Wed06202018

Last update04:41:21 AM GMT

Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Srepok

Lưu vực sông Srêpok là một trong 10 hệ thống lưu vực sông liên tỉnh lớn có vị trí đặc biệt quan trọng của nước ta, toàn bộ lưu vực sông Srêpok (trong lãnh thổ Việt Nam) có diện tích tự nhiên khoảng 18.230km2. Lưu vực sông Sêrêpok thuộc 4 tỉnh trong đó phần lớn diện tích nằm trong tỉnh Đăk Lăk và một phần đất thuộc tỉnh Đăk Nông (gồm các huyện Krông Nô, Đăk Mil, Đăk Song, Gia Nghĩa, Cư Jut), tỉnh Gia Lai (gồm các huyện Chư Prông, Chư Sê) và tỉnh Lâm Đồng (gồm các huyện Lâm Hà, Lạc Dương). Phía bắc giáp lưu vực sông Sê San; phía đông giáp lưu vực sông Ba, sông Cái Nha Trang; phía tây giáp Campuchia và phía Nam giáp lưu vực sông Đồng Nai.

Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:50.000 vùng Bắc sông Tiền

anh_Cai_Be_Tien_GiangVùng bắc sông Tiền nằm ở cửa ngõ của đồng bằng sông Cửu Long, hiện nay, nhu cầu về nước sạch cho dân sinh và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn. Phần lớn nguồn nước mặt từ các sông, rạch bị nhiễm bẩn, nhiễm phèn hoặc bị mặn, hơn nữa biến đổi khí hậu làm nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa đang làm giảm hơn nữa nguồn nước mặt vốn đã ít này. Nguồn nước duy nhất có khả năng khai thác ổn định để cấp nước sạch lâu dài là nước dưới đất. Tiềm năng nước dưới đất trong vùng bắc sông Tiền rất phong phú, tuy nhiên, điều kiện địa chất thuỷ văn rất phức tạp, nếu không được điều tra, đánh giá đúng mức để phục vụ hiệu quả công tác quản lý, cấp giấy phép, quy hoạch và bảo vệ nước dưới đất sẽ dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn, cạn kiệt và có thể hủy hoại hoàn toàn các tầng chứa nước.

Khái niệm về mô hình HYPE và cách ứng dụng trong thực tiễn

Có thể nói, công tác dự báo nguồn nước mặt hiện nay vẫn là một thách thức lớn không chỉ với các nhà khoa học Việt Nam mà ngay cả trên thế giới, đặc biệt là vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng dự báo, kéo dài thời gian dự kiến và cũng như xem xét mô phỏng các yếu tố đặc thù đáp ứng yêu cầu bài toán tài nguyên nước. Có thể nhận thấy rằng, tích hợp mô hình mã nguồn mở mà cụ thể là mô hình HYPE với dữ liệu mưa dự báo toàn cầu là giải pháp hiệu quả để dự báo nguồn nước mặt đã và đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới. Ngoài thế mạnh là mô hình mã nguồn mở và có khả năng tích hợp với nguồn dữ liệu mở toàn cầu, mô hình HYPE còn cho phép dự báo trên vùng rộng lớn (liên quốc gia, liên lưu vực) nhờ khả năng mô tả linh hoạt các ô lưới và bước thời gian tính toán. Mô hình HYPE không chỉ cho phép mô phỏng được các quá trình thủy văn (như mô hình mưa-dòng chảy bề mặt; bốc thoát hơi nước; sinh trưởng thực vât; nước dưới đất; diễn toán sông, kênh, hồ ao, đầm lầy...), mà còn có khả năng mô phỏng các hoạt động khai thác sử dụng, phát triển nguồn nước (vận hành hồ chứa, tưới tiêu...) của lưu vực.

Vậy mô hình HYPE là gì?

Mô hình HYPE (Hydrological Predictions for the Environment) được phát triển bởi Viện Khí tượng thủy văn Thụy Điển (SMHI). Đây là một mô hình thủy văn thông số bán phân bố của nước và chất lượng nước, được chạy dưới hệ điều Window hoặc Linux. Các mã được viết bằng ngôn ngữ lập trình Fortran và một mã nguồn mở dưới dạng Lesser GNU Public License. SMHI đã đưa ra sáng kiến về một cộng đồng mã nguồn mở HYPE để tăng cường hợp tác quốc tế về mô hình thủy văn.

