Tue12182018

Last update06:09:01 AM GMT

Hoạt động của Trung tâm

ĐỀ ÁN “ ĐIỀU TRA NGUỒN NƯỚC DUỚI ĐẤT TẦNG NEOGEN VÙNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI”: Bổ sung nguồn nước ngầm quý giá cho phát triển Thủ đô

vv164TS. Tống Ngọc ThanhTS. Tống Ngoc Thanh, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước (QH & ĐT TNN) miền Bắc cho biết:  Dưới sự chỉ đạo sâu sát của Bộ TN & MT, Trung tâm QH&ĐTTNN, 5 năm qua, CBCNV Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Bắc đã nỗ lực vượt lên mọi thách thức, hoàn thành công tác điều tra nguồn nước dưới đất tầng Neogen vùng TP. Hà Nội, mở ra triển vọng lớn trong việc cấp nuớc phục vụ Thủ đô trên đường đổi mới.

* Ông có thể cho biết xuất phát điểm của Đề án?

 Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh: Nguồn nước phục vụ cho Hà Nội chủ yếu là nước dưới đất được khai thác trong các trầm tích bở rời Đệ tứ, vài năm nay có thêm nguồn nước mặt từ Sông Đà; vì thế, hiện tượng suy thoái, ô nhiễm nguồn nước là không tránh khỏi. Những năm 97-98, nhiều cư dân ở các khu vực Định Công, Linh Đàm, Pháp Vân…không ngớt “kêu cứu” về tình trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt. Chủ đầu tư các khu đô thị này như TCT HUT đã phải bỏ tiền, ký hợp đồng với Liên đoàn để thăm dò, tìm kiếm nguồn nước sạch. Liên đoàn đã khoan thăm dò và phát hiện tầng chứa nước Neogen ở độ sâu 180-250m có nguồn nước ngầm khá phong phú, chất lượng rất tốt, nên đã xây dựng, chuyển giao cho Nhà đầu tư bãi giếng công suất 7000 m3/ng, cung cấp nước cho cư dân khu vực trong niềm phấn chấn của mọi người. Đặc biệt, từ khi Hà Nội được mở rộng với Quy hoạch phát triển thành Thủ đô hiện đại, văn minh thì việc tìm kiếm nguồn nước bổ sung, đáp ứng nhu cầu này được nhân lên. Đây chính là xuất phát điểm của Đề án “Điều tra, nguồn nước duới đất tầng Neogen vùng thành phố Hà Nội” do Liên đoàn đảm trách. Vùng nghiên cứu có diện tích 872 km2, phần lớn thuộc Tp Hà Nội, còn lại là các vùng phục cận thuộc các tỉnh Hưng Yên và Bắc Ninh.Đề án được thi công năm 2007, kết thúc tháng 10/2011. 

* Kết quả nổi bật của Đề án được đánh giá như thế nào, thưa ông?

Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh:  Đề án đã làm rõ sự phân bố theo diện và chiều sâu của các trầm tích Neogen trong khu vực, có độ sâu từ mặt đất xuống khoảng 60-110m. Các trầm tích của hệ tầng Vĩnh Bảo phân bố đến độ sâu 197- 447 m. Lỗ khoan (LK) TD9 ở Bình Minh, Khoái Châu sâu 600 m vẫn chưa khoan hết hệ tầng Tiên Hưng.

Thành lập được Bản đồ địa chất thủy văn (ĐCTV) tầng chứa nước Neogen tỷ lệ 1:50.000, là tài liệu quan trọng để triển khai các dự án điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất tiếp theo và cơ sở để thực hiện Đề án “Điều tra đánh giá tổng thể bể than sông Hồng phần đất liền”, nhất là khi khai thác than tầng sâu.

