Wed02212018

Last update12:37:48 AM GMT

Phú Thọ: Hàng trăm hộ dân sống cạnh sông vẫn thiếu nước sinh hoạt

Về Cổ Tiết và Hương Nộn, huyện Tam Nông (Phú Thọ) những ngày này mới cảm thấy nỗi vất vả của người dân nơi đây. Nước sinh hoạt đang là vấn đề "nóng" được bà con quan tâm còn hơn cả tình trạng cắt điện triền miên. Nhất là tại xã Cổ Tiết, địa phương nằm cạnh sông Hồng nhưng nguồn nước ngầm lại bị ô nhiễm nặng. Toàn xã có 14 khu hành chính thì có tới 8 khu thiếu nước sinh hoạt, trong đó các khu 1, 11, 12, 13 thiếu nước trầm trọng hơn cả.

Để đối phó với tình trạng thiếu nước, một số gia đình đào giếng dùng chung nhưng cũng rất khó tìm được vị trí đào giếng có nước, hoặc nếu có cũng không dùng được do có nước có màu vàng và cặn lắng. Ở Cổ Tiết, nhiều năm nay, các hộ dân đã phải mua nước sử dụng. Có những gia đình, mỗi tháng phải bỏ ra vài trăm nghìn đồng để mua nước sạch. Ông Hán Ngọc Thanh, khu 11 cho biết, gia đình cũng đã vài lần đào giếng nhưng nước không dùng được, năm ngoái gia đình còn thuê thợ về khoan hai giếng, mỗi giếng sâu từ 40 - 50 m nhưng nước bơm lên có màu vàng, mùi hôi tanh, nước đun sôi có lớp váng. Trung bình mỗi tháng gia đình phải mua tới 200 can nước, tính rẻ cũng trên 300.000 đồng. Do khó khăn về kinh tế, phần lớn các gia đình ở khu vực này chỉ mua nước để ăn uống, còn nước dùng để vo gạo, rửa rau và sinh hoạt hàng ngày vẫn phải dùng nguồn nước không hợp vệ sinh này. Bình quân hàng tháng, mỗi gia đình cũng bỏ ra vài trăm nghìn đồng để mua nước ăn, mua phèn về làm trong nước.

Có cầu là có cung. Một số gia đình có giếng không bị ô nhiễm đã hình thành dịch vụ bán nước sạch. Gia đình anh Nguyễn Ngọc Kiên, khu 5, xã Cổ Tiết là một ví dụ. Măy mắn, gia đình anh đào được giếng trúng mạch nước sạch nên giếng lúc nào cũng ăm ắp nước. Thấy nhu cầu của người dân trong khu vực, anh đã quyết định mua xe bò chở nước đi bán. Năm năm qua, nhờ cái giếng này trung bình một ngày anh Kiên bán được khoảng 4-5 chuyến (mỗi chuyến 12 can 20 lít) với giá 2.000 đồng mỗi can. Hay như gia đình anh Hà Văn Hiển ở khu 5 cũng vậy. Mỗi ngày hai lần, vợ chồng anh lại kéo xe chở nước đi bán khắp làng, vừa tăng thu nhập, vừa "giải hạn" cho nhân dân khát nước.

            Cùng với Cổ Tiết, xã Hương Nộn cũng có nhiều khu thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. "Chẳng ai nghĩ nằm cạnh một con sông lớn như sông Đà lại không có một giọt nước sạch để dùng" - ông Lê Minh Khang, Trưởng khu 4 (xã Hương Nộn) ngao ngán nói. Ông cho biết thêm, trên địa bàn xã có nhiều khu thiếu nước sinh hoạt nhưng "khát" trầm trọng nhất vẫn là ở khu 4. Cả khu có 152 hộ với 506 khẩu, nhà nào cũng thiếu nước sinh hoạt, hàng ngày các hộ phải gồng gánh đi xin, ai không xin được thì mua. Mất điện còn cố chịu được, chứ không có nước cây còn chết huống chi người!

           Nếu không mua nước giếng mà mua nước sạch thì người dân ở đây phải trả tới 100.000 đồng/m3. "Nước được chở bằng xe téc từ huyện Lâm Thao sang, mà muốn mua cũng phải đặt trước. Không có nước sạch dùng thì phải mua chứ cũng xót tiền lắm, mà nước có sạch không, lấy ở đâu chúng tôi cũng chịu!" - bà Nguyễn Thị Trâm, khu 4 xã Hương Nộn nói.

           Khu 4 xã Hương Nộn nằm dọc sông Đà và ven Quốc lộ 32A , do ở vị trí cao hơn các khu khác, nên dù có công trình nước sạch, nhưng nước cũng không lên được đến nơi, họa hoằn mới chảy “le te” mấy dòng và nước thường lắm cặn vôi, có màu vàng nhạt, vì vậy người dân chỉ dám dùng hạn chế. Tại các khu 3, 4, 5... đang thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng và phải mua nước với giá cao. Trước đây, khi có trạm cung cấp nước sạch ở khu 7, nhiều hộ dân đã lấp giếng đào để lắp đường ống dẫn nước sạch, nhưng nay nhiều hộ lại đang phải “khơi” lại giếng với hy vọng tìm được nguồn nước cho sinh hoạt hàng ngày!

