Wed11222017

Last update02:00:00 PM GMT

Cơ sở lý thuyết phương pháp đo sâu điện nghiên cứu địa chất thủy văn

Phương pháp ĐSĐ thường được sử dụng với nhiều kiểu bố trí hệ cực đo khác nhau. Khi đo, các hệ cực được mở rộng dần để dòng điện thấm sâu xuống đất và chạy qua các lớp đất đá khác nhau phân bố theo chiều sâu. Nhờ đó có thể đo được giá trị  ĐTS phản ánh sự thay đổi trong tính chất điện của các lớp đất phẩn hồi trong số liệu đo.

b5_1_dt2

Sơ đồ bố trí hệ cực phát - thu AMNB ngoài trời

Trong phương pháp ĐSĐ với hệ cực Schlumberger / Wenner: có 4 điện cực được sử dụng, gồm 2 điện cực A và B phát dòng điện xuống đất và hai điện cực M và N thu hiệu điện thế phản hồi. Ngoài thực địa, 4 điện cực được bố trí theo thứ tự A, M, N và B, thẳng hàng và đối xứng xung quanh vị trí điểm đo. Sau lần đo đầu tiên, các điện cực AMNB được mở rộng đối xứng sang hai phía (duy trì tương quan AB ≥ 3MN đối với hệ cực Schlumberger và tương quan AM = MN = NB đối với hệ cực Wenner).

Hiện nay có nhiều chương trình máy tính xử lý tài liệu ĐSĐ được phát triển và ứng dụng trong thực tế; mô hình trong hình dưới đây là kết quả phân tích mô hình bằng chương trình Rinvert 2.1 do công ty C Vsion phát triển. Báo cáo kết quả phân tích  mô hình kết xuất từ chương trình Rinvert 2.1 có dạng như sau:

b5_2_dt2

Báo cáo kết quả phân tích mô hình điện trở suất đo sâu điện - kết xuất từ Chương trình Rinvert 2.1 

Tóm lại, bài toán lý thuyết của phương pháp ĐSĐ được đặt ra và giải cho môi trường phân lớp nằm ngang về tính chất dẫn điện (còn gọi là lớp địa điện). Thông thường, trong một giới hạn nhất định về không gian và về yêu cầu của độ chính xác, tính dẫn điện bên trong mỗi lớp trầm tích tương đối ổn định. Điều này cho phép coi môi trường dưới đất có tính phân lớp nằm ngang nên có thể áp dụng phương pháp ĐSĐ để nghiên cứu chúng.


CÁC CHỮ VIẾT TẮT

 

 

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

ĐC

Địa chất

ĐCTV

Địa chất thủy văn

ĐSĐ

Đo sâu điện

ĐTS

Điện trở suất

ĐVL

Địa vật lý

ĐVLLK

Địa vật lý lỗ khoan

LK

Lỗ khoan

M

Độ tổng khoáng hóa

NDĐ

Nước dưới đất

PDA

Phần mềm ứng dụng địa vật lý

RM

Ranh giới mặn

TCN

Tầng chứa nước



Cơ sở lý thuyết trong phương pháp địa vật lý lỗ khoan nghiên cứu lỗ khoan địa chất thủy văn

Thông thường, các loại đất đá khác nhau phân bố trong tự nhiên có tính chất vật lý thay đổi tùy thuộc cách sắp xếp vật liệu cấu thành và tính chất cũng như mức độ chứa các chất lưu khác nhau trong chúng. Chẳng hạn trong trầm tích bở rời, thường phổ biến ở các vùng đồng bằng châu thổ, các phân lớp hạt thô, mịn khác nhau hình thành do những điều kiện lắng đọng khác nhau xác lập nên những thành hệ gồm các lớp cát, bột, sét xen kẽ. Trong đó các lớp có cách sắp xếp các hạt vật chất khác nhau, độ rỗng khác nhau và mức độ chứa nước cũng khác nhau nên làm thay đổi một số tính chất vật lý phổ biến như độ dẫn điện, G tự nhiên, nhiệt độ,…khi thả / kéo ống đo trong LK và tiến hành đo ghi các tham số vật lý nào đó qua các lớp trầm tích khác nhau, số liệu đo thường phản ánh sự thay đổi này. Nói cách khác, số liệu đo ĐVLLK có thể cung cấp thông tin về thành phần thạch học và bề dày lớp trầm tích cũng như về độ lỗ rỗng, mức độ chứa nước và chất lượng nước trong địa tầng LK.

