Sun12162018

Last update08:35:46 AM GMT

Cách sử dụng mô hình WEAP

WEAP là một công cụ tiện ích trong việc lập kế hoạch sử dụng nguồn tài nguyên nước. Khung giao diện thông minh, linh hoạt và thân thiện cho việc phân tích thể chế, chính sách. Vì vậy ta nên biết cách sử dụng WEAP như thế nào.

Dữ liệu đầu vào

Tuỳ theo bài toán cụ thể mà các yêu cầu của số liệu đầu vào sẽ được nhập tương ứng.

Các yếu tố mô phỏng như sau:

- Mô phỏng các sông và nhánh sông

- Mô phỏng các nhu cầu dùng nước của các ngành

- Yêu cầu về dòng chảy môi trường

- Mô phỏng hồ chứa và các yếu tố khác

Các yếu tố mô phỏng được liên kết với nhau thông qua Transmission Linhk và Return Flow.

Mô hình hoá lưu vực nghiên cứu

Để mô hình hoá lưu vực nghiên cứu trước tiên cần:

- Tạo lưu vực (Area → Create area)

- Chọn khoảng thời gian nghiên cứu và thời đoạn tính toán (General→Years and Time Steps)

- Đặt đơn vị cho các đại lượng tính toán (General→Units)

Thực hiện xong các bước trên mới tiến hành xây dựng mạng lưới và vào dữ liệu.

Nhập số liệu cho Weap

Việc nhập số liệu cụ thể như sau:

- Với các nhánh sông cần nhập số liệu dòng chảy tháng trung bình nhiều năm (Supply and Resources→River)

- Về nhu cầu dùng nước

+ Nhập tổng lượng nước dùng (Annual Water use Rate)

+ Nhập lượng nước dùng cho từng tháng dưới dạng % (Monthly variation)

+ Nhập số liệu về phần trăm lượng nước hồi quy trở lại sông (Return flow) và tỉ lệ nước không bị thất thoát của lượng hồi quy này (Consumption)

- Số liệu về dòng chảy môi trường tối thiểu để duy trì sinh thái sông ( River → Flow Requirements→ Envi)

- Số liệu về hồ chứa cần nhập các thông tin sau:

+ Năm hồ chứa được xây dựng (startup year)

+ Dung tích lớn nhất

+ Dung tích hiệu dụng

+ Dung tích chết

+ Đường đặc trưng của hồ

Với các đối tượng khác (nếu có mô phỏng trong hệ thống) việc vào dữ liệu hoàn toàn tương tự và có thể thực hiện dễ dàng trên cửa sổ làm việc Dataview.

Phương pháp tính toán:

Tất cả các thao tác tính toán trong mô hình đều dựa trên nguyên lý cân bằng nước.

Kết quả

Hoàn thành việc nhập dữ liệu ta chọn Result View, WEAP sẽ chạy mô hình mô phỏng theo thời đoạn tháng và ra kết quả cho tất cả các thành phần hệ thống của khu vực nghiên cứu bao gồm: nhu cầu nước của nơi sử dụng, mức độ cung cấp được, dòng chảy, thoả mãn nhu cầu dòng chảy đến. dung tích hồ chứa

Kết quả tính toán có thể hiển thị dưới dạng bảng (Table), biểu đồ (Chart) hoặc bản đồ (Map). 

Phương pháp để đánh giá mức độ tự bảo vệ của tầng chứa nước DRASTIC

Khả năng tự bảo vệ của một tầng chứa nước khỏi sự ô nhiễm quyết định bởi mức độ nhạy cảm của nó và môi trường bao quanh nó. Mức độ nhạy cảm của tầng chứa nước và môi trường bao quanh càng lớn thì khả năng tự bảo vệ tầng chứa nước khỏi sự ô nhiễm càng thấp và ngược lại.Vì vậy, đánh giá khả năng tự bảo vệ là xem xét đến các nức độ nhạy cảm của hệ thống tầng chứa nước trước những ảnh hưởng của thiên nhiên và con người. Có nhiều phương pháp để đánh giá mức độ tự bảo vệ của tầng chứa nước có thể áp dụng tùy theo điều kiện và số liệu thu thập được của vùng nghiên cứu để áp dụng như phương pháp DRASTIC.