           Không chỉ người dân mà ngay cả UBND xã Hương Nộn cũng phải mua nước về sử dụng hàng ngày. "Ở gần sông vẫn không có nước, đó là nghịch lý ở Cổ Tiết và Hương Nộn. Thực tế này khiến chính quyền địa phương đau đầu nhiều năm nhưng chưa biết xử lý thế nào. Thiếu nước đã và đang làm đảo lộn cuộc sống của người dân nơi đây. Thấy người dân bỏ ra cả trăm nghìn đồng để mua một khối nước về dùng mà thấy xót xa"- ông Nguyễn Duy Quân, Phó Chủ tịch UBND xã Cổ Tiết nói. Ông cho biết thêm, không những người dân khát nước mà hiện toàn bộ cơ quan Đảng ủy, UBND và các đoàn thể xã đang phải mua nước để dùng hàng ngày cũng với giá 2.000 đồng một can 20 lít. Nhiều năm nay, xã cũng đã có nhiều kiến nghị lên các cấp thẩm quyền nhưng chưa có một cơ quan chức năng nào về lấy mẫu đo đạc đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn nước. Một công trình nước sạch được xây dựng ở đây luôn là ước mơ cháy bỏng của hàng nghìn nhân khẩu đang sống trong vùng nguồn nước bị nhiễm vôi và sắt.

           Cùng chung cảnh ngộ với xã Cổ Tiết, Bệnh viện Đa khoa huyện Tam Nông (nằm trên địa bàn xã Cổ Tiết) cũng lâm vào tình trạng “khan” nước sinh hoạt nhiều năm nay. Bác sỹ Đặng Văn Tuyên, Phó Giám đốc bệnh viện cho biết, năm 2004, khi có nước sạch của chương trình Plan từ xã Hương Nộn đưa về, bệnh viện đã đầu tư xây hẳn một bể chứa có dung tích tới 50 m3. Tuy nhiên, một thời gian sau, nước khan hiếm dần. Để “chống hạn”, bệnh viện đã phải đào tới 4 cái giếng để lấy nước dùng cho các khoa, phòng và phục vụ công tác khám chữa bệnh. Nhưng nhiều lúc giếng cũng cạn, lại phải mua nước từ Lâm Thao với giá 90.000 đồng/m3 mà cũng phải đăng ký chán chê mới mua được.

           Trước đây nhà nào cũng có giếng, nhưng từ khi có dự án nước sạch thì các gia đình lấp hết giếng. Tuy nhiên, hiện nay do nước sông vẫn ở mức thấp, cắt điện triền miên nên các công trình nước sạch không phát huy được tác dụng. Thêm nữa, nếu các công trình này chạy bình thường, thì những gia đình ở cuối nguồn nước hoặc ở khu vực cao hơn cũng rất có ít nước để dùng.

( Theo Trương Văn Quân - http://www.monre.gov.vn)

Lưu lượng nước về hồ Thủy điện Tuyên Quang đã được cải thiện

Ngày 28/6, ông Nguyễn Tiến Chương – Giám đốc Công ty Thuỷ điện Tuyên Quang cho biết: Ba ngày gần đây lưu lượng nước chảy về hồ thuỷ điện Tuyên Quang đã được cải thiện đáng kể trung bình đạt khoảng 600m3/giây, tăng gấp đôi so với thời điểm cách đây 10 ngày (300m3/giây), trong đó thời điểm đỉnh lũ tiểu mãn (cao nhất ngày 27/6) đạt 1.800m3/gây. Do vậy, cốt nước (mực nước) hồ thủy điện Tuyên Quang đã tăng lên 94,8 m cách “cốt nước chết” 4,8m (cốt nước tối thiểu để đảm bảo chạy máy phát điện là 90m), tăng 2,4 m so với thời điểm cốt nước hồ xuống thấp nhất 92,4 m. Tuy nhiên, so với cùng thời điểm năm ngoái lưu lượng nước chảy về hồ vẫn chỉ bằng một nửa. 

      Hiện trung bình mỗi ngày Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang sản xuất được 4 triệu kwh, tăng gấp đôi so với thời điểm cốt nước hồ Thủy điện Tuyên Quang xuống thấp nhất (92,4 m cách đây 10 ngày), nâng tổng sản lượng điện sản xuất từ đầu năm đến nay được hơn 215 triệu kwh, đạt hơn 22% kế hoạch sản xuất năm 2010.

(Theo Monre)

Chính thức tích nước Thủy điện Sơn La

Chiều 15/5, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bấm nút đóng tấm thép cuối cùng, hoàn thành việc đóng cửa dẫn dòng, chính thức tích nước hồ Thủy điện Sơn La, chuẩn bị cho việc vận hành Tổ máy số 1 vào cuối năm nay.
Phát biểu trước hàng nghìn cán bộ, công nhân trên công trường, Thủ tướng nhấn mạnh đây là thời khắc hết sức quan trọng của một công trình đặc biệt quan trọng, là sự khởi đầu để ngành điện khai thác một nguồn điện  quy mô lớn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung cũng như vùng Tây Bắc nói riêng.
Việc đưa Tổ máy số 1 của Nhà máy thủy điện Sơn La vào vận hành sớm trước  2 năm ngoài ý nghĩa về kinh tế (mỗi năm Thủy điện Sơn La tạo ra giá trị gần 10 nghìn tỷ đồng) trong bối cảnh nhu cầu điện cho nền kinh tế ngày càng tăng  còn khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của đội ngũ cán bộ, công nhân Việt Nam về năng lực quản lý, thiết kế và xây lắp, nhất là đối với các công trình thủy điện lớn.
Sự kiện này minh chứng,  về cơ bản, nước ta đã làm chủ được việc xây dựng các công trình thủy điện lớn từ khâu khảo sát, thiết kế, thi công xây lắp đến chế tạo được hầu hết các thiết bị cơ khí thủy công.
Ngoài ra, công trình còn góp phần chống lũ về mùa mưa, cấp nước về mùa khô  cho đồng bằng Bắc Bộ và góp phần phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Bắc.
Bên cạnh đó, sự kiện chính thức tích nước hồ chứa Thủy điện Sơn La còn đánh dấu kết quả nỗ lực của 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu trong việc hoàn thành di dời, tái định cư cho hàng chục nghìn hộ dân đồng bào các dân tộc trong vùng.