Tổ hợp các phương pháp ĐVLLK thường được dùng trong nghiên cứu ĐCTV, tìm kiếm NDĐ, khảo sát môi trường gồm:

a/ Phương pháp carota gamma tự nhiên (G); đơn vị đo R/h hoặc CPS;

b/ Phương pháp carota thế tự nhiên (TTN); đơn vị đo mV;

c/ Phương pháp carota điên trở điểm (R); đơn vị đo ohms

d/ Phương pháp carota điện trở suất (R8, R16, R32, R64, ĐTS1, ĐTS2); đơn vị đo ohm.m;

e/ Phương pháp carota điện trở suất dung dịch (ĐTSdd); đơn vị đo ohm.m;

f/ Phương pháp carota nhiệt độ lỗ khoan (T); đơn vị oC / oF;

g/ Phương pháp đường kính lỗ khoan (ĐK); đơn vị đo cm.

b4_1_dt2

Mô hình bài toán lý thuyết phương pháp carota điện trở suất

Trước khi thành lập biểu đồ ĐVLLK, dữ liệu đo ghi được nhập vào cơ sở dự liệu; trong đề tài, phần mềm ứng dụng ĐVL (PDA) được thiết kế để lưu giữ và quản lý tài liệu thu thập.

Kết xuất số liệu đo ghi từ CSDL sang các phần mềm đồ họa thích hợp để vẽ biểu đồ ĐVLLK như Microsoft Excel, MapInfo,…để thành lập biểu đồ tổng hợp ĐVLLK. Trên biểu đồ trình bày tất cả các đường cong tham số đo, cột địa tầng LK và các tham số ĐCTV liên quan khác như vị trí ống lọc, độ tổng khoáng hóa,…

Biểu đồ tổng hợp ĐVLLK được sử dụng chủ yếu dùng để hiệu chỉnh, phân chia ranh giới địa tầng, xác định vị trí RM trong LK và liên kết địa tầng giữa các LK để thành lập các (mô hình) mặt cắt địa điện.

Tổ hợp các phương pháp ĐVLLK vừa trình bày đã được sử dụng nhiều năm trong nghiên cứu, tìm kiếm NDĐ ở vùng ĐBSCL và đã khẳng định vai trò không thể thiếu của ĐVLLK trong hệ phương pháp nghiên cứu ĐCTV với các mục tiêu chủ yếu là: hiệu chính, phân chia và liên kết ranh giới địa tầng và đánh giá chất lượng nước thông qua việc phân tích tổng hợp tài liệu các phương pháp ĐVLLK, như carota G / TTN để xác định địa tầng, carota ĐTS để xác định RM thẳng đứng trong LK,…Biểu đồ ĐVLLK (Hình 5, 6) cho thấy tài liệu ĐVLLK có mối tương quan chặt chẽ với các đặc tính cơ bản của đối tượng nghiên cứu: các ranh giới giữa các lớp cát đến bột, sét thể hiện rõ ràng trên các đường G và TTN; sự thay đổi giá trị M của NDĐ phản ánh rõ trên các đường carota ĐTS,…

Hiện nay, các trạm carota ghi số tự động đã hoàn toàn thay thế các trạm đo kỹ thuật tương tự trước đây. Như đã nêu trên, Liên đoàn QH và ĐT TNN MN hiện đang sử dụng 2 trạm carota ghi số có khả năng đo sâu hơn 500m và đo tổ hợp các phương pháp đáp ứng yêu cầu nghiên cứu ĐCTV ở ĐBSCL. Đặc biệt, tài liệu đo nhiệt độ thể hiện rõ quy luật tăng nhiệt độ theo độ sâu, thể hiện khá rõ ở vùng trầm tích bề dày lớn như ở ĐBSCL.