Độ nhạy cảm của các tầng chứa nước được đánh giá như một tổng số của các yếu tố riêng biệt được tính điểm từ 1 đến 10 dựa theo mức độ ảnh hưởng của chúng đối với độ nhạy cảm ô nhiễm . Mỗi mức điểm của một yếu tố DRASTIC được đem nhân với một hệ số đối trọng ( có trị số từ 1 đến 5 ) tuỳ theo mức độ quan trọng của nó trong sự chi phối độ nhạy cảm ô nhiễm ( các hệ số này được ghi trong bảng 1). Các bảng sau đây ( từ bảng 2 đến bảng 8 ) là những thang điểm của từng yếu tố ( ứng với các đặc điểm, các mức độ, các hình loại khác nhau của những yếu tố ấy ). Chỉ số DRASTIC của mỗi vùng ( hay tổng số điểm của yếu tố , có tính đến trọng số nêu trên ) được tính theo công thức sau :

IDR = 5D + 4R + 2A + 2S + 2T + 5I +3C

Trong đó :

D : Số điểm đánh giá yếu tố độ sâu mực nước, chọn theo bảng …,

R : Số điểm đánh giá yếu tố lượng bổ cập chính ( hay bổ cập chủ yếu ), chọn theo bảng …,

A : Số điểm đánh giá về yếu tố môi trường tầng chứa nước, chọn theo bảng ..,

S : Số điểm đánh giá về yếu tố môi trường đất mặt, chọn theo bảng ..,

T : Số điểm đánh giá về yếu tố địa hình, chọn theo bảng …,

I : Số điểm đánh giá yếu tố ảnh hưởng của đới thông khí, chọn theo bảng …,

C: Số điểm đánh giá  yếu tố hệ số thấm của tầng chứa nước, chọn theo bảng…

Theo chỉ số DRASTIC , mức độ nhạy cảm ô nhiễm của tầng chứa nước được phân cấp như sau:

1 – Nhạy cảm ô nhiễm rất cao ( IDR > 180 )

2 – Nhạy cảm ô nhiễm cao       ( IDR = 160 – 179 )

3 – Nhạy cảm  ô nhiễm trung bình ( IDR = 140 – 159 )

4 – Nhạy cảm ô nhiễm thấp  ( IDR = 120 – 139 )

5 – Nhạy cảm ô nhiễm rất thấp ( IDR < 120 ).

Bảng … : Hệ số đối trọng ( trọng số) của các yếu tố đặc trưng DRASTIC

( Theo Aller và nnk, 1985 )

Các yếu tố đặc trưng

Hệ số đối trọng

Độ sâu mực nước

5

Lượng bổ sung chính

4

Môi trường tầng chứa nước

3

Môi trường lớp phủ

2

Địa hình

2*

Ảnh hưởng của đới thông khí

5

Hệ số thấm của tầng chứa nước

3

Lưu ý: * Trọng số của yếu tố địa hình được một số nhà nghiên cứu ( đặc biệt các chuyên gia Canada) đề nghị cải biên thành giá trị bằng: 1.

Một số vấn đề trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất

Việc khai thác nước dưới đất để cung cấp cho các đô thị đã góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng đời sống của người dân đô thị. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác nước, đô thị hóa, phát triển đô thị đã nảy sinh và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động xấu tới nguồn tài nguyên nước dưới đất, như :

  • Lưu lượng khai thác nước dưới đất ngày một tăng lên

Trong vài chục năm gần đây do kinh tế phát triển, đời sống của người dân tăng nhanh, nhất là ở các đô thị lớn (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… ) dẫn đến nhu cầu dùng nước ngày càng tăng. Mặt khác, trước đây do đời sống thấp nên nhu cầu sử dụng nước cũng không cao, mỗi người, mỗi ngày chỉ sử dụng khoảng 70÷80 lít nước. Ngày nay, mỗi người mỗi ngày sử dụng không ít hơn 120 lít nước, những hộ gia đình khá giả có thể sử dụng tới 200÷250 lít nước mỗi ngày.

Mặt khác cũng do đời sống tăng cao, nhu cầu sử dụng nước cho các dịch vụ công cộng (nước phục vụ cho tưới cây, sinh hoạt văn hóa, rửa đường, phòng cháy, chữa cháy…) của các thành phố cũng tăng lên đáng kể. Việc tăng lưu lượng khai thác dẫn đến đương nhiên mực nước bị hạ thấp xuống. Những nơi thiếu sự điều tra thăm dò đánh giá trữ lượng thì mực nước tụt xuống nhanh hơn. Mặt khác khi không nhận được sự cung cấp tập trung các cơ sở phải tự xoay sở tìm nguồn nước để đáp ứng yêu cầu sử dụng của mình. Do vậy, việc khoan khai thác nước dưới đất ở các đô thị đã phát triển ồ ạt, khó quản lý, nhất là các lỗ khoan nhỏ lẻ.