Đã đánh giá được chất lượng nước theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ngầm; theo đó, về cơ bản nước trong tầng Neogen có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất. Chính xác hóa ranh giới mặn nhạt của tầng chứa nước Vĩnh Bảo (n2), trong đó diện tích nước bị nhiễm mặn khoảng 223,7 km2, phân bố ở phía tây, tây nam vùng nghiên cứu

Đã xác định được các vùng có triển vọng khai thác nước lớn trong tầng chứa nước hệ tầng Vĩnh Bảo. Đánh giá được trữ lượngtiềm năng nước dưới đất của các trầm tích hệ tầng Vĩnh Bảo 1.642.925 m3/ng, Trong đó trữ lượng thực bơm tại 11 LK là: 17.336 m3/ng; hệ tầng Tiên Hưng tại 2 LK là 911 m3/ng.Đặc biệt tại LK 10N sâu 400m, thị trấn Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, phát hiện nguồn nước có lưu lượng lớn (800 m3/ng) nhiệt độ 36 oC, thuộc loại nước khoáng ấm.

Đề án làm phong phú thêm nguồn tài liệu điều tra cơ bản về TNN trên địa bàn Hà Nội, phục vụ tốt công tác quản lý nhà nước về TNN trên địa bàn Thành phố.

* Các biện pháp chủ yếu Liên đoàn đã thực hiện để tạo nên sự thành công của Đề án,  thưa ông?

Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh: Liên đoàn đã thu thập, xử lý và tổng hợp tài liệu; điều tra hiện trạng khai thác nước dưới đất; khảo sát địa chất thủy văn trên mặt; ứng dụng công nghệ và thiết bị địa vật lý tiên tiến để nghiên cứu cấu trúc ĐCTV các tầng chứa nước, xác định ranh giới mặn nhạt, tìm ra các cấu trúc, đới chứa nước để khoan các lỗ khoan thăm dò. Dựa trên các tài liệu này đề án đã khoan thành công, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật 14 LK với khối lượng 3280m khoan, trong đó có 2078m được lấy mẫu để nghiên cứu cấu trúc và thành phần đất đá. Đã kết cấu các loại ống chống, ống lọc đường kính trung bình đến lớn để bơm nước thí nghiệm nhằm đánh giá trữ lượng và chất lượng nguồn nước, trong đó có 2 LK sâu nghiên cứu phân tầng ĐCTV, đây là công việc rất khó. Lấy và phân tích hàng trăm mẫu địa chất, nước; quan trắc động thái để làm rõ đặc điểm và quy luật của nước dưới đất trong tầng Neogen...

 Là người trưởng thành từ Liên đoàn, trực tiếp chỉ đạo, gắn bó với Đề án trong suốt 5 năm, theo ông khó khăn lớn nhất của anh em trong quá trình triển khai Đề án là gì và đã khắc phục ra sao để hoàn thành nhiệm vụ?

Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh: Đề án thi công trên địa bàn thành phố Hà Nội và các vùng lân cận là trung tâm chính trị, kinh tế của cả nước, nơi tập trung đông dân, nhiều vùng trồng hoa và kinh doanh cây cảnh…(Văn Lâm, Văn Giang), nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác mượn đất, đền bù giải phóng mặt bằng để tập kết máy móc vào nơi thi công. Có LK chậm thi công tới 2-3 tháng. Mức đầu tư hàng năm hạn chế nên thời gian thực hiện Đề án bị kéo dài từ 3 năm (theo Quyết định phê duyệt) lên 5 năm, ảnh hưởng tới việc sử dụng kết quả điều tra Đề án phục vụ các ngành KT-XH. Máy móc; thiết bị thi công của Liên đoàn chưa được đầu tư nhiều, đa số lạc hậu, xuống cấp trong khi thực tế phải khoan những LK phân tầng với chiều sâu từ 200-400 m, chống các loại ống có đường kính lớn nên thường gặp các sự cố. Do vậy để thành công, Liên đoàn tập trung nguồn lực, đầu tư 4 tổ máy đầu đàn có khả năng khoan sâu đến 700m, chống ống đến đường kính 325mm. Bơm, thổi rửa LK ở độ sâu 200m-400m phải sử dụng tổ hợp máy nén khí Model CPS 350-10 Chicago Pnucmatec, Allas Copco, Sullir mới đủ áp suất thổi rửa sạch lỗ khoan.

 vv165Hút nước thí nghiệm lỗ khoan LK10-N (400m) TT. Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

 * Phải chăng đó cũng là điều khiến ông tâm đắc nhất, bởi Liên đoàn đã vượt lên mọi thách thức, lần đầu tiên thành công trong nghiên cứu tầng sâu nước dưới đất, khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực điều tra tài nguyên nước?

 Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh: Quá trình thực hiện Đề án với chúng tôi như một cuộc tập trận mà kết quả của nó đã giúp cho trình độ, tay nghề đội ngũ CBCN nâng cao, nhất là thi công khoan và kết cấu ống phân tầng ở các LK có đường kính và chiều sâu lớn; kết quả của Đề án đã đạt các mục tiêu đề ra, đặc biệt có nguồn tài liệu mới để khẳng định: tầng chứa nước Neogen phía Nam Hà Nội nhiều vùng giàu nước, có triển vọng tốt và khá chiếm hơn một nửa diện tích nghiên cứu; tỷ lệ các LK giàu nước lớn (84,6%), trong đó có 10/13 (79,6%) LK có lưu lượng Q > 10 l/s;có LK đạt trên 30 l/s, chất lượng nuớc tốt, hàm lượng sắt ít, các yếu tố vi sinh, vi lượng đều dưới mức cho phép.

  * Để đề án phát huy hiệu quả, Nhà nước, các ngành và doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội cần nghiên cứu và triển khai các giải pháp nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả cũng như bảo vệ và phát triển nguồn nước dưới đất quý giá này, thưa ông?

Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh: Đó cũng là mong muốn của Liên đoàn! Bởi thành công của đề án là tiền đề để Nhà nước tiếp tục đầu tư nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện nguồn nước dưới đất trong tầng Neogen vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, phục vụ phát triển KT-XH của thủ đô trên đường đổi mới; đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng; vì đây là tầng chứa nước nằm sâu được bảo vệ tốt, ít bị tác động. Nguồn tài liệu này cũng là tiền đề để nghiên cứu ĐCTV khi thăm dò và khai thác than ở bể than sông Hồng.

 Kết quả điều tra tầng chứa nước Neogen vùng thành phố Hà Nội cho thấy triển vọng nguồn nước mới có chất lượng rất tốt, có thể khai thác để sử dụng cho ăn uống sinh hoạt, ngành công nghiệp cần sử dụng nguồn nước có chất lượng tốt cho dệt may, điện tử, chế biến thực phẩm… Đặc biệt đã phát hiện ra nguồn nước khoáng ấm có thể khai thác để phát triển du lịch (phục vụ nước tắm, bể bơi 4 mùa) với chi phí xử lý nước thấp.

* Xin cám ơn Liên đoàn trưởng!

 

(Theo Monre.gov.vn)

 

 

Tháng 8, lên công trường tìm kiếm nguồn nước vùng Đông Bắc - Bài 2: Gặp “đội quân” tìm nguồn nước trên cao nguyên đá

Gần 4 năm qua (2009-2012), các đơn vị thi công thuộc Liên đoàn QH &TN nước miền Bắc đã nỗ lực vuợt lên mọi thách thức, khó khăn, thiếu thốn đời thường để hoàn thành Đề án “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang”, góp phần phát triển KT-XH và đảm bảo an ninh, quốc phòng tại vùng biên ải xa xôi của Tổ Quốc.

 vv161Đoàn đi thực địa

 

Mặc gió mưa, đường xá lầy thụt thấm đẫm bùn nước sau cơn bão số 5, Đoàn công tác do Trung tâm QH &ĐT TNN, Liên đoàn QH&ĐT TNN miền Bắc chủ trì với sự tham gia của đại diện một số Vụ chức năng thuộc Bộ, Sở TN & MT Hà Giang… vẫn đến thị trấn Mèo Vạc, Hà Giang, nơi cánh thợ khoan đang khẩn trương thi công 4  lỗ khoan cuối cùng để kết thúc Đề án vào cuối năm nay.

Hầu hết anh em ăn ở, làm việc trong những căn lán sơ sài, căng bạt tránh nắng mưa và túc trực bên các máy khoan đang thi công các lỗ khoan (LK) CT1, CT2, CT5 và CT7 từ sáng sớm đến tối mịt. Trong câu chuyện, các anh “lính khoan” không giấu nổi niềm vui được mang sức trẻ cống hiến cho việc tìm kiếm nguồn nước trên cao nguyên núi đá. Khi đuợc hỏi về nỗi niềm xa nhà, có anh cười, dí dỏm: Chẳng nói chắc các chị cũng biết đấy!  Kĩ sư Nguyễn Khắc Đôn còn rất trẻ, lần đầu tiên được giao làm chủ nhiệm một đề án có ý nghĩa sâu sắc về CT-KT-XH, chia sẻ: “ Xa nhà trong hoàn cảnh đã có con, vợ lại đang mang bầu cũng thấy trăn trở! Bù lại, tôi rất vui được nhận nhiệm vụ khó khăn, đáng tự hào, lại được lãnh đạo Bộ, Trung tâm, Liên đoàn và đồng đội luôn quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ về mọi mặt”.