 

Các cán bộ, công nhân đang gấp rút thi công, lắp đặt các tổ máy  - Ảnh: Chinhphu.vn

 

Thủ tướng cũng đánh giá cao những nỗ lực trên công trường của chủ đầu tư – Tập đoàn Điện lực Việt Nam, của các đơn vị thiết kế, thi công, các dự án giao thông, hạ tầng liên quan, sự chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của các Bộ, ngành, địa phương liên quan, đưa tới kết quả quan trọng ngày hôm nay.
Cùng với đó, Thủ tướng  cũng nhắc nhở, đây mới là thắng lợi bước đầu, để Thủy điện Sơn La thực sự đi vào vận hành hiệu quả, trực tiếp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước, các cơ quan, đơn vị liên quan cần tiếp tục nỗ lực, phấn đấu, đảm bảo 3 nhiệm vụ chính.
Một là, tập trung nhân, vật lực tiếp tục lắp đặt, xây dựng để bảo đảm vận hành Tổ máy số 1 đúng tiến độ (tháng 12/2010) cũng như hoàn thành toàn bộ 6 tổ máy vào cuối năm 2012.
Hai là, các địa phương Sơn La, Điện Biên, Lai Châu tiếp tục chăm lo cho đời sống, sản xuất của đồng bào di dời, tái định cư. Mục tiêu “làm sao để dân sớm ổn định, nơi ở mới tốt hơn nơi ở cũ”.
Ba là, phải hết sức chú ý đảm bảo tiến độ, chất lượng công trình, an toàn, an ninh lao động.

 

Thủ tướng yêu cầu tập trung nhân, vật lực để đảm bảo vận hành Tổ máy số 1 cũng như toàn bộ 6 tổ máy đúng tiến độ - Ảnh: Chinhphu.vn

 

Công trình đảm bảo chất lượng, đồng bào có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ

 

Dự án thuỷ điện Sơn La có công suất 2.400MW là công trình cấp đặc biệt, dung tích toàn bộ hồ chứa là 9,26 tỷ m3. Ngày 2/12/2005 công trình đã tổ chức ngăn sông đợt 1, từ 1 đến 10/1/2009 đã hoàn thành ngăn sông đợt 2. Dự kiến, tổ máy 1 sẽ được phát điện vào tháng 12/2010, sớm hơn với tiến độ được phê duyệt 2 năm.

 

Theo báo cáo Tập đoàn Điện lực Việt Nam, đến thời điểm này toàn bộ công tác di dân tái định cư vùng lòng hồ đã hoàn thành, công tác thu dọn, vệ sinh lòng hồ đến cao độ 195m đã kết thúc.
Đập bê tông đầm lăn (RCC) đoạn lòng sông và trên cống dẫn dòng đã được thi công, đỉnh đập cao nhất đạt trên 227m, thấp nhất gần 180 m. Cửa nhận nước đã hoàn thành đến cao độ 211m, đập tràn đạt cao độ 219m. Các lực lượng thi công đã hoàn thành mục tiêu tiến độ theo yêu cầu để bảo đảm lấp cống dẫn dòng.
Thay mặt Hội đồng nghiệm thu Nhà nước, Bộ trưởng Xây dựng Nguyễn Hồng Quân cho biết, theo kết luận mới nhất của Hội đồng, phần xây dựng đã bảo đảm chất lượng, một số vết nứt trong  quá trình thi công trước đây đã được xử lý, kiểm định độ bền theo thiết kế, không ảnh hưởng đến chất lượng công trình.
Nhìn chung, chủ đầu tư và các nhà thầu bảo đảm nghiêm ngặt các quy định, quy trình quản lý chất lượng. Tổ chuyên gia của Hội đồng nghiệm thu Nhà nước đã có mặt thường xuyên tại hiện trường, kiểm tra hồ sơ nghiệm thu của bên A, bên B, tư vấn và đều đánh giá chất lượng xây dựng công trình bảo đảm theo quy định hiện hành.

 

Gặp gỡ và tặng quà các hộ dân tái định cư, Thủ tướng khẳng định Chính phủ cũng như chính quyền địa phương sẽ tiếp tục quan tâm tới cuộc sống người dân  tại nơi ở mới. - Ảnh: Chinhphu.vn

 

Cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Đoàn công tác Chính phủ đã tới thăm một số khu, điểm tái định cư trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Gặp gỡ và tặng quà cho các hộ dân nơi đây, Thủ tướng đặc biệt biểu dương sự ủng hộ, chấp hành và nhận thức đúng đắn của đồng bào nơi đi cũng như nơi đến trong quá trình di dời phục vụ cho xây dựng công trình. Thủ tướng khẳng định Chính phủ cũng như chính quyền địa phương sẽ tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ người dân sinh sống, sản xuất tốt hơn ở nơi ở mới.
Bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, nhiều hộ dân cho biết, những mô hình sản xuất mới (trồng cao su, chè) tại nơi tái định cư đã giúp đồng bào có thu nhập cao hơn, nơi ở mới với các nhà văn hóa, nhà trẻ, hệ thống giao thông, điểm bưu điện văn hóa... đều tốt hơn nhiều so với nơi ở cũ.

 (Theo Nguyên Linh - baodientu.chinhphu.vn)

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về dự và chỉ đạo Hội nghị Tổng kết công tác ngành TN&MT năm 2009 và triển khai nhiệm vụ 2010: Đảm bảo khai thác sử dụng hợp lý tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên gắn với phát triển bền vững

Thutuong_HNTKBo2009(TN&MT) Ngày 12/1/2010, Bộ TN&MT vui mừng được đón đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ về dự và chỉ đạo Hội nghị Tổng kết công tác ngành TN&MT năm 2009 và triển khai nhiệm vụ 2010. Hội nghị do Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên chủ trì, tổ chức tại Hà Nội.

