn bị tê liệt.

Ngoài ra, việc sông Hồng cạn kiệt còn ảnh hưởng tới khả năng khai thác của các nhà máy thủy điện. Đầu năm nay, Bộ NN&PTNN 3 lần yêu cầu hồ Hòa Bình xả nước, mỗi lần lưu lượng đều trên 1.000m3/s để chống khô hạn, bảo đảm tưới tiêu. Điều mà trước đấy chưa từng có. Và do không có nguồn cấp nước để có dòng chảy thường xuyên, hầu hết các dòng sông, hồ ao của Hà Nội đều bị ô nhiễm nặng…

Xây đập điều tiết nước sông Hồng

Khắc phục tình trạng sông Hồng cạn kiệt vào mùa khô và những hệ lụy nói trên, nhóm nghiên cứu “Dự án công trình điều tiết sông Hồng phục vụ quy hoạch tổng thể vùng Hà Nội” đã đề xuất xây dựng đập dâng nước trên sông Hồng, tạo ra một hồ chứa (tạm gọi là hồ Hà Nội) trên lòng sông đoạn từ phà Khuyến Lương lên đến thượng lưu cầu Thăng Long, mực nước dự kiến ở cao độ +3,5 m. Với mực nước này, “hồ Hà Nội” luôn bảo đảm nước chảy vào hệ thống thủy nông quan trọng của đồng bằng sông Hồng, đủ nước vận hành các trạm bơm tưới tiêu trong khu vực trong mùa khô cũng như bảo đảm duy trì dòng chảy, cải tạo môi trường cho hệ thống sông, hồ, ao nội đô. Về mùa lũ, cửa van điều tiết của đập được hạ xuống đến sát cao trình đáy sông bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ…

Cùng với dập dâng nước, một âu tàu được bố trí với 2 luồng tàu bè ngược xuôi giúp cho giao thông thủy trên sông Hồng vào mùa cạn thuận lợi hơn, một công trình nối tiếp hai bên bờ (có thể là cầu giao thông) sẽ được thiết kế sao cho vừa bảo đảm mục tiêu thoát lũ, an toàn, vừa bảo đảm cảnh quan đô thị… Nhóm nghiên cứu đồng thời đề xuất một số vị trí bố trí tuyến công trình và các giải pháp công nghệ mới có thể áp dụng hiệu quả trong xây dựng.

“Dự án công trình điều tiết sông Hồng phục vụ quy hoạch tổng thể vùng Hà Nội” được đại diện Bộ Xây dựng, Bộ NN&PTNN, Viện Quy hoạch Thủy lợi Việt Nam và các hiệp hội nghề nghiệp… hoan nghênh về mặt ý tưởng cũng như ủng hộ nhóm tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu hơn các nội dung liên quan như điều tiết nguồn nước, chống lũ, chống hạn, các vấn đề về giao thông, nuôi thủy sản, môi trường hay những chi tiết cụ thể hơn về cao độ, vị trí tuyến công trình… Tuy nhiên, “dự án” cần phải được xem xét, phối hợp, nghiên cứu trong mối liên hệ với dự án “Quy hoạch phát triển cơ bản khu vực sông Hồng đoạn qua Hà Nội” do chuyên gia Hàn Quốc và Việt Nam thực hiện.

(Theo Hoà Bình- Monre)