Đề án nằm trên địa bàn thi công rất khó khăn, cấu trúc địa chất phức tạp gặp nhiều hang karst kích thước lớn, thành vách lỗ khoan dễ chồi chìa… nên việc khoan lấy mẫu, khoan doa mở rộng đường kính để kết cấu chống ống rất khó khăn, dù các đơn vị  đã bố trí những thợ khoan có kinh nghiệm, từng “chinh chiến” ở những vùng tương tự. Trong thi công, từ khâu giải phóng mặt bằng đến vận chuyển thiết bị, vật tư, nước cho thi công…đều chi phí lớn.” Khó khăn là vậy, nhưng qua 4 năm triển khai Đề án có thể khẳng định: các hạng mục công việc được tiến hành đúng trình tự của công tác điều tra địa chất cơ bản từ giải đoán ảnh, khảo sát, đo địa vật lý, lựa chọn vị trí lỗ khoan, thi công khoan, hút nước thí nghiệm, lấy và phân tích đánh giá chất lượng mẫu nước…đều đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.

Mưa vẫn rơi tầm tã, bầu trời Mèo Vạc xám xịt, thấm đẫm nước, cánh thợ khoan thi công LKCT1 vẫn kiên trì khắc phục sự cố. Kĩ sư Vũ Đình Thảo, Đoàn trưởng Đoàn 54 phụ trách LK, mặt sạm đen, hốc hác vì mất ngủ, kể: Chúng tôi thi công lỗ khoan này từ ngày 22/4 đến 23/6/2012 đạt độ sâu 230 m; nhưng khi khoan doa để kết cấu ống chống, ống lọc theo thiết kế thì gặp sự cố đá nứt nẻ, chồi chìa làm kẹt bộ dụng cụ ở độ sâu 207 m. Suốt 2 tháng vật lộn với LK, mới cứu được 180m cần, phần còn lại bị kẹt sâu, đưa dụng cụ xuống, càng kẹt thêm. Trước rủi ro này, toàn Đội cũng nản lòng, nhưng vẫn kiên trì cứu LK. Kỹ sư Chu Hữu Hòa, được mệnh danh là “Chuyên gia cứu kẹt” lên đây nửa tháng nay, cùng “gối đất nằm sương” với anh em để khắc phục sự cố, anh bảo: Việc cứu LK chưa thành, chính là do bộ cứu kẹt chưa đảm bảo chất lượng, không đồng bộ; bộ dụng cụ bị kẹt nằm ở độ sâu 207 m, anh em đã đưa hàng trăm mét cần khoan xuống để kéo lên đều bị đứt gãy. Chúng tôi vừa dùng giải pháp: đưa bộ ống mẫu xuống LK, khoan chụp từ trên xuống, cắt các vật ngáng nhô ra làm kẹt bộ dụng cụ rồi dùng ống khoan dài, đường kính lớn khoan chụp đưa lên để khơi thông LK, hy vọng sẽ có kết quả!

 vv162Trong lán thợ khoan, nghe chuyên gia Hòa (giữa) kể chuyện cứu kẹt lỗ khoan

Đường tới LK CT7 lầy lội, cheo leo rất khó đi, từ xa đã thấy từ miệng LK nước được bơm lên rất mạnh. Niềm vui lấp lánh trong ánh mắt thợ khoan bởi họ đã gần về đích trong chặng đường đua. Thạc sĩ Nguyễn Văn Kềnh, Phó Liên đoàn trưởng kể: Sau 4 tháng thi công khoan và kết cấu ống khai thác theo thiết kế, hiện LKCT7 đang thổi rửa, làm sạch, có triển vọng đạt lưu lượng khoảng 3,5 lít/giây (tương đương 300 m3/ngày). Khi hoàn thành sẽ đáp ứng được phần lớn nhu cầu nước cho người dân Mèo Vạc. “Chiến tích’ của anh em tại LK này là khi thi công đến độ sâu 169/ 230m thì gặp nhiều tầng hang karst, có hang rộng lớn, chiều cao trần tới 23 m, chứa toàn cuội sỏi grabo dễ sập lở, chồi chìa. Đơn vị thi công đã mất rất nhiều công sức, dùng mọi biện pháp khống chế, mới khoan được độ sâu theo thiết kế.