Phát biểu chỉ đạo, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ghi nhận và biểu dương những đóng góp tích cực của ngành thời gian qua, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ môi trường, khai thác sử dụng tài nguyên đất, nước, khoáng sản… hiệu quả tiết kiệm, bảo đảm phát triển bền vững là một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu của ngành.

Tham dự có Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Văn Đức, các Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Hiển, Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Thái Lai, các đồng chí nguyên là lãnh đạo Bộ TN&MT, đại diện các cơ quan của Đảng, Quốc hội, các Bộ, ngành, cơ quan ở Trung ương, đại diện lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các Sở TN&MT, lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ.

 

* Từng bước khẳng định vai trò vị thế của ngành

Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên đã điểm qua một số thành tựu ngành TN&MT trong năm qua.

Về lĩnh vực đất đai, lĩnh vực mà Quốc hội, Chính phủ, mọi người dân và xã hội luôn quan tâm, với những nỗ lực to lớn, Bộ TN&MT đã đề xuất các chính sách nhằm giải quyết căn bản những vướng mắc trong quản lý đất đai. Đặc biệt là các quy định mới về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và các nhà đầu tư, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư; thống nhất việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất, tạo bước đột phá quan trọng trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính với mục tiêu hướng tới người dân và cơ sở.

Năm qua ngành đã phát hiện được nhiều loại khoáng sản quý, trữ lượng lớn có thể tổ chức khai thác, chế biến quy mô công nghiệp với thời gian lâu dài, như: bauxit, titan-zircon, đất hiếm, than, apatit, urani, đá hoa trắng, cát thuỷ tinh, đá vôi làm nguyên liệu xi măng, nước khoáng - nước nóng... Tích cực triển khai Đề án điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan-zircon trong tầng cát đỏ vùng Ninh Thuận, Bình Thuận và Bắc Bà Rịa-Vũng Tàu. Botruong_HNTK2009

Với tài nguyên dự báo hiện nay đạt khoảng 400-500 triệu tấn, cho thấy Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng quặng titan thuộc loại lớn nhất thế giới, sẽ mở ra tiềm năng phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản titan, mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho đất nước. Dự án Luật khoáng sản sửa đổi cũng đang được gấp rút soạn thảo theo hướng kinh tế hóa ngành, giảm triệt để cơ chế “xin - cho”, tăng cường áp dụng hình thức đấu thầu quyền thăm dò khoáng sản, đấu giá mỏ để tăng thu cho ngân sách nhà nước.

Với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ và của Bộ đã tăng cường xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, tình hình chấp hành chính sách bảo vệ môi trường trên toàn quốc đã có tiến bộ rõ rệt. Vụ việc Công ty Vedan đã được giải quyết, đến nay chất lượng nước sông Thị Vải đã được cải thiện. Công tác bảo vệ môi trường ở các địa phương đã được quan tâm chú trọng. Tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường ở các lưu vực sông nhằm khắc phục, ngăn ngừa ô nhiễm vốn gây bức xúc xã hội trong nhiều năm qua. Bộ cũng chuẩn bị nhiều hoạt động thiết thực về BVMT cho năm 2010, là năm được Liên Hợp Quốc chọn là năm quốc tế về đa dạng sinh học, nhằm giảm thiểu sự suy giảm đa dạng sinh học cũng như tác động của nó đến tiến trình đạt các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.

TrungbayKS_HNTKBo2009Những nỗ lực cố gắng trong lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu trong năm 2009 là dự báo chính xác 11 cơn bão, 4 áp thấp nhiệt đới. Với điều kiện hệ thống trang thiết bị thu nhận dữ liệu và công nghệ dự báo vẫn còn lạc hậu, để đạt được kết quả này, các cán bộ ngành khí tượng thủy văn đã phải làm việc không kể ngày đêm.

Sau một năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Kịch bản biến  đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam đã được Bộ tổ chức công bố và ban hành Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của các Bộ, ngành và địa phương. Bộ đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành chuẩn bị tốt cho Đoàn Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ dẫn đầu tham dự Hội nghị COP15 tại Copenhagen, Đan Mạch. Bài phát biểu của Thủ tướng được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và Hội nghị bên lề của Việt Nam đã mang lại tiếng vang, báo chí nước ngoài đánh giá là một trong những Hội nghị bên lề thành công nhất tại COP15. Đoàn đã có 30 cuộc tiếp xúc song phương, trong đó có 10 cuộc tiếp xúc với các nguyên thủ quốc gia và 20 cuộc tiếp xúc cấp Bộ trưởng, nhằm huy động sự hỗ trợ của các nước cho Việt Nam để ứng phó với biến đổi khí hậu; nhiều tổ chức quốc tế đã cam kết tài trợ cho Việt Nam trong lĩnh vực này.

Về quản lý tài nguyên nước, Bộ TN&MT đã từng bước khẳng định được vai trò và vị thế trong quản lý tài nguyên nước quốc gia; báo cáo Thủ tướng Chính phủ và báo cáo Bộ Chính trị về hệ thống sông quốc tế, tình hình khai thác sử dụng nước ở thượng nguồn; hoàn thiện các quy trình vận hành liên hồ chứa...