HYPE mô phỏng nước và nồng độ chất dinh dưỡng trong cảnh quan ở quy mô lưu vực. Phân chia không gian trong mô hình dựa vào các lưu vực và tiểu lưu vực, sử dụng đất hoặc độ che phủ đất, loại đất và độ cao. Trong một lưu vực, mô hình sẽ mô phỏng các phần khác nhau gồm tầng nước ngầm nông, sông và hồ. HYPE là một mô hình thủy động lực với chuỗi dữ liệu về mưa và nhiệt độ không khí bắt buộc là dữ liệu theo ngày. Trong đó, không phải tất cả các quá trình cung cấp chất dinh dưỡng đều là động lực. Ví dụ như sự lắng đọng khí quyển, phân bón và nước thải. Mô hình HYPE có khả năng mô phỏng cả số lượng và chất lượng nước trong tất cả các thành phần mô hình.

ng2

Trong thiết lập mô hình HYPE, các lưu vực được chia thành các tiểu lưu vực. Các tiểu lưu vực chứa các sông nhánh và có thể có một hồ chứa tại cửa ra của lưu vực. Một tiểu lưu vực được chia thành các phần dựa trên các yếu tố như sử dụng đất và loại đất. Lớp đất được mô tả thành các lớp và có thể được chia thành ba lớp. Mô hình HYPE có thể mô phỏng được nhiều các yếu tố như lượng mưa và tuyết, độ ẩm và bốc hơi của mặt đất, sự hấp thụ các chất dinh dưỡng trong đất, dòng chảy đến sông, hồ, xói lở bờ sông, bồi lấp cửa sông, quá trình oxi hóa trong sông hồ…

Ưu điểm của mô hình HYPE:

Mô hình mã nguồn mở HYPE cho phép người sử dụng có thể lập trình thêm các module tính toán theo yêu cầu bài toán đặc thù.

Sử dụng nguồn dữ liệu toàn cầu sẵn có bổ trợ số liệu quan trắc truyền thống có

thể giúp tăng hiệu quả mô phỏng ở những khu vực thiếu số liệu quan trắc.

Kết hợp thử nghiệm mô hình dự báo trong điều kiện tác nghiệp dự báo, cảnh

báo nghiệp vụ tài nguyên nước tại Trung tâm cảnh báo và dự báo tài nguyên nước.

Cấu trúc mô hình HYPE

Cấu trúc mô hình HYPE gồm nhiều quá trình diễn ra trên lưu vực, trong đó các quá trình chính như các quá trình diễn ra trên mặt đất, chu trình vận chuyển trong đất, các quá trình trong sông, hồ, Các quá trình nitơ và photpho trong chu trình vận chuyển trong đất, sông , hồ, quản lý nước.

Các quá trình diễn ra trên mặt đất

- Nhiệt độ không khí và mưa trên lưu vực (tempi) được phụ thuộc vào vị trí của từng lưu vực(trên núi, gần biển..) và độ cao của lưu vực so với mực nước biển. Nhiệt độ và mưa được hiệu chỉnh cho phù hợp với từng điều kiện của lưu vực trước khi đưa vào mô hình.

- Bốc hơi tiềm năng được tính dựa trên nhiệt độ. Khi nhiệt độ không khí cao hơn điểm sương thì bốc hơi xảy ra. Tuyết tan và bốc hơi có cùng điểm sương. Ngoài ra, bốc hơi còn phụ thuộc theo mùa. Bốc hơi mặt đất thưởng chỉ xuất hiện ở 2 lớp đất trên, giảm theo hàm mũ theo độ sâu.

- Lắng đọng khí quyển của nitơ, phot pho trên mặt đất có dạng kết tủa ướt của Nitơ và phot pho khi có mưa và kết tủa khô phụ thuộc vào thảm phủ thực vật và tuyết. Còn trong sông, hồ, kết tủa nitơ,photpho ướt và khô là được tính toán vì nồng độ lượng mưa là được thiết lập và một phần kết tủa khô được tạo từ nước sông hoặc hồ.

Quá trình vận chuyển nước dưới đất

Đất trong mô hình HYPE được chia thành 3 lớp, độ dày của từng lớp khác nhau. Một lớp bao gồm sự kết hợp của loại đất và sử dụng đất. Mô hình giả sử khả năng giữ nước của các lớp đất là đồng đều, tuy nhiên nó có thể được thay đổi theo độ dày của lớp đất cũng như có thể giả định thông số cho từng lớp đất.

