Wed11222017

Last update02:00:00 PM GMT

Trung tâm QH&ĐT TNN QG: Góp phần thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Tập thể lãnh đạo, cán bộ, công nhân viên Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc đang ra sức quyết tâm hoàn thành giai đoạn 1 của dự án: “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước” thuộc Chương trình Điều tra, tìm kiếm nưới dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước theo đúng mục tiêu, yêu cầu đề ra. Góp phần quan trọng trong việc thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2015 – 2020.

Tích cực điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất phục vụ đồng bào vùng núi cao, vùng khan hiếm nước

Dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước” thuộc chương trình “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước” được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt tại quyết định số 3286/QĐ-BTNMT ngày 16/12/2015. Mục tiêu của Dự án nhằm tìm được các nguồn nước dưới đất, xác định trữ lượng, chất lượng và lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tại 426 vùng núi cao, khan hiếm nước trên địa bàn 41 tỉnh trên toàn quốc; đồng thời xác định được khu vực có triển vọng, vị trí các công trình khai thác nước dưới đất, các lỗ khoan khai thác có lưu lượng, chất lượng, kết cấu đủ điều kiện để khai thác bền vững.

Quy hoạch phân bổ tài nguyên nước tại các lưu vực sông – giải pháp chia sẻ nguồn nước công bằng, hiệu quả

Những năm gần đây, tình trạng hạn hán, thiếu hụt nguồn nước ở nước ta xảy ra ngày càng nhiều. Cạnh tranh giữa sử dụng nguồn nước cho phát điện và các nhu cầu tiêu thụ nước khác, nhất là cho sản xuất nông nghiệp ở hạ du một số lưu vực sông lớn như sông Hồng, sông Vu Gia - Thu Bồn... đang diễn ra ngày càng phức tạp.

Hoàn thiện việc dự báo nguồn nước mặt nhằm nâng cao công tác quản lý tại các lưu vực sông liên tỉnh, liên quốc gia

Điều 4 Luật tài nguyên nước năm 2012 do Quốc hội nước CHXH Việt Nam ban hành, đã nêu sự cần thiết phải đánh giá, dự báo tài nguyên nước cho các lưu vực sông nhằm có những thông tin chính xác, kịp thời phục vụ công tác quản lý trong lĩnh vực tài nguyên nước.

Họp triển khai kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm 2017 dự án "Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Srêpôk"

IMG_1583
Chiều ngày 20/02/2017, tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã tổ chức Họp triển khai kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm 2017 của Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước miền Nam. Tham dự cuộc họp có ông Tống Ngọc Thanh - Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia; ông Triệu Đức Huy, ông Nguyễn Chí Công, ông Nguyễn Mạnh Cường - Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, cùng đại diện lãnh đạo các phòng Ban của Trung tâm.

Nghiên cứu giải pháp khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước tại các vùng núi cao karst Đông Bắc Việt Nam phục vụ phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội hiệu quả

Vùng Đông Bắc Việt Nam được giới hạn về phía bắc và đông bởi đường biên giới Việt-Trung. Về phạm vi hành chính, vùng đông bắc bao trùm các tỉnh Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc GiangQuảng Ninh.

Phạm vi vùng núi cao Karst Đông Bắc là 9.149 km2 bao gồm phần lớn diện tích tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn và một phần diện tích phân bố karst thuộc tỉnh Lạng Sơn và Tuyên Quang.

Hiện nay, việc khai thác, sử dụng nguồn nước vùng karst Đông Bắc chủ yếu là các hình thức khai thác: Giếng đào, giếng khoan đứng, giếng khoan nghiêng và khoan ngang, vách nhả nước và hồ treo, bơm hút nước từ hang động, mạch nước, khai thác nước từ các mạch nước, đập - cống điều tiết nước hang động, đê đập hồ nổi, hồ đáy van.

Các nghiên cứu về tài nguyên nước vùng núi cao karst Đông Bắc Việt Nam đã chỉ ra được các vùng có tiềm năng khai thác các nguồn nước và định hướng khai thác sử dụng, tuy nhiên chưa nghiên cứu cụ thể nguồn hình thành trữ lượng các nguồn nước, khả năng khai thác sử dụng bền vững của nguồn nước nên hiện nay nhiều công trình đã được đi vào khai thác tuy nhiên sau nhiều năm vận hành đến nay đã suy giảm về trữ lượng và chất lượng.

- Do những đặc điểm riêng của vùng miền núi cao đá vôi karst cả trên thế giới cũng như ở Việt Nam, như địa hình hiểm trở, nguồn nước mặt khan hiếm, nguồn nước ngầm phân bố ở sâu và khó định vị, khó khai thác, nguồn nước mặt dễ bị ô nhiễm… nên việc tìm kiếm, khai thác và cung cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn thiên nhiên, bảo bệ môi trường ở các vùng núi đá vôi karst Đông Bắc Việt Nam từ bao đời nay vẫn luôn là vấn đề nan giải.

DL16

- Do nước ngầm vùng karst Đông Bắc Việt Nam được hình thành, phân bố và vận động rất phức tạp nên việc áp dụng các phương pháp khai thác, sử dụng cũng hết sức khó khăn. Tùy từng vùng, điều kiện cụ thể có thể áp dụng các phương pháp khai thác sử dụng như giếng đào, giếng khoan…

Từ các tài liệu thu thập tiến hành phân tích, đánh giá đặc điểm cấu trúc địa chất, kiến tạo trong việc hình thành trữ lượng khai thác nước dưới đất vùng núi cao karst Đông Bắc Việt Nam, đặc điểm các hang động karst và mối quan hệ với nước dưới đất vùng núi cao karst Đông Bắc, nghiên cứu đánh giá chất lượng các nguồn nước mặt, nước dưới đất từ các nghiên cứu giai đoạn trước và các dự án đang được triển khai thực hiện trên vùng nghiên cứu để đánh giá đặc điểm phân bố của các nguồn nước và tính toán tài nguyên các nguồn nước trên vùng nghiên cứu.

Sau khi nghiên cứu được đặc điểm phân bố và tiềm năng tài nguyên (trữ lượng và chất lượng) các nguồn nước khu vực núi cao karst Đông Bắc, đề tài dự kiến nghiên cứu đánh giá khả năng khai thác sử dụng các nguồn nước ( nước mưa, nước mặt, nước dưới đất) tại từng khu vực có các điều kiện phân bố và tài nguyên nguồn nước khác nhau phục vụ đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng các nguồn nước vùng nghiên cứu.

Từ đó, đề xuất giải pháp khai thác sử dụng bền vững nguồn nước khu vực núi cao karst Đông Bắc Việt Nam bằng giếng khoan và bằng mạch lộ.

(Hải Lý)