Các ngành đo đạc - bản đồ, viễn thám cũng có những dấu ấn quan trọng trong năm qua. Việt Nam - Trung Quốc ký Nghị định thư về phân giới cắm mốc trên đất liền tuyến biên giới Việt-Trung. Lần đầu tiên xác định được một đường biên giới rõ ràng trên đất liền với một hệ thống mốc giới hiện đại, mở ra cơ hội mới trong hợp tác phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu hữu nghị và ổn định. Trạm thu ảnh vệ tinh đầu tiên của Việt Nam được đưa vào sử dụng, đáp ứng yêu cầu giám sát tài TN&MT trên phạm vi toàn quốc; đặt nền móng cho việc ứng dụng và phát triển công nghệ viễn thám ở tầm quốc gia… Việt Nam đã trở thành nước thứ 5 trong khối ASEAN có Trạm thu ảnh vệ tinh và là nước đầu tiên ở Đông Nam Á có Trạm thu ảnh vệ tinh ENVISAT.

Lĩnh vực biển và hải đảo rất mới nhưng đã thực hiện tốt công tác điều tra cơ bản về TN&MT biển, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, tạo hành lang pháp lý quan trọng để quản lý tổng hợp, thống nhất biển và hải đảo. Công tác hợp tác quốc tế về biển và hải đảo cũng có tiến bộ, đã tăng cường hợp tác với PEMSEA, COBSEA, cơ quan quản lý Đại dương Trung Quốc (SOA), cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Hoa Kỳ (NOAA).

“Sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 27 về một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý Nhà nước về TN&MT, Ban cán sự Đảng Bộ TN&MT đã ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành. Đây là chủ trương lớn của ngành nhằm góp phần hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thúc đẩy ngành TN&MT phát triển nhanh và bền vững, nhằm tăng đóng góp cho thu ngân sách nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội”, Bộ trưởng nói.

Để đáp ứng đòi hỏi xã hội ngày càng cao, ngành sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý hiệu quả hơn theo hướng “kinh tế hóa” ngành dựa trên các nguyên lý của kinh tế thị trường”, Bộ trưởng nói. Mặt khác, thủ tục hành chính hiện còn rườm rà, phức tạp. Một số cán bộ công chức trong ngành còn gây khó khăn, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, nhất là hệ thống quản lý đất đai ở địa phương. Bộ trưởng khẳng định trong thời gian tới, Bộ TN&MT tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh, thành phố rà soát đề xuất bãi bỏ hoặc bãi bỏ theo thẩm quyền các thủ tục hành chính không còn phù hợp, cương quyết cắt giảm ít nhất 30% số thủ tục hành chính; tăng cường kiểm tra, thanh tra, tiếp tục cải cách lề lối làm việc trong toàn ngành mà trước hết từ Bộ TN&MT.

 

* Đóng góp lớn, thách thức lớn

Phát biểu chỉ đạo, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá ngành TN&MT có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển bền vững của đất nước. Năm 2009, Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn, nhưng 3/5 chỉ tiêu về môi trường chưa đạt kế hoạch. Đó là chưa đạt về khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn, về tỷ lệ độ che phủ rừng, tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch. Trong kế hoạch 5 năm 2006 – 2010, một số chuyên gia cũng dự kiến có 6/7 chỉ tiêu về môi trường không đạt. “Đó là thách thức đối với các ngành, các cấp và trước hết là đối với ngành TN&MT”.

Trong năm 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị ngành TN&MT tập trung giải quyết công tác môi trường, trước hết là đảm bảo nước sạch cho nhân dân. “Cần đề ra các tiêu chí cụ thể và phải có những chuyển biến rõ nét trong việc cung cấp nước sạch cho nhân dân các vùng miền của đất nước. Song song phải quyết liệt tiến hành chống ô nhiễm cho các lưu vực sông Nhuệ, sông Cầu, sông Đồng Nai- Sài Gòn…”, Thủ tướng nói.

Thủ tướng lưu ý, việc Công ty Vedan gây ô nhiễm môi trường sông Thị Vải là một bài học, đòi hỏi ngành phải chủ động, tích cực hơn nữa, nhất là trong công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát phòng ngừa ô nhiễm. Đặc biệt, kiên quyết không cho phép các nhà máy, dự án xây dựng mới được đổ trực tiếp nước thải chưa qua xử lý vào các dòng sông. Thủ tướng nhấn mạnh: Vấn đề môi trường đang là vấn đề nóng bỏng và được đông đảo dư luận quan tâm. Trước đó, trong những cuộc thăm dò dư luận, người dân quan tâm nhiều đến vấn nạn tham nhũng, sau đó là biến động giá cả (thời điểm năm 2008). Hiện nay, quan tâm hàng đầu của người dân là môi trường và môi trường sống.

Quangcanh_HNTKBo2009_1      

Quang cảnh hội nghị

Xử lý rác thải, rác y tế cũng là một vấn nạn trong công tác bảo vệ môi trường. Một lần nữa, Thủ tướng đề nghị các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần tích cực đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải. Theo Thủ tướng, phát triển kinh tế - xã hội phải luôn đi cùng với bảo vệ, cải thiện môi trường, coi bảo vệ môi trường là tiêu chí quan trọng đánh giá các giải pháp phát triển.

Về quản lý đất đai, Thủ tướng đề nghị tiếp tục tăng cường hiệu quả quản lý và sử dụng đất, nhất là đất công. Để đất đai thực sự đem lại nguồn lực phát triển mạnh mẽ cho đất nước. “Cán bộ ngành TN&MT cần quan tâm giải quyết khiếu kiện của nhân dân, lắng nghe nhân dân, giải quyết đảm bảo có tình, có lý. Những khiếu kiện chưa đúng cần kiên trì giải thích cho nhân dân hiểu, những khiếu kiện đúng cần nhanh chóng giải quyết”.