Các quá trình chuyển động của nước trong đất đều được mô phỏng trong mô hình bao gồm mưa, tuyết tan, bốc hơi, thấm, chảy tràn bề mặt, dòng chảy sát mặt, bổ cập nước ngầm, dòng chảy ngầm…

ng3

Các quá trình trong sông, hồ

Trong mô hình HYPE có thể chứa hai loại sông ( sông nhánh và sông chính) và hai loại hồ (hồ trên lưu vực và hồ tại cửa ra lưu vực). Các sông chính và sông nhánh có trên tất cả các tiểu lưu vực và chiều dài của từng loại được tính bằng cách lấy căn bậc hai diện tích của lưu vực đó.

ng4

Trong mô hình, quá trình dòng chảy trong sông hồ được mô tả như sau: dòng chảy trên các phần diện tích của sông nhánh sẽ đổ vào sông nhánh, sau đó một phần sẽ chảy vào các hồ trên lưu vực, phần còn lại chảy vào sông chính. Nếu có dòng chảy đến từ các lưu vực ở thượng lưu bổ sung cho dòng chảy trên sông nhánh thì cả hai sẽ chảy vào sông chính. Hồ ở cửa ra lưu vực sẽ nhận toàn bộ lượng nước từ dòng chảy trên các sông nhánh và dòng chảy từ lưu vực thượng lưu.

Hoạt động khai thác và quản ly nước

Với một tiểu lưu vực nhất định, nước có thể lấy từ các hồ tại cửa ra lưu vực, các hồ trên lưu vực, dòng chính và nước ngầm. Những nguồn nước này có thể sử dụng riêng hoặc kết hợp. Ngoài ra, HYPE còn có thể lấy nước từ một nguồn không giới hạn bên ngoài lĩnh vực của mô hình.

ng5

Kết quả đầu ra của mô hình bao gồm: Các chỉ tiêu đánh giá mô phỏng (NASH, RMSE, độ lệch chuẩn giữa các giá trị thực đo, mô phỏng…), Bốc thoát hơi nước, dòng chảy tràn trên bề mặt và dòng chảy tại cửa ra từng lưu vực, Lượng nước tích lũy từng lưu vực, Kết quả vận chuyển chất dinh dưỡng hàng năm của từng lưu vực và từng nguồn.

 

Sự cần thiết của dự án “Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - pha 4”

Thực hiện chỉ thị 200TTg của Thủ tướng chính phủ về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, đề án điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - pha 1 (1995 - 1997), đã thi công 38 lỗ khoan, trong đó bàn giao đưa vào khai thác cung cấp nước sạch 34 lỗ khoan với lưu lượng 43.495m3/ngày, số dân được sử dụng nước sạch 463.733 người. Pha 2 (1998 - 2003), thi công 30 lỗ khoan, đã bàn giao đưa vào khai thác 29 lỗ khoan, có tổng lưu lượng là 43.600m3/ngày, số dân được sử dụng nước sạch 426.730 người. Pha 3 (2005 - 2011), thi công 30 lỗ khoan, đã bàn giao đưa vào khai thác 29 lỗ khoan, có tổng lưu lượng là 15.371m3/ngày, số dân được sử dụng nước sạch 256.162 người.

Kết quả đạt được của đề án điều tra nguồn nước dưới đất pha 1, pha 2 và pha 3, đã tạo nguồn nước sạch ăn uống và sinh hoạt cho nhân dân và bộ đội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng biên giới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ an ninh biên giới.

Năm 2011, mặc dù đề án điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - pha 3 đã kết thúc. Tất cả 19 tỉnh thành Nam Bộ đều có công văn yêu cầu điều tra nguồn nước dưới đất để đưa vào khai thác cung cấp nước sạch cho nhân dân vùng sâu, vùng xa. Số vùng địa phương có yêu cầu điều tra tìm nguồn nước dưới đất để khai thác cung cấp nước sạch đến thời điểm lập đề cương dự án lên tới 290 vùng. Lượng nước yêu cầu là 245.934m3/ngày, số dân cần sử dụng nước sạch 1.289.182 người. Cụ thể các các vùng địa phương có công văn yêu cầu điều tra tìm nguồn nước dưới đất được thống kê trong bảng.

Bảng Tổng hợp các địa phương có yêu cầu điều tra tìm nguồn NDĐ để khai thác cung cấp nước.