Đôi điều cảm nhận

Sau khi đi thực địa, chị Trương Thị Hiên, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính, Bộ TN & MT tâm sự: Lên Mèo Vạc mới thấy anh em thợ khoan làm việc quá vất vả, điều kiện ăn ở, sinh hoạt vô cùng thiếu thốn. Gạo ở đây đắt hơn Hà Nội 4.000 đ/kg, các loại thực phẩm thiết yếu khác cũng tương tự; nước cho sinh hoạt, thi công phải thuê vận chuyển với giá 350.000-400.000 đ/xe, dung tích 7m3 ;1 tấn đất sét đưa từ Hải Dương lên cao gấp 40 lần dưới xuôi. Địa tầng thi công các LK lại quá phức tạp, dễ bị sự cố… Nhưng anh em vẫn bám trụ để hoàn thành nhiệm vụ, thật đáng quý! Đề án có nhiều khoản chi phí phát sinh, vượt dự toán ban đầu, chúng tôi sẽ báo cáo lãnh đạo Bộ xem xét, hỗ trợ, giảm bớt khó khăn cho đơn vị. Chị Phạm Thị Hải, Sở TN & MT tỉnh Hà Giang cho rằng: Đề án có ý nghĩa lớn với đồng bào vùng cao nguyên núi đá, nhất là Thị trấn Mèo Vạc. Hy vọng kết quả của Đề án sẽ được Bộ TN & MT, UBND huyện Mèo Vạc quan tâm, có phương án cụ thể trong việc xây dựng các công trình khai dẫn, đưa nước về với đồng bào, góp phần làm khởi sắc bức tranh KT-XH, bảo đảm an ninh quốc phòng vùng biên ải Đông Bắc.

 

 

 (Theo Monre.gov.vn)

 

 

 

 

 

Tháng 8, lên công trường tìm kiếm nguồn nước vùng Đông Bắc - Bài 1: Về miền đất khát

vv160Đoàn thực địa tại Lỗ khoan CT7Đoàn chúng tôi gồm đại diện  một số Vụ chức năng thuộc Bộ TN & MT, Trung tâm Quy hoạch & điều tra tài nguyên nước (QH &ĐTTNN), Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Bắc… đến với công trường-nơi các đơn vị trực thuộc Liên đoàn QH &ĐTTNN miền Bắc đang thi công các lỗ khoan (LK) cuối cùng của Đề án “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất (NDĐ) khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang” đúng vào dịp cả nước tưng bừng kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9.

           Hành trình lên Mèo Vạc

  Con đường từ Hà Nội lên tới Mèo Vạc (Hà Giang) khoảng 500 cây số, nhưng chỉ có non nửa đường xe đi lại êm thuận, còn toàn là đèo cao, dốc đứng, những con đường nhỏ lở lói, quanh co, uốn khúc như rắn lượn. Bù vào đó, nơi đây được thiên nhiên ban tặng những bức tranh hùng vĩ với núi non trùng điệp, những mái nhà lô xô tỏa khói lam chiều dưới các thung lũng xanh màu cây lá, những dãy núi đá tai mèo đen sẫm cao sừng sững được tô điểm với những cây ngô đã ngả màu vàng. Thế mới biết bà con các dân tộc nơi đây phải canh tác cực nhọc, chịu đựng bao gian khó mới có đựợc bát cơm, manh áo! Cảm thông hơn với những người đi tìm nguồn nước cho vùng sơn cước xa xôi, anh em bảo, chỉ riêng việc thuê chuyên chở các thiết bị dụng cụ khoan máy lên Mèo Vạc, có xe thuê từ Hải Dương lên đã phải bỏ cuộc giữa đường vì ngại đường xa, núi đá gập ghềnh, nhiều rủi ro.