Thủ tướng chỉ đạo cần đổi mới và nâng cao công tác dự báo, đảm báo chính xác, kịp thời để người dân có được thông tin sớm, từ đó chủ động phòng chống lụt bão, giảm thiểu được những thiệt hại do bão lũ gây ra. Trước những diễn biến bất thường của nguy cơ biến đổi khí hậu, các địa phương chịu ảnh hưởng cần có kế hoạch chủ động đối phó. Thủ tướng nhận định: “Nhìn chung, chất lượng công tác dự báo đã tốt hơn, giúp Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương chỉ đạo kịp thời công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả bão, lũ. Đối phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng”, ngành cần tăng cường xây dựng các dự án để kêu gọi các nguồn lực đầu tư cả trong và ngoài nước, nhất là đối với hệ thống đê sông, đê biển”.

Đối với công tác thăm dò, điều tra khai thác tài nguyên khoáng sản, Thủ tướng ghi nhận nỗ lực của ngành trong khảo sát, thăm dò, đánh giá trữ lượng về địa chất, khoáng sản trong mấy năm gần đây, nhất là những phát hiện mới về titan – zircon, quặng  urani… Kết quả này cho thấy, nước ta giàu tài nguyên khoáng sản, đây là tiềm năng, nguồn lực giúp Việt Nam có thể phát triển nhanh hơn, song chủ trương nhất quán là không bán tài nguyên ở dạng thô mà phải tiến hành chế biến ra sản phẩm hàng hóa công nghiệp.

Thủ tướng cũng nhấn mạnh, việc khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường phải coi là nguyên tắc cơ bản, yêu cầu chung đối với sự phát triển kinh tế, hoạt động khoáng sản phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, kết hợp phát triển KT-XH và bảo vệ an ninh quốc phòng.

Cuối cùng, quản lý tổng hợp, thống nhất biển đảo là lĩnh vực mới của ngành. Cần tăng cường hơn nữa công tác điều tra cơ bản, thu thập dữ liệu, thông tin làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển; quan tâm đẩy mạnh công tác quản lý biển, hải đảo, đồng thời sớm xây dựng cơ chế thích hợp trong quá trình thực hiện các đề án, dự án phát triển kinh tế biển, hải đảo, thực hiện tốt chủ trương của Đảng, Chính phủ là “tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển”.

Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên cảm ơn, tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng, toàn ngành sẽ ngày càng đóng góp cho tăng trưởng GDP nhiều hơn nữa, tăng cường bảo vệ môi trường, góp phần ổn định xã hội, khẳng định ngành TN&MT là một trong những ngành chủ lực tham gia vào phát triển bền vững đất nước, xây dựng ngành TN&MT trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật tổng hợp hoạt động năng động, hiệu quả, hội nhập.

Truớc đó, thay mặt lãnh đạo Bộ TN&MT, Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Văn Đức đã trình bày tóm tắt báo cáo tổng kết công tác năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2010 của ngành TN&MT. Theo đó, năm 2010 là năm cuối thực hiện Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 của ngành tài nguyên và môi trường; tiếp tục triển khai Chương trình hành động của Bộ thực hiện Nghị quyết số 03/2008/NQ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2007-2011, đồng thời xây dựng và chuẩn bị triển khai Kế hoạch 5 năm 2011-2015, giai đoạn 2011 - 2020 của ngành tài nguyên và môi trường; thực hiện Chương trình hành động của Bộ thực hiện Nghị quyết số 27/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý tài nguyên và môi trường. Trọng tâm chỉ đạo thực hiện trong toàn ngành tài nguyên và môi trường năm 2009 là: “Triển khai Nghị quyết số 27/NQ-BCS của Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, lập lại trật tự, kỷ cương trong toàn ngành tài nguyên và môi trường”. Báo cáo cũng chỉ rõ 8 nhiệm vụ và giải pháp thực hiện.


* Hứa hẹn sự phối hợp đồng bộ, khởi sắc

Tại Hội nghị, báo cáo tham luận của đại diện các đơn vị thuộc Bộ, Sở TN&MT và UBND các địa phương đã phác họa một bức tranh toàn diện về công tác TN&MT trong năm qua. Đặc biệt đã định hướng nội dung, chú trọng các giải pháp thực hiện trong năm 2010 nhằm nâng cao toàn diện hiệu quả hiệu lực công tác quản lý Nhà nước về TN&MT.

Thừa  nhận thực tế biến đổi khí hậu đã tác động mạnh mẽ đến nước ta, đặc biệt là các tỉnh ven biển, ông Trịnh Văn Chiến – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa cho rằng cần khẩn trương hơn mới “kịp trở tay” với biến đổi khí hậu. Ông Chiến cho biết cách đây vài năm, biến đổi khí hậu còn là khái niệm xa vời hưng hiện nay thì quá rõ ràng ở Thanh Hóa, tỉnh có 102 km bờ biển. Năm nay, lần đầu tiên mặn xâm nhập đến cầu Lèn, tức là đi sâu vào đất liền tới 25km, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh hoạt, sản xuất của người dân huyện Nga Sơn và một phần huyện Hậu Lộc.

Năm 2006, mặn xâm nhập vào sâu trong đất liền 10km mà người dân huyện Nga Sơn và một phần huyện Hậu Lộc đã không có nước ăn trong một tháng rưỡi. Còn năm nay, với tình hình xâm nhập mặn  nghiêm trọng như vậy, chúng tôi dự đoán thời gian thiếu nước kéo dài không dưới 2 tháng. Đối với sản xuất, dự đoán sẽ có 5.000 ha trồng lúa ở huyện Nga Sơn và 4.000 ha ở huyện Hậu Lộc sẽ không sản xuất được.