Sử dụng tài liệu đo nhiệt độ của thế hệ máy mới và kết hợp với số liệu thu thập ở các trạm QTQG, có thể đánh giá được quy luật phân bố nhiệt theo diện tích và theo chiều sâu (gradient dịa nhiệt) và sử dụng để hiệu chỉnh tài liệu carota ĐTS, hỗ trợ trực tiếp cho các mục tiêu nghiên cứu của đề tài

b4_2_dt2

Bản đồ phân bố nhiệt độ trên mặt đất và gradient địa nhiệt vùng đồng bằng sông Cửu Long

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

ĐC

Địa chất

ĐCTV

Địa chất thủy văn

ĐSĐ

Đo sâu điện

ĐTS

Điện trở suất

ĐVL

Địa vật lý

ĐVLLK

Địa vật lý lỗ khoan

LK

Lỗ khoan

M

Độ tổng khoáng hóa

NDĐ

Nước dưới đất

PDA

Phần mềm ứng dụng địa vật lý

RM

Ranh giới mặn

TCN

Tầng chứa nước

 


Nghiên cứu tổng quan mức độ nghiên cứu địa vật lý vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Tổ hợp các phương pháp Địa vật lý lỗ khoan và đo sâu điện đối xứng đã được Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Miền Nam sử dụng từ những năm 80 của thế kỷ trước và từ đó đến nay được xác định là tổ hợp tối ưu và là hợp phần không thể thiếu trong hệ các phương pháp sử dụng trong các công trình nghiên cứu Địa chất thủy văn ở vùng ĐBSCL.

Mục đích chủ yếu áp dụng các phương pháp ĐVL (ĐVL) để hiệu chỉnh, phân chia, liên kết ranh giới địa tầng Địa chất/Địa chất thủy văn (ĐC / ĐCTV) và xác định vị trí ranh giới mặn các tầng chứa nước thông qua việc phân tích và giải đoán giá trị tham số G và Điện trở suất của môi trường dưới đất. Hầu hết các công trình nghiên cứu ĐC / ĐCTV do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Miền Nam và đối tác thực hiện ở ĐBSCL đều áp dụng phương pháp Địa vật lý trong tổ hợp các phương pháp nghiên cứu ĐCTV.

Qua diễn giải quá trình ứng dụng các phương pháp ĐVL nghiên cứu ĐCTV ở vùng ĐBSCL, có thể đưa ra một số nhận định như sau:

1/ Trong giai đoạn từ 1982-2003, lần đầu tiên các phương pháp ĐVLLK và ĐSĐ đã được áp dụng trong các công trình nghiên cứu ĐCTV ở ĐBSCL; đặc biệt trong đề án NB200, tài liệu ĐVL đã được phân tích một cách hệ thống, kết hợp tài liệu của hai phương pháp để giải quyết vấn đề nghiên cứu là phân chia ranh giới địa tầng và xác định vị trí RM trên mặt cắt địa điện dọc theo các tuyến nghiên cứu. Các biểu đồ ĐVLLK đã được rút gọn và vẽ trên các mặt cắt địa điện, tạo tiền đề cho phương pháp phân tích so sánh và giải đoán tổng hợp tài liệu tổ hợp phương pháp ĐVL. Ở ngay trong giai đoạn này, việc sử dụng kết hợp 2 phương pháp ĐVLLK và ĐSĐ đã được xác lập là tổ hợp tối ưu nghiên cứu ĐCTV vùng ĐBSCL.

2/ Trong giai đoạn này, đã có nhiều công trình nghiên cứu NDĐ theo tờ bản đồ với quy mô nhỏ được thực hiện (thường bao gồm đơn vị hành chính cấp huyện, liên huyện hoặc tương đương); về cơ bản, các công trình này vẫn theo quy chuẩn nghiên cứu ĐCTV của Liên Xô (cũ). Mặc dù có những ưu điểm đã được minh định, nhưng đối với vùng nghiên cứu rộng lớn như ĐBSCL, chúng bộc lộ một số hạn chế rất rõ ràng. Một là vấn đề định danh tầng: trong điều kiện mật độ công trình nghiên cứu còn thưa, rủi ro thường gặp là thiếu hoặc xa cơ sở định chuẩn (tương tự mốc trắc địa chuẩn) để phân tầng ĐC nói chung và TCN nói riêng; hai là, mặc dù phân tầng khá tin cậy trong phạm vi diện tích nghiên cứu, nhưng khi kết nối liên vùng (“ghép biên”) thường gặp khó khăn do tính chất cục bộ khi phân tầng ở mỗi công trình riêng biệt, mà thường do những nhóm nghiên cứu khác nhau thực hiện; đặc biệt khi trong điều kiện chưa phổ cập cơ sở dự liệu dùng chung để có thể chia sẻ thông tin. Do vậy, công tác nghiên cứu ĐVL trong công trình cũng gặp những khó khăn tương tự

b3_1_dt2

Bản đồ vị trí các vùng nghiên cứu địa chất thủy văn  ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