                Tìm nguồn nước cho vùng khát

 Ông Phạm Quý Nhân, Phó Giám đốc Trung tâm QH & ĐT TNN cho biết: Đề án nước Mèo Vạc (pha 1) được tiến hành từ những năm 2004; kết quả đã tìm ra được nguồn nước ngầm với lỗ khoan tại xã Pả Vi. Chính vì thế, pha 2 của Đề án được triển khai theo Quyết định của Bộ TN & MT. Mèo Vạc nằm trên khu vực cao nguyên đá Đồng Văn cực kỳ khan hiếm nước, nguồn nước mặt chủ yếu là sông Nho Quế, địa hình phân cắt, có sự chênh lệch lớn về cao độ giữa nơi cư dân sinh sống với thung lũng sông tới 500 m. Chất lượng nước mặt và lưu lượng không ổn định nên việc khai thác bị hạn chế. Từ năm 2000 đến 2006, Trường Đại học Khoa học tự nhiên với các phương pháp khác nhau để tìm kiếm NDĐ cho khu vực thị trấn Mèo Vạc;  Trường Đại học Mỏ- Địa chất Hà Nội thực hiện đề tài Nghiên cứu về nước kasrt vùng Đông Bắc, trong đó có huyện Mèo Vạc và thị trấn cùng tên nhằm tìm kiếm NDĐ. Cả hai đề tài đã có những đóng góp nhất định cho công tác tìm kiếm thăm dò nguồn NDĐ. Tuy nhiên, những công trình thăm dò cụ thể, tìm kiếm để khai thác nước chưa đạt kết quả như mong muốn. Ông Tống Ngọc Thanh, Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH &ĐT TNN miền Bắc cho rằng: Tài nguyên nước là tiền đề để bà con các dân tộc vùng biên ải yên tâm định cư, sinh sống. Cách đây 3 năm, thị trấn Mèo Vạc đã đầu tư hơn 7 tỉ đồng để sử dụng nguồn nước mặt (mó nước), nhưng lưu lượng chỉ đạt 0,5 lít nước/giây, đáp ứng phần rất nhỏ nhu cầu nước cho sinh hoạt của bà con. Về mùa khô, nguồn nuớc bị suy giảm và cạn kiệt; tới đây chỉ thấy núi đá tai mèo sẫm một màu đen. Người dân đã nghèo lại phải bỏ ra 40.000 đồng để mua một can nước chừng 20 lít dùng trong sinh hoạt hàng ngày.  Đề án “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước duới đất khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang” được triển khai, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế xã hội ở vùng biên giới Đông Bắc này, giúp bà con các dân tộc yên tâm định cư, sinh sống. Hiện Đề án đang được các đơn vị của Liên đoàn khẩn trương thi công các lỗ khoan cuối cùng, đo karota phân tích địa tầng, kết cấu lỗ khoan và bơm nước thí nghiệm, phân tích các mẫu nước nhằm đánh giá trữ lượng, chất lượng NDĐ cung cấp cho thị trấn. Đề án sẽ kết thúc vào cuối năm nay.Chuyến đi thực địa này của Đoàn với sự tham gia của các vụ chức năng thuộc Bộ, Sở TN & MT tỉnh Hà Giang nằm trong chương trình kiểm tra các đề án của Trung tâm hằng năm nhằm xem xét tiến độ, chất lượng các hạng mục còn lại; từ đó có hướng để các lực lượng thi công đảm bảo tiến độ và mục tiêu của toàn Đề án.

 

 (Theo Monre.gov.vn)

 

 

 

Nguồn gốc ô nhiễm Asen và Amoni trong nước ngầm trên địa bàn Hà Nội

Nuoc_nhiem_AsenNguồn nước nhiễm Asen (Ảnh minh họa, nguồn Internet)Trong thời gian vừa qua, nhiều báo đài Trung Ương và Hà Nội có đăng tin về ô nhiễm Asen và Amoni trong nước ngầm trên địa bàn Hà Nội. Đây là một vấn đề đã được các cấp, các ngành và người dân sống trên địa bàn Thủ Đô quan tâm. Nhiều nhà khoa học đã tiến hành các công trình nghiên cứu, đánh giá hiện trạng, mức độ ô nhiễm trong các tầng chứa nước và mức độ phơi nhiễm trên cơ thể người dân ở một số địa bàn. Tuy nhiên, nghiên cứu về nguồn gốc gây ô nhiễm Asen và Amoni trong nước ngầm còn nhiều hạn chế