Để thực hiện tốt công việc của năm 2010 và những năm tiếp theo, ông Dương Bá Diện – Giám đốc Sở TN&MT TP. Cần Thơ đề nghị Bộ nghiên cứu và chỉ đạo thống nhất về hoàn thiện tổ chức bộ máy ngành TN&MT. Đối với cấp xã, phường, Bộ cần thống  nhất với Bộ Nội vụ cho biên chế ít nhất có 1 cán bộ phụ trách môi trường. Điều đó sẽ khắc phục được khó khăn ở nhiều địa phương chỉ có một cán bộ làm công tác địa chính trong khi khối lượng công việc về môi trường cũng khá nhiều.

Ông Bùi Văn Danh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước thì đề nghị nâng mức xử phạt vi phạm môi trường. “Trong bối cảnh các vi phạm về môi trường phát hiện ngày càng nhiều, tôi đề nghị sửa đổi Nghị định 181/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường để đủ sức răn đe, xử phạt các hành vi này. Cần nâng mức xử phạt với mức trần lên tới 500 triệu đồng và xây dựng lộ trình cho việc xử phạt theo hướng đình chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp”, ông Danh nói. Nghị định 181 đã quy định khung xử phạt các hành vi này song khung chưa cụ thể nên khó áp dụng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ - phổ biến ở Bình Phước. Vì thế cần chi tiết hơn nữa khung xử phạt này.

  Ngoài ra, rất nhiều tham luận của các đại biểu Sóc Trăng, Tiền Giang… liên quan đến vấn đề quản lý đất đai đã khẳng định Nghị định 69 tháo gỡ vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng cho các địa phương. Ông Trần Văn Trung, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định đề nghị cần xem xét vấn đề quy hoạch đất lúa giúp các địa phương đảm bảo mục tiêu giữ 3,8 triệu ha đất lúa, xem xét vấn đề giao đất lâu dài cho nhân dân và tăng cường xây dựng cơ sở dữ liệu về quản lý đất đai để quản lý chiều sâu chứ không chỉ trên diện rộng.

 

* Tại Hội nghị, nhiều cá nhân, đơn vị có đóng góp cho sự phát triển của ngành đã được tôn vinh bằng những danh hiệu cao quý của Đảng, Nhà nước và Bộ TN&MT.

Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên thừa ủy quyền Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng 3 cho ông Nguyễn Công Thành – nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT và ông Đặng Hùng Võ – nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT, đã có thành tích đặc  biệt xuất sắc trong công tác góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.


TangHCDL_HNTKBo2009


Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho: ông Nguyễn Thái Lai - Thứ trưởng Bộ TN&MT, ông Đỗ Tiến Hùng - Giám đốc Trung tâm Quy hoạch Điều tra tài nguyên nước, ông Nguyễn Khắc Kinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường, ông Nguyễn Duy Chinh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường.

TangHCLD_DTH_HNTKBo2009    

Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên gắn Huân chương

cho ông Đỗ Tiến Hùng

  TangHCLD_HNTKBo2009

Các đồng chí nhận Huân chương Lao động hạng Ba

                                                                                                     

Bộ TN&MT đã trao Cờ Thi đua xuất sắc cho 32 đơn vị gồm:

1. Trung tâm Trắc địa Bản đồ biển (Tổng cục Biển và Hải đảo VN)

2. Văn phòng Thường trực Hội đồng Ủy ban sông Mê Kông

3. Trường Cao đẳng TN&MT Hà Nội

4. Khoa Trắc địa – Bản đồ, Trường Cao đẳng TN&MT Hà Nội

5. Cục Đăng ký và Thống kê, Tổng cục Quản lý đất đai

6. Cục Bảo tồn và Đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường

7. Trung tâm Thông tin – Kinh tế tài nguyên nước, Cục Quản lý tài nguyên nước

8. Liên đoàn Địa chất Xạ hiếm, Cục Địa chất và Khoáng sản VN

9. Liên đoàn Địa chất Bắc Trung Bộ, Cục Địa chất và Khoáng sản VN

10. Phòng Kế hoạch – Tài chính, Cục Đo đạc và Bản đồ VN

11. Chi nhánh Cục Công nghệ thông tin tại TP. HCM, Cục Công nghệ thông tin

12. Phòng Quản lý đào tạo, Trường Cao đẳng TN&MT miền Trung

13. Phòng Công tác học sinh sinh viên, Trường Cao đẳng TN&MT TP. HCM

14. Vụ Kế hoạch

15. Vụ Tài chính

16. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

17. Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước

18. Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Trung Bộ, Trung tâm KTTV Quốc gia

19. Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Trung ương, Trung tâm KTTV Quốc gia

20. Công ty Đo đạc địa chính và Công trình

21. Xí nghiệp Trắc địa bản đồ 305, Công ty Đo đạc địa chính và Công trình

22. Trung tâm Địa chính đô thị phía Bắc, Công ty Đo đạc địa chính và Công trình

23. Xí nghiệp Đo đạc địa chính II, Công ty Đo đạc ảnh địa hình

24. Trung tâm ứng dụng công nghệ TN&MT, Công ty Đo đạc ảnh địa hình

25. Sở TN&MT TP. Hà Nội

26. Sở TN&MT tỉnh Bắc Kạn

27. Sở TN&MT tỉnh Điện Biên

28. Sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa

29. Sở TN&MT TP. Đà Nẵng

30. Sở TN&MT tỉnh Gia Lai

31. Sở TN&MT TP. Hồ Chí Minh

32. Sở TN&MT TP. Cần Thơ

 

Theo  Thu Phương - Nhật Tân (Monre)

ADB chi 700 triệu USD chống biến đổi khí hậu

  khcn-khithai1Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 4/12 thông báo sẽ chi 700 triệu USD để giúp đỡ các quốc gia thành viên ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu và phát triển công nghệ năng lượng tái sinh.