  • Công tác điều tra cơ bản địa chất thuỷ văn và đánh giá tài nguyên nước dưới đất không theo kịp nhu cầu khai thác

Hiện nay ở nước ta mới chỉ có khoảng 75% diện tích cả nước được lập bản đồ ĐCTV tỷ lệ 1/200.000; khoảng 10% có bản đồ ĐCTV tỷ lệ 1/50.000. Do vậy khi các đô thị được mở rộng thì thiếu các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quy hoạch. Đây cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến suy thoái tài nguyên nước dưới đất.

  • Tốc độ đô thị hóa nhanh đã góp phần không nhỏ dẫn đến tình trạng suy thoái nguồn nước dưới đất

Hiện tại hầu hết các đô thị nước ta đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển, nên hàng ngày có tới hàng nghìn lỗ khoan khảo sát địa chất công trình; khoan hàng trăm lỗ khoan làm cọc nhồi, gia cố nền móng; đào hàng vạn mét khối đất đá để xây dựng các công trình; san lấp hàng tăm mét vuông ao hồ; trải hàng vạn mét vuông bê tông lên mặt đất. Các hoạt động này không chỉ làm thay đổi môi trường thấm, còn làm giảm lượng nước ngầm từ bề mặt đất xuống cung cấp cho các tầng chứa nước, thu hẹp miền bổ cập của nước dưới đất. Điều này dẫn đến tình trạng suy giảm lưu lượng khai thác tại các giếng khoan, tăng độ hạ thấp mực nước, đồng thời còn tạo điều kiện cho nước bẩn từ bề mặt đất dễ dàng xâm nhập vào tầng chứa nước; thay đổi môi trường tồn tại của nước dưới đất làm biến đổi thành phần vật chất trong nước dẫn đến nước dưới đất bị ô nhiễm.

Tốc độ đô thị hóa gia tăng cũng đồng nghĩa với sự gia tăng rác thải, nước thải. Nếu không xử lý tốt thì đây chính là nguồn gây ô nhiễm các nguồn nước nói chung và nước dưới đất nói riêng. Thực tế trong vài chục năm gần đây, hầu hết các nguồn nước mặt tại các đô thị đã bị nhiễm bẩn ở các mức độ khác nhau. Điều này đã có ảnh hưởng nhất định đên nguồn nước dưới đất.

Mặt khác, tốc độ đô thị hóa tăng dẫn đến tình trạng thiếu đất để quy hoạch các đới phòng hộ vệ sinh, nhiều công trình khai thác nước đới phòng hộ vệ sinh đã bị lấn chiếm hoặc bị xâm phạm bởi các công trình xả thải gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến chất lượng tài nguyên nước dưới đất.

  • Công tác quản lý tài nguyên môi trường nói chung, môi trường nước dưới đất nói riêng còn chưa theo kịp với sự phát triển

Một thực tế hiện nay trang thiết bị cơ sở vật chất cho công tác quản lý nói chung và công tác bảo vệ tài nguyên nước dưới đất nói riêng còn rất hạn chế, ngoài các thiết bị văn phòng hầu như không có một thiết bị nào để các cơ quan quản lý có thể kiểm tra, theo dõi việc thực thi các văn bản pháp luật liên quan tới công tác bảo vệ tài nguyên nước dưới đất.

  • Nhận thức về trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước nói chung, tài nguyên nước dưới đất nói riêng của các cán bộ, các cấp chính quyền và cộng đồng còn thấp

Do chưa có những nhận thức đầy đủ về vai trò của nước dưới đất trong phát triển kinh tế xã hội, cho nên công tác điều tra, đánh giá và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất trong những năm qua chưa được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, hiện nay do nhận thức của cộng đồng chưa cao, nên việc xả thải chất thải ra môi trường không đúng nơi quy định, việc xử lý chất thải chưa đảm bảo tiêu chuẩn tạo nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất; việc tiết kiệm tài nguyên nước chưa tạo thành tiềm thức trong mỗi người dân.