Số TT

Địa phương (tỉnh, thành)

Số vùng địa phương đề nghị điều tra

Lượng nước địa phương yêu cầu (m3/ngày)

Số dân cần sử dụng nước (người)

Khả năng đầu tư của địa phương

Ghi chú

1

Tây Ninh

7

2.320

29.000

Hệ thống xử lý, nhá trạm, đường ống

Công văn số:47/CCTL của Chi cục Thuỷ lợi tỉnh Tây Ninh

2

Bình Phước

36

4.320

36.000

Máy bơm và đường ống cấp nước

Công văn số:27/TL của Chi cục Thuỷ lợi và PCLB tỉnh Bình Phước

3

Bình Dương

2

2.000

85.166

40% tổng nguồn vốn đầu tư

Công văn số: 206/CTN.MT - KH của Cty TNHH một thành viên CTN-MT Bình Dương

4

Đồng Nai

9

2.856

16.494

Phát triển thành hệ thống cấp nước tập trung

Công văn số: 66/TTN-KHKT của TT nước sạch và VSMTNT tỉnh Đồng Nai

5

Bà Rịa - Vũng Tàu

8

6.400

7.040

Máy bơm và đường ống cấp nước

Công văn số: 73/TTN-QLSX của Sở TN&MT tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

6

Hồ Chí Minh

21

120.000

256.091

Máy bơm và đường ống cấp nước

Công văn số: 29/CV-TTN-KHKT của TT nước sinh hoạt và VSMTNT TP.HCM

7

Long An

22

8.549

107.300

Địa phương xây dựng các hạng mục còn lại

Công văn số: 284/KH-SNN của Sở TN&MT tỉnh Long An

8

Tiền Giang

5

1.260

10.500

Máy bơm và đường ống cấp nước

Công văn số: 52/CV-CN của Cty TNHH một thành viên Cấp nước Tiền Giang

9

Đồng Tháp

26

7.830

93.708

Hoàn chỉnh các hạng mục còn lại

Công văn số: 251/STNMT-TNNKS của Sở TN&MT tỉnh Đồng Tháp

10

Bến Tre

11

3.545

121.450

Máy bơm và đường ống cấp nước

Công văn số: 258/STNMT-TNM của Sở TN&MT tỉnh Bến Tre

11

Vĩnh Long

8

3.200

20.000

Máy bơm và đường ống cấp nước

Công văn số: 64/SNN&PTNT của Sở NN&PTNT tỉnh Vĩnh Long

12

Trà Vinh

19

14.160

110.295

Máy bơm và đường ống cấp nước

Công văn số: 19/TTN của TT nước sinh hoạt và VSMTNT tỉnh Trà Vinh

13

An Giang

11

3.190

9.520

Tổ chức/cá nhân khai thác đầu tư (xã hội hóa)

Công văn số: 236/STNMT-TNN của Sở TN&MT tỉnh An Giang

14

Cần Thơ

25

26.000

65.000

5 đến 10 triệu đồng 1 lỗ khoan

Công văn của TT nước sạch và VSMTNT TP. Cần Thơ

15

Hậu Giang

9

4.320

43.000

Đề nghị nguồn kinh phí trung ương

Công văn số: 134/STNMT-TNNKS của Sở TN&MT tỉnh Hậu Giang

16

Sóc Trăng

9

16.300

150.100

20-30% tổng nguồn vốn đầu tư

Công văn số: 113//STNMT-KS của Sở TN&MT tỉnh Sóc Trăng

17

Kiên Giang

22

8.400

23.000

Nâng cấp, mở rộng trạm cấp nước

Công văn số: 8/CV-CTN của Cty cấp thoát nước và VSMTNT tỉnh Kiên Giang

18

Bạc Liêu

10

5.304

31.185

Máy bơm và đường ống cấp nước

Công văn số: 13/TTN của TT nước sinh hoạt và VSMTNT tỉnh Bạc Liêu

19

Cà Mau

30

7.500

75.000

Vốn chương trình nước sạch nông thôn

Công văn số: 227/STNMT-TNNKS - Sở TN&MT tỉnh Cà Mau

Trên cơ sở những vấn đề nêu trên, việc thực hiện dự án “Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - pha 4” là cần thiết nhằm xác định khu vực có triển vọng đánh giá, khoan thăm dò, khoan khai thác nước dưới đất phục vụ nhu cầu dân sinh vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ở Nam Bộ. Và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và các đơn vị bộ đội.

Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết về nước sạch của nhân dân tại các vùng sâu vùng xa nêu trên, phát huy các kết quả đạt được, tiếp tục thực hiện chỉ thị 200TTg của Thủ tướng chính phủ về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Sự cần thiết của dự án:”Điều tra, đánh giá tổng quan tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 lưu vực sông Lô – Gâm”

Lưu vực sông Lô - Gâm là lưu vực sông Quốc tế nằm trên lãnh thổ hai quốc gia: Việt Nam và Trung Quốc với 316 km đường biên giới. Lưu vực có vị trí chiến lược chính trị, quân sự quan trọng đồng thời đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại qua các cửa khẩu. Lưu vực có địa hình chủ yếu là núi, bị chia cắt mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu sắc đến mật độ sông suối và sự hình thành các tiểu vùng khí hậu. Do vậy đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phân bố theo không gian và thời gian của nước mưa, nước mặt trên lưu vực, nước dưới đất trong các tầng chứa nước. Đặc điểm địa hình, địa chất, địa mạo của lưu vực làm gia tăng các quá trình trượt lở, xói mòn và bồi lắng sông hồ. Mặt khác, tài nguyên nước lưu vực sông Lô Gâm đang chịu nhiều áp lực từ phía thượng nguồn Trung Quốc cả về “chất” và “lượng” (diện tích lưu vực thuộc TQ 40,3%). Trong khi đó trên lưu vực các mâu thuẫn trong khai thác sử dụng nước giữa các ngành, giữa khu vực thượng và hạ lưu, giữa các địa phương không ngừng gia tăng.

sp80

Tình trạng thiếu nước cho ăn uống sinh hoạt xảy ra ở nhiều nơi, điển hình là khu vực vùng núi đá vôi Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ (Hà Giang); Mường Khương, Bảo Hà (Lào Cai); Bảo Lâm, Bảo Lạc (Cao Bằng), Chợ Rã (Bắc Kạn)...Về mùa khô nước cho công nghiệp, nông nghiệp, khai thác và chế biến khoáng sản, nước cho thủy điện và giao thông thủy thường xuyên thiếu hụt trầm trọng. Ngược lại, về mùa mưa một số khu vực có lượng mưa và lượng dòng chảy tập trung quá lớn, do không có rừng che phủ, độ dốc lớn đã thường xuyên xảy ra các hiện tượng lũ lụt, lũ quét và lũ bùn đá. Nghiêm trọng nhất trong thời gian gần đây là lũ quét, lũ bùn đá ở Văn Chấn (Yên Bái), ở thượng nguồn các sông Lô, sông Gâm, sông Nhiệm gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản của nhân dân.

Bên cạnh đó hiện tượng suy thoái về chất lượng nước không ngừng gia tăng do tập tục sinh hoạt, sản xuất, chăn nuôi của nhân dân còn lạc hậu, các chất thải không được thu gom, xử lý mà xả trực tiếp vào nguồn nước. Các hoạt động khai thác chế biến khoáng sản, tàn phá rừng đầu nguồn đã làm thay đổi cảnh quan địa hình, thảm thực vật làm suy thoái nhanh chất lượng nước.

Những năm qua việc điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Lô - Gâm mới chỉ được thực hiện trên dòng chính sông Lô, sông Gâm, sông Chảy và việc đánh giá hiện trạng chất lượng ở các báo cáo đơn lẻ, mang tính địa phương, phục vụ các quy hoạch thủy lợi là chính. Mạng lưới quan trắc tài nguyên nước mặt tập trung trên dòng chính sông Lô, sông Gâm, sông Chảy cũng chỉ có khoảng 30 trạm, phụ lưu lớn có diện tích lưu vực từ 200 km2 đến hàng ngàn km2 không hề có trạm quan trắc nào dẫn đến việc đánh giá tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Lô – Gâm còn rất nhiều hạn chế.

Công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất đã thành lập được bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ 1:200.000 phủ kín toàn lưu vực. Các dạng điều tra: lập bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ trung bình, tìm kiếm đánh giá tài nguyên nước, tìm kiếm thăm dò nước dưới đất mới chỉ phủ kín được khoảng 6,8 % diện tích vùng nghiên cứu. Kết quả điều tra có những báo cáo được tiến hành từ những năm 1960 dẫn đến các dữ liệu trên còn phân tán, chưa đồng bộ và quá cũ dẫn đến giá trị sử dụng rất thấp. Mặt khác, hiện nay trên lưu vực sông Lô - Gâm chưa có công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất nào dẫn đến việc quản lý tài nguyên nước dưới đất gặp rất nhiều khó khăn.