Để có cái nhìn khách quan và bản chất của các nguồn ô nhiễm này, chúng tôi xin giới thiệu công trình nghiên cứu giai đoạn 2007 - 2008 “Nguồn gốc và sự phân bố Amoni và Asen trong các tầng chứa nước Đồng bằng sông Hồng” do Quỹ nghiên cứu SIDA (Thụy Điển) tài trợ. Đề tài có sự hợp tác của GS. Gunnar Jacks của trường Đại học Hoàng gia Thụy Điển (KTH), TS. Jenny Norman, TS. Hakan Rosqvist của Viện Địa kỹ thuật Thụy Điển (SGI), TS. Đặng Đức Nhận của Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân Việt Nam (INST).

Những kết quả chính của đề tài có thể tóm tắt như sau:

1. Hàm lượng As tổng số, As5+ và As3+ phân bố trong tầng Holocene với hàm lượng lớn hơn trong tầng Pleistocene.

2. DOC trong nước ngầm khu vực nghiên cứu ngoài nguồn gốc được tạo thành từ sự phân hủy sinh học các vật liệu hữu cơ (NOM) trong trầm tích, mà nó còn được hình thành từ hệ thống phân hữu cơ từ sinh hoạt của con người (septic) và động vật, từ hệ thống nước thải của thành phố Hà Nội có chứa nhiều hợp chất hữu cơ và có thể từ hoạt động nông nghiệp. DOC không chỉ là tác nhân hỗ trợ tạo môi trường khử để giải phóng As ra khỏi Hfo mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho các chủng vi sinh vật, kích thích quá trình khử hoà tan các Hfo di chuyển As vào nước ngầm. Và như vậy, quá trình giải phóng và di chuyển của As được quyết định bởi sự có mặt của DOC trong nước ngầm.

3. Khử hòa tan Hfo bởi DOC và phân hủy sinh học các hợp chất DOC là hai cơ chế chính để giải thích sự có mặt với hàm lượng cao của As trong nước ngầm. Song không thể loại trừ khả năng hoặc/và bicacbonat được tạo thành cũng tham gia thay thế As hoặc/và là tác nhân duy trì sự giải phóng As do tạo thành kết tủa với Siderite.

4. Hàm lượng amoni cao trong nước ngầm vùng nghiên cứu có nguồn gốc là sự pha trộn bởi nguồn gốc tự nhiên (từ sự phân hủy vật liệu hữu cơ trong đất) và nguồn gốc nhân tạo (từ nguồn phân hữu cơ của các hệ thống vệ sinh, từ các hệ thống nước thải và có thể là từ nguồn phân bón của các hoạt động nông nghiệp).

Hiện nay, các chương trình Hợp tác nghiên cứu về nguồn gốc ô nhiễm Asen giữa các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tư nhiên và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước với các nhà khoa học Đan Mạch (VietAS 2004 -2012) và Thuỵ Điển (AmoAS 2008-2012) về nguồn gốc ô nhiễm Amoni (AmoAS 2008-2012) đang tiếp tục được triển khai. Những kết quả nghiên cứu tiếp theo sẽ được chúng tôi phổ biến rộng rãi đến bạn đọc. Những số liệu, sản phẩm của đề tài sẽ có ích cho các cơ quan chức năng trong việc quản lý và khai thác nước ngầm khu vực Hà nội nói riêng và vùng đồng bằng sông Hồng nói chung một cách hợp lý và khoa học.