Theo giới chức ADB, khoản tiền trên sẽ được sử dụng để thúc đẩy hoạt động sản xuất nhờ năng lượng tái sinh cũng như giúp đẩy mạnh các biện pháp sử dụng năng lượng hiệu quả dùng trong công nghiệp, các tòa nhà thương mại và chính quyền địa phương. Ngoài ra, khoản tiền này còn được sử dụng để hỗ trợ các chương trình thí nghiệm cách thức ứng phó với biến đổi khí hậu và các dự án trồng rừng tại những nước nghèo. ADB chia số tiền trên làm 2 khoản quỹ, gồm một quỹ cho vay ưu đãi và một quỹ tài trợ. Đây là ngân hàng đầu tiên trong số các ngân hàng đa phương lớn nhất trên toàn cầu thực hiện cam kết đã đưa ra vào ngày 2/12, tại trụ sở Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). 

Nội các Nepal ngày 4-12 đã có cuộc họp trên ngọn núi Everest nhằm mục đích cảnh báo với thế giới về tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu. Trực thăng chở 21 bộ trưởng lên khu vực Kalipatar cao 5.200m so với mặt biển với bình khí oxy, thiết bị y tế cùng các binh sĩ bảo vệ và nhà báo đưa tin. Kalipatar nằm trên đường lên đỉnh Everest (cao nhất thế giới với 8.850m) trên dãy Himalaya.

Cuộc họp diễn ra trong nửa giờ, sau đó nội các Nepal thông qua nghị quyết chống biến đổi khí hậu. Cuộc họp nội các Nepal diễn ra chỉ vài ngày trước khi Hội nghị cấp cao LHQ về khí hậu khai mạc tại Copenhagen, Đan Mạch (7-12). Các nghiên cứu khoa học cho thấy nhiệt độ tại dãy Himalaya đang tăng nhanh hơn so với toàn bộ khu vực Nam Á. Do vậy, lượng tuyết cũng giảm và băng tan nhanh. 

Theo AP, BBC

Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên dự lễ bàn giao Trạm xử lý nước thải y tế tại Bệnh viện Chợ Rẫy

BotruongPKNguyen1(TN&MT) Ngày 29/11/2009, tại TP.HCM, Bộ trưởng Bộ TN&MT Phạm Khôi Nguyên, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu và Chủ tịch UBND TP.HCM Lê Hoàng Quân đã cùng tham dự buổi Lễ bàn giao Trạm Xử lý nước thải y tế giữa Bệnh viện Chợ Rẫy và Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế (AIC).

Ông Nguyễn Trường Sơn – Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết: Bệnh viện Chợ Rẫy là một trong những bệnh viện lớn nhất cả nước, có hơn 2.700 giường bệnh, mỗi năm khám và điều trị 100.000 lượt bệnh nhân nội trú và trên 1.000.000 bệnh nhân ngoại trú. Mỗi ngày, Bệnh viện đưa ra môi trường từ 2.000 – 2.500 m3 nước thải y tế cần được xử lý (bằng 1/7 tổng lượng nước thải trên toàn địa bàn TP.HCM).

Trạm xử lý nước thải này nằm trong Dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung công suất 4.000 m2/ ngày đêm với công nghệ xử lý AAO phân tán của Nhật Bản đã được Hội đồng khoa học liên 3 Bộ: Bộ KH&CN, Bộ TN&MT, Bộ Xây dựng thẩm định. Công nghệ AAO kết hợp nhiều quá trình xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ bằng vi sinh theo các quy trình: Anarobic – Yếm khí; Anoxic – Thiếu khí và Oxic – Hiếu khí. Công nghệ này có ưu điểm: Thiết bị, công nghệ gọn nhẹ; Lắp đặt linh hoạt (có thể tập trung hoặc phân tán, đặt nổi hoặc đặt chìm...); Thời gian thi công nhanh; Quy trình vận hành tự động; Chi phí bảo dưỡng rẻ; Độ bền cao, khoảng 30 năm vận hành ổn định; Đáp ứng được các tiêu chí về bảo vệ môi trường đối với tiểu chuẩn cho nước thải bệnh viện và tiêu chuẩn cho nước thải công nghiệp. Công nghệ AAO đã được ứng dụng tại nhiều nước và được đánh giá cao về mặt khoa học và thực tế.

Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác kiểm soát môi trường trong các bệnh viện, vì đây là nơi phát sinh ra nguồn chất thải và nước thải có nguy cơ lây nhiễm cao. Đồng thời, nguồn nước thải bệnh viện chứa đựng lớn một nguồn vi sinh vật gây bệnh và nhiều chất gây nguy hại đến đất đai, nguồn nước. Vì vậy, vấn đề xử lý nước thải và chất thải y tế là một nhiệm vụ bắt buộc đối với các bệnh viện và các cơ sở y tế.

Bộ trưởng cho biết, công nghệ xử lý nước thải AAO tuy là công nghệ có nhiều ưu việt, song cần phải có sự phối hợp theo dõi, kiểm chứng. Sau quá trình vận hành thử nghiệm, nếu công nghệ này phát huy hiệu quả với chất lượng nước thải đầu ra đạt tiêu chuẩn Việt Nam và không phát sinh sự cố thì nên ứng dụng rộng rãi trong hệ thống các cơ sở y tế khác trong cả nước.

(Theo  Nguyễn Thanh - Monre)

8,5 triệu dân đô thị chưa được dùng nước sạch

Theo thông tin vừa được công bố của dự án cấp quốc gia “Đánh giá ngành nước Việt Nam”, hiện nay, có tới 8,5 triệu người dân đô thị chưa có cơ hội dùng nước sạch, 21 triệu người dân nông thôn còn xa lạ với khái niệm “nước hợp vệ sinh” và 41 triệu người khác tuy được cấp nước nhưng chất lượng nguồn nước chưa đáp ứng tiêu chuẩn nước sạch của Bộ Y tế.