Sự cần thiết của đề án:”Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn”

Ở nước ta, trong sự phát triển kinh tế của đất nước, tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng. Tính tới nay cả nước có 63 tỉnh thành phố, trong đó có 5 thành phố trực thuộc Trung ương: thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hải Phòng, TP. Đà Nẵng, TP. Cần Thơ. Tính đến nay, cả nước đã có 725 đô thị, theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP thì có 2 đô thị loại đặc biệt, 3 đô thị loại I, 14 đô thị loại II, 37 đô thị loại III, 37 đô thị loại IV và 632 đô thị loại V. Các đô thị đã và đang trở thành các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của các tỉnh, các huyện và cả nước, đó cũng là nơi thu hút dân cư từ các vùng nông thôn làm cho mật độ dân cư ngày càng cao. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 1986 dân số của cả nước là 61,109 triệu người, trong đó dân số đô thị mới chỉ là 11,817 triệu người (chiếm 19,3% ), đến năm 2001, dân số cả nước là 78,7 triệu người, dân số đô thị là 23,4 triệu người (chiếm 34%). Dự tính đến năm 2020 dân số đô thị là 46 triệu người.

Với tốc độ đô thị hóa phát triển, sự gia tăng dân số ngày càng cao như hiện nay tại các đô thị ắt dẫn tới nhu cầu dùng nước không ngừng tăng cao. Theo thống kê sơ bộ, lượng nước khai thác sử dụng cho các đô thị từ vài trăm đến hàng trăm triệu m3/năm, trong đó khoảng 50% nguồn nước cung cấp cho các đô thị được khai thác từ nguồn nước dưới đất. Hầu hết nước dưới đất được khai thác từ các công trình khai thác nằm trong phạm vi của đô thị hoặc vùng phụ cận. Chỉ tính riêng thành phố Hà nội hiện đang khai thác khoảng 800.000m3/ngày (khoảng 300 triệu m3/năm ); thành phố Hồ Chí Minh khai thác khoảng 500.000m3/ngày (khoảng 200 triệu m3/năm). Các đô thị khu vực đồng bằng Nam bộ hiện đang khai thác khoảng gần 300.000m3/ngày (110 triệu m3/năm ).

Việc khai thác nước dưới đất để cung cấp cho các đô thị đã góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng đời sống của người dân đô thị. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác nước, đô thị hóa, phát triển đô thị đã nảy sinh và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động xấu tới nguồn tài nguyên nước dưới đất, như :

- Khai thác vượt quá trữ lượng tiềm năng nước dưới đất gây cạn kiệt nguồn tài nguyên nước;

- Khai thác thiếu quy hoạch, không theo quy hoạch hoặc thiếu đánh giá nguồn nước, đánh giá chưa đầy đủ dẫn đến tình trạng tụt giảm mực nước, gây sụt lún mặt đất.

- Chưa xem xét đầy đủ vấn đề bảo vệ nước dưới đất khi xây dựng quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, các đô thị. Nhiều khu công nghiệp, cơ sở sản xuất được xây dựng trong đới cung cấp cho nước dưới đất và trong phạm vi hoạt động của công trình khai thác nước tạo nguy cơ lớn gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất.

- Công tác thu gom xử lý nước thải, chất thải rắn tại các đô thị còn nhiều điều bất cập dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm nguồn tài nguyên nước dưới đất.

- Tốc độ đô thị hóa tăng, quá trình bê tông hóa bề mặt phát triển dẫn đến diện tích cung cấp nước từ nước mưa, nước mặt cho nước nước dưới đất ngày càng  bị thu hẹp, gây cạn kiệt nguồn bổ cập cho nước dưới đất.

- Đặc biệt với quá trình hiện đại hóa các đô thị ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhiều nhà cao tầng mọc lên với hệ thống các các lỗ khoan khảo sát địa chất công trình, hệ thống móng khoan cọc nhồi được phát triển. Đây cũng chính là một trong những con đường dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất chưa được quan tâm và quản lý.

Từ thực tế đó để góp phần đảm bảo phát triển đô thị một cách lâu bền, cần sớm có chiến lược và các đề án cụ thể bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất quí giá này. Chính vì vậy, trong chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước tới năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 đã xác định đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn thuộc danh mục các đề án, Đề án ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2006 – 2010 . Bộ Tài nguyên và Môi trường có quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 ban hành quy định về việc bảo vệ nước dưới đất nói chung trong đó có khu vực các đô thị

Giới thiệu dự án:“Điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường một số hải đảo, cụm đảo lớn, quan trọng phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền lãnh hải”.

Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển). Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam.

Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nước ta có diện tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km2). Vùng biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, được phân bố khá đều theo chiều dài của bờ biển đất nước, với vị trí đặc biệt quan trọng như một tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông của đất nước. Một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển.

Những năm gần đây, với những diễn biến phức tạp của tình hình tranh chấp biển đông, Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm đến phát triển biển đảo, vừa là đảm bảo an toàn đánh bắt cho ngư dân, đảm bảo cuộc sống cho cư dân sinh sống trên các đảo, vừa là để đảm bảo an ninh quốc phòng. Một số chính sách quan trọng đã được Chính phủ ban hành như Quyết định số 568/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020, Quyết định số 2013/QĐ – TTg ngày 8 tháng 11 năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về việc bổ sung một số dự án vào “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên – môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”. Đây là tiền đề quan trọng để các Bộ, ngành và địa phương có biển đảo xây dựng những chương trình hành động cụ thể nhằm phát triển kinh tế biển đảo.

Tại bất kỳ vùng nào, địa phương nào, việc phát triển kinh tế luôn gắn liền với những nhu cầu về nguồn lực phát triển. Ngoài những nhu cầu về năng lượng, nguyên liệu, một trong những nhu cầu rất quan trọng là nhu cầu về nguồn nước. Nguồn nước có tỷ lệ nước ngọt cao, dồi dào chính là một yếu tố góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của vùng, địa phương.

Với các đảo, nhu cầu về nguồn nước, đặc biệt là nước ngọt càng trở lên cấp thiết, do sự khan hiếm của tất cả các nguồn chủ yếu như nước ngầm, nước mặt, nước mưa. Khả năng cung ứng nước ngọt từ đất liền cũng như việc áp dụng công nghệ xử lý nước biển thành nước ngọt để có thể sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất là không khả thi do giới hạn về công suất và giá thành cao. Do đó, để xây dựng được các chương trình phát triển kinh tế, nhất thiết phải có số liệu đánh giá chính xác về chất lượng và trữ lượng nguồn nước tại các đảo.

Dự án được trủ chì bởi Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia thực hiện, cùng sự tham gia phối hợp của các cơ quan: Ủy ban Nhân dân, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, Ủy Ban nhân dân; Ban chỉ huy quân sự các huyện, có đảo thực hiện trong dự án và các ban ngành khác có liên quan.

Mục tiêu của dự án là điều tra, đánh giá bổ sung tài nguyên nước của một số đảo và cụm đảo Việt Nam nhằm tạo điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế đảo, kết nối các đảo với đất liền và bảo vệ vững chắc vùng biển của Tổ quốc, trong đó mục tiêu cụ thể là đánh giá được chi tiết đặc điểm phân bố, trữ lượng, chất lượng tài nguyên nước, làm cơ sở cho việc lập quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lý, bền vững và bảo vệ tài nguyên nước ở một số đảo và cụm đảo Việt Nam, tạo lập các thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước dưới đất làm cơ sở xây dựng một số công trình cấp nước phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam. 

Trên cơ sở những tiêu chí của dự án, 4 đảo, cụm đảo lớn đã được lựa chọn để điều tra gồm: Cụm đảo Cô Tô và Vĩnh Thực, cụm đảo Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh, huyện đảo Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng và đảo Hòn Khoai thuộc tỉnh Cà Mau.

Dự án đã tiến hành điều tra hệ thống suối, hồ, đập chứa nước trên các đảo; lượng nước mưa, khả năng cung cấp, lưu trữ và bổ cập nhân tạo; các tầng chứa nước, cách nước chủ yếu; các điểm lộ, giếng đào; lớp phủ thực vật; các công trình khai thác và sử dụng nước dưới đất; các hoạt động ảnh hưởng đến tài nguyên nước dưới đất.

Trong quá trình thực hiện dự án, đơn vị thực hiện là Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia gặp không ít khó khăn do đảo cách xa đất liền, công tác vận chuyển thiết bị phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan trong đó có yếu tố thời tiết, thiếu thốn nước sinh hoạt cho các tổ đội thi công v.v... Tuy nhiên, với sự quan tâm của các cơ quan, ban ngành, cùng với đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiêm về vùng nghiên cứu và một số thiết bị nghiên cứu hiện đại hỗ trợ, dự án đã kết thúc thành công. Dự án mang sự ổn định cho người dân trên các đảo về mặt đời sống tinh thần, an tâm trong sinh hoạt, đoàn kết cùng với lực lượng an ninh, quốc phòng trên đảo nhằm mục đích bảo vệ bình yên vùng biển đảo của Tổ quốc. Kết quả của dự án đã đánh giá được số lượng, chất lượng tài nguyên nước ở các vùng điều tra, phát hiện những nơi nước có chất lượng xấu, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng để khuyến cáo không nên sử dụng.