Độc giả quan tâm tới vấn đề này, có thể download đề tài " Nguồn gốc và sự phân bố Amoni và Asenic trong các tầng chứa nước đồng bằng sông Hồng" do PGS.TS Phạm Quý Nhân - Phó giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước làm chủ nhiệm theo Link sau:

http://cwrpi.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=doc_download&gid=207&Itemid=17&lang=vi

 

 

 

(PGS.TS Phạm Quý Nhân - PGĐ TT Quy hoạch và Điều tra TNN)

Góp ý bản dự thảo Thông tư quy định Định mức kinh tế kỹ thuật và thông tư quy định về kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước

Căn cứ Quyết định số 96/QĐ - BTNMT ngày 19 tháng 01 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về phê duyệt Chương trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

Căn cứ Quyết định số 1405/QĐ-BTNMT ngày 28 tháng 8 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về Điều chỉnh Chương trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 thuộc phạm vị quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Đến nay, hai thông tư (trong số 5 thông tư) đã xây dựng xong bao gồm “Thông tư quy định về Định mức kinh tế - kỹ thuật quan trắc và dự báo tài nguyên nước” và “Thông tư quy định về kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước dưới đất”.

Để có thêm các cơ sở để nghiên cứu, hoàn thiện Dự thảo Thông tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin đăng tải Dự thảo hai Thông tư để các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp ý kiến.

Ý kiến đóng góp xin gửi về Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước, Số 93/95 Phố Vũ Xuân Thiều- Phường Sài Đồng - Quận Long Biên - Thành phố Hà Nội.

Mọi ý kiến đóng góp sẽ đuợc chuyển đến cơ quan soạn thảo để nghiên cứu, tiếp thu và chỉnh lý truớc khi ban hành.

Quý bạn đọc quan tâm có thể download theo Link sau:

Thông tư Quy định kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước dưới đất:

http://cwrpi.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=doc_download&gid=206&Itemid=17&lang=vi

Thông tư Quy định định mức kinh tế - kỹ thuật công tác quan trắc và dự báo tài nguyên nước:

http://cwrpi.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=doc_download&gid=205&Itemid=17&lang=vi


 

 

Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước xin trân trọng cảm ơn!



(CWRPI)

Kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2012

Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước - Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã tổng hợp kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2012. Chi tiết mọi người có thể download và tham khảo tại đây

 

(CWRPI)

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG

Trung tâm Quan trắc và Dự báo Tài nguyên nước là đơn vị trực thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước cần tuyển kỹ sư với các yêu cầu như sau:

1.Vị trí tuyển : trưởng phòng Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước mặt

2. Mô tả công việc: quản lý điều hành phòng:

- Chỉ đạo kiểm tra đánh giá chất lượng tài liệu quan trắc tài nguyên nước mặt, tài liệu chỉnh lý, chỉnh biên;

- Chủ trì khảo sát xác định vị trí xây dựng điểm quan trắc tài nguyên nước mặt;

- Đề xuất kế hoạch, chương trình quan trắc hàng năm tại các trạmquan trắc tài nguyên nước mặt;

- Có hiểu biết về dự báo thủy văn.

3. Yêu cầu:

- Tốt nghiệp đại học chuyên ngành thủy vănít nhất 05 năm kinh nghiệm về quan trắc thủy văn, chỉnh lý, chỉnh biên tài liệu,...

- Thành thạo vi tính: tin học văn phòng, đồ họa (Auto-Cad, mapinfo,..), các phần mềm dự báo liên quan.

- Có khả năng quản lý điều hành công việc của một nhóm

- Tuổi từ 25 đến 45.

- Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh (chứng chỉ B trở lên)

- Sức khỏe tốt, trung thực, chăm chỉ, cẩn thận, nhanh nhẹn, có trình độ chuyên môn, đoàn kết trong công việc.

+ Hồ sơ dự tuyển:

-         Đơn xin dự tuyển (01 bản)

-         Sơ yếu lý lịch có chứng thực của địa phương (02 bản)

-         Văn bằng, chứng chỉ, hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân (bản sao có xác nhận sao y bản chính)

-         Giấy chứng nhận sức khỏe (01 bản – có dán ảnh)

Người dự tuyển trực tiếp nộp hồ sơ tại: Trung tâm Quan trắc và Dự báo TNN, số 10 ngõ 42 Trần Cung, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội.

Mọi chi tiết liên hệ: Phòng Nghiệp vụ Tổng hợp – Trung tâm quan trắc và Dự báo TNN; Điện thoại (04)3.7558782.

Hạn cuối nộp Hồ sơ:15/10/ 2012.

Hồ sơ không trúng tuyển, không trả lại.