3/ Về máy móc thiết bị ĐVL và trình độ thu thập số liệu ngoài trời: ở thời kỳ đầu áp dụng các phương pháp ĐVL (1983-1987), máy đo ĐVLLK được sử dụng là trạm CKB69 (do Liên xô cũ sản xuất) và máy tự ghi trên băng giấy (do Ôxtrâylia sản xuất); máy mới, nhưng do trình độ sử dụng lúc bấy giờ còn thấp và máy chưa được định chuẩn phù hợp, nên tài liệu đo ghi ở một số LK có chất lượng kém như ở các LK: 24-II-NB, 219-IV-NB,… (đề án NB200), LK: 822-TP (đề án HCM50),…Sau này, nhờ sự giúp đỡ của Chuyên gia Liên Xô (cũ), máy đã được chuẩn và xác định được hệ cực phù hợp với đối tượng nghiên cứu ở vùng ĐBSCL (hệ cực gradient ĐTS1 và hệ cực thế ĐTS2). Các máy đo phương pháp ĐSĐ như EP-1 (Liên Xô cũ), UJ-18,…(Trung Quốc) có độ phân giải không cao, nên không thích hợp với đối tượng nghiên cứu ở vùng đồng bằng có trầm tích dày và thường có ĐTS thấp do bị nhiễm mặn. Các đường cong ĐSĐ phần lớn không “trơn”, và đôi khi được giải thích sai là do ảnh hưởng phân lớp trầm tích?. Việc đo đối chứng kiểm tra sau này bằng các máy ghi số có thang đo rộng đã khẳng định những sai lầm vừa nêu. Tóm lại, tài liệu ĐVL ở thời kỳ đầu có chất lượng chưa cao, ảnh hưởng nhiều đến kết quả phân tích và giải đoán các dị thường ĐVL.

Một số nhận định quan trọng trong tình hình nghiên cứu ĐVL và các vấn đề liên quan đến đề tài:

+ Thứ nhất, các đường liền nét xuất phát từ khối đề án N-Q có mũi tên chỉ vào các khối (công trình) khác ngụ ý các công trình sau năm 2003 (năm hoàn thành đề án N-Q) đều phân chia địa tầng dựa vào kết quả phân tầng cấu trúc trầm tích N-Q. Tuy nhiên, ở chừng mực khác nhau, đã có sự thay đổi nhất định trong phân tầng ở các công trình nghiên cứu trong phạm vi nhỏ (đề án VT50, DH50,…) dựa vào những thông tin mới. Điều này có thể hợp lý nhưng tất yếu dẫn gây ra sự khó khăn khi liên kết địa tầng toàn vùng. Đây là sự thiếu nhất quán mà các nghiên cứu tổng thể cần quan tâm giải quyết.

+ Thứ hai, sơ đồ niên biểu cũng cho thấy, để có cơ sở khoa học cho nghiên cứu định hướng mục tiêu “Thành lập bản đồ phân vùng mô hình mặt cắt địa điện vùng ĐBSCL” thì nhiệm vụ đề tài cần giải quyết trước tiên là vấn đề hiệu chỉnh các sai sót (nếu có) và thống nhất phân chia tầng toàn bộ vùng nghiên cứu. Nội dung nhiệm vụ này được trình bày chi tiết ở CĐ8: “Nghiên cứu phương pháp thành lập mô hình mặt cắt ĐVLLK liên kết ranh giới địa tầng ĐC theo tài liệu carota ở vùng ĐBSCL”.

+ Thứ ba, tài liệu ĐVL ở thời kỳ đầu giai đoạn 1983-2003 còn ít, chất lượng chưa cao liên quan đến thiết bị và trình độ / kinh nghiệm người sử dụng; điều này chắc chắn ảnh hưởng tới chất lượng số liệu sử dụng khi xây dựng các tiêu chí đánh giá định lượng tham số địa điện [1]. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu ĐVL của số công trình gần đây [8], [11], [12],… cho thấy có sự khác biệt về chỉ tiêu đánh giá tham số M của NDĐ cho mỗi công trình cụ thể so với chỉ tiêu hiện hành [1]

+ Đề án BĐKH hoàn thành trước khi các dự án liên vùng KTTD và BST50 hoàn thành. Điều này đồng nghĩa với nhận định rằng kết quả đề án BĐKH có thể cần được bổ sung, thay đổi khi có những thông tin mới thu nhận từ các dự án nói trên.