Kết quả của dự án là nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho công tác quy hoạch. Những thông tin của dư án giúp cho việc định hướng các công tác nghiên cứu tiếp theo về tài nguyên nước trên, cung cấp cơ sở khoa học về nước dưới đất trong các tầng chứa nước, các nguồn nước mặt được quy hoạch, trên cơ sở đó giúp các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp Chính quyền địa phương quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng trên các đảo.

Tiến trình mô phỏng SWAT

Mô hình SWAT đòi hỏi rất nhiều dữ liệu đầu vào khác nhau. Tuy nhiên, không phải tất cả dữ liệu đầu vào đều bắt buộc mà tùy thuộc vào từng nghiên cứu cụ thể, có thể bỏ qua một số dữ liệu không cần thiết. Nhìn chung, quá trình thiết lập mô hình SWAT cho bất kỳ ứng dụng nào đều có dạng như :

tin_trnh_m_phng_swatTiến trình mô phỏng SWAT

 

Dữ liệu cần thiết được thu thập trong nghiên cứu được mô tả vắn tắt như sau:

Mô hình độ cao số (DEM) được trích xuất từ dữ liệu ASTER GDEM (ASTER Global Digital Elevation Model) ở độ phân giải không gian. Dựa trên nền DEM, mô hình SWAT tiến hành phân chia lưu vực, các tiểu lưu vực cũng như mô phỏng mạng lưới sông suối, các bề mặt thoát nước. Những thông số địa hình như độ dốc địa hình, độ dốc kênh dẫn hoặc chiều dài sông suối cũng được tính toán từ DEM. Trước khi đưa vào mô hình SWAT, dữ liệu DEM đã được hiệu chỉnh về hệ tọa độ UTM WGS84.

Sử dụng đất: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất trước khi đưa vào mô hình SWAT, bản đồ sử dụng đất cần được hiệu chỉnh về hệ tọa độ UTM WGS84, với các loại hình sử dụng đất được phân loại lại theo bảng mã sử dụng đất trong SWAT. Bảng mã này quy định mã số của các loại cây trồng, các loại hình che phủ chung, đất đô thị cùng với thuộc tính của chúng, làm cơ sở cho quá trình mô phỏng sự phát triển cây trồng, mô phỏng khu vực đô thị.

Thổ nhưỡng: Trên khu vực nghiên cứu cần thống kê các loại. Trước khi đưa vào mô hình SWAT, bản đồ này đã được hiệu chỉnh về hệ tọa độ UTM WGS84 và được phân loại lại theo mã loại đất của FAO74 tương ứng trong cơ sở dữ liệu thổ nhưỡng của SWAT. Sự chuyển đổi này căn cứ vào tên loại đất, tính chất vật lý, hóa học của đất.

Thời tiết Số liệu thời tiết cần thiết cho SWAT được thu thập trong nghiên cứu bao gồm lượng mưa, nhiệt độ không khí lớn nhất, nhỏ nhất, bức xạ Mặt Trời, tốc độ gió và độ ẩm tương đối theo ngày. Đối với số liệu mưa và nhiệt độ, dựa trên vị trí phân bố, thời gian đo đạc và chất lượng dữ liệu, nghiên cứu đã lựa chọn và sử dụng số liệu tại các trạm đo nằm trong vùng nghiên cứu. Trước khi đưa vào mô hình SWAT, số liệu thời tiết được biên tập thành các tập tin thời tiết tổng quát (chứa đựng các thông số thống kê thời tiết theo tháng, làm đầu vào cho mô hình vận hành thời tiết WXEN trong SWAT tiến hành mô phỏng thời tiết trong trường hợp khiếm khuyết số liệu quan trắc) và các tập tin thời tiết thành phần (lưu trữ giá trị quan trắc các yếu tố khí tượng).

Thủy văn Cần tiến hành thu thập số liệu quan trắc lưu lượng dòng chảy nhằm hỗ trợ quá trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình SWAT.