Cho đến nay cơ sở dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ để lập quy hoạch tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Chính vì vậy, dự án “Điều tra, đánh giá tổng quan tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 lưu vực sông Lô - Gâm” là hết sức cấp thiết nhằm: Đánh giá được tổng quan về sự phân bố, đặc điểm, đặc trưng chủ yếu, tiềm năng, trữ lượng, chất lượng tài nguyên nước; Xác định được khả năng đáp ứng nguồn nước cho các mục đích sử dụng để phục vụ phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng; Tạo bộ dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước. Kết hợp tạo nguồn cấp nước sinh hoạt cho nhân dân ở một số khu vực bố trí công trình điều tra nước dưới đất.

Sự cần thiết của dự án:”Điều tra đánh giá sơ bộ tài nguyên nước tỷ lệ 1:50.000 vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ”

Tài nguyên nước thuộc vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ khá phong phú và đa dạng, nhưng lại phân bố không đều theo không gian và thời gian, chịu tác động của nhiều yếu tố về cả “chất” và “lượng”: vùng Hải Phòng nằm ở hạ du hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình nên nguồn nước chịu áp lực từ phía thượng nguồn, bên cạnh đó khu vực dự án chịu tác động của xâm nhập mặn rất nặng nề.

Hiện nay, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, các khu đô thị, khu du lịch và công nghiệp phát triển với tốc độ cao, do đó nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng. Việc khai thác nước dưới đất một cách tùy tiện; xây dựng các công trình khai thác nước không đúng quy cách trong khi chưa luận chứng được tính bền vững và khả năng đáp ứng của các tầng chứa nước đã dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực như suy thoái, cạn kiệt tầng chứa nước, nhiễm mặn, nhiễm bẩn, lún mặt đất... Mặt khác, nước thải sinh hoạt và công nghiệp lại được xả trực tiếp vào các sông suối (nguồn bổ cập chủ yếu cho nước dưới đất) mà không được xử lý, điều đó càng làm trầm trọng thêm sự ô nhiễm vốn sẵn có của các nguồn nước này, đặc biệt là khu vực vùng vịnh. Các hoạt động dân sinh, kinh tế trên khu vực dự án cũng như phía thượng nguồn ảnh hưởng ít nhiều đến diễn biến tài nguyên nước cũng như làm biến đổi lòng dẫn của các con sông mà sự biến động này chưa được đánh giá đầy đủ.

Mạng lưới quan trắc tài nguyên nước còn thưa nên việc đánh giá diễn biến tài nguyên nước, chất lượng nước còn rất hạn chế do vậy tình hình quản lý khai thác, bảo vệ tài nguyên nước rất khó khăn.

Ngoài các trạm thủy văn quan trắc dòng chảy hàng năm, trên khu vực còn có các điểm quan trắc dòng chảy cạn trên một số sông suối nhỏ nhằm phục vụ các nghiên cứu chuyên đề, các số liệu này không đảm bảo cho việc đánh giá tài nguyên nước.

sp79Sơ đồ các công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ

Công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước thiếu đồng bộ và không tập trung. Mặt khác kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất đa phần được tiến hành từ những năm 60 của thế kỷ trước nên việc khai thác thông tin, dữ liệu gặp rất nhiều khó khăn. Mức độ điều tra còn rời rạc, qua nhiều giai đoạn khác nhau nên chưa có sự thống nhất, liên tục cả về phạm vi và đối tượng nghiên cứu.

Vành đai kinh tế ven biển vịnh bắc bộ đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu. Tuy nhiên việc điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt trên khu vực chủ yếu thực hiện trên các sông lớn thuộc hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình và việc đánh giá hiện trạng chất lượng ở các báo cáo đơn lẻ, mang tính địa phương. Nhìn chung kết quả công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất đã góp phần quan trọng trong việc khai thác nước dưới đất để cung cấp cho ăn uống, sinh hoạt, công nghiệp… đồng thời cũng là cơ sở quan trọng trong việc quản lý tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các địa phương.

Từ thực tế trên, dự án:”Điều tra đánh giá sơ bộ tài nguyên nước tỷ lệ 1:50.000 vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ” là rất cần thiết. Dự án nhằm làm sáng rõ đặc điểm tài nguyên nước và đánh giá được tiềm năng, trữ lượng và chất lượng tài nguyên nước; Xác định được khả năng đáp ứng nguồn nước cho các mục đích sử dụng và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước, làm cơ sở để phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.