Các phương pháp tiếp cận, thu thập và quản lý tài liệu trong việc xây dựng các chỉ tiêu đánh giá tham số địa điện phục vụ công tác điều tra nước dưới đất vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Trong việc xây dựng các chỉ tiêu đánh giá tham số địa điện phục vụ công tác điều tra nước dưới đất vùng đồng bằng Sông Cửu Long thì xác định được các phương pháp tiếp cận, thu thập và quản lý tài liệu đóng góp một phần quan trọng để xây dựng được bộ các chỉ tiêu này.

Về phương pháp thu thập tài liệu, nhóm tác giả đã thiết kế được các mẫu phiếu thu nhập tài liệu, cũng như thiết kế công cụ lưu trữ tài liệu thu thập, do vấn đề lịch sử nghiên cứu, nguồn tài liệu hiện có được lưu giữ cả dạng số và dạng văn bản, bản vẽ in, nên việc thu thập và quản lý tài liệu thu thập cần có các công cụ thích hợp. Dự kiến trước vấn đề thu thập và lưu giữ tài liệu, trong quá trình chuẩn bị đề tài, tác giả đã thiết kế một phần mềm ứng dụng ĐVL (PDA) dựa trên nền tảng Microsoft Access. PDA bao gồm các chức năng chính như sau:

+ Chức năng CSDL: lưu giữ toàn bộ tài liệu thu thập cần thiết phục vụ các mục đích nghiên cứu của đề tài, đó là tài liệu ĐVLLK, ĐSĐ, địa tầng LK, các thành phần hóa chủ yếu của mẫu NDĐ,…;

+ Tạo lập các loại biểu mẫu thu thập tài liệu;

+ Nhập / xuất các báo biểu, biểu mẫu, biểu đồ, dữ liệu lập mặt cắt, bản đồ,…

b1_1_dt2

Màn hình giao diện điều khiển chính của PDA

Toàn bộ các số liệu thu thập được lưu giữ trong các bảng và nhờ cấu trúc bảng trong cơ sở dữ liệu này, chúng được quản lý một cách hợp lý và chặt chẽ nhờ các mối liên hệ bảng, đảm bảo không lưu giữ 2 lần 1 loại dữ liệu như lỗ khoan, điểm đo sâu điện đối xứng,… và có thể truy xuất số liệu một cách tiện lợi theo các tiêu chuẩn chọn khác nhau nhờ các truy vấn, như kết xuất các điểm đo sâu điện đối xứng theo đơn vị hành chính (tỉnh, huyện…), hay theo công trình nghiên cứu (đề án, dự án...) và các tuyến đo sâu điện đối xứng. Các tài liệu đã được thu thập, lưu giữ và in theo biểu mẫu để sử dụng gồm các loại Tài liệu dạng số và tài liệu dạng văn bản / bản vẽ.

Khi đã thu thập dữ liệu trong các bảng cơ sở dữ liệu của PDA, phần mềm này cho phép người dùng khai thác các dữ liệu có trong nó ví dụ như biểu đồ và mặt cắt có dữ liệu được kết xuất trực tiếp từ PDA sang các phần mền đồ họa thích hợp (Word để vẽ hình thuyết minh báo cáo; Surfer để vẽ các loại đường đẳng trị; MapInfo để vẽ mặt cắt, bản đồ,…)

b1_2_dt2

Minh họa mô hình mặt cắt địa điện: dữ liệu vẽ các ranh giới địa tầng, vị trí LK,  tham số M / Cl,…được kết xuất trực tiếp từ PDA thành bảng dữ liệu MapInfo

 


Điều chỉnh mạng quan trắc động thái tài nguyên nước dưới đất do ảnh hưởng của tưới nông nghiệp trên địa bàn 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum

Khu vực nghiên cứu kéo dài từ hồ thủy lợi đập Ayun Hạ về đến đèo Tu Na, thuộc huyện Chư Sê và vùng tưới nông nghiệp các huyện Phú Thiện, Ia Pa và thị xã Ayun Pa, với diện tích khoảng 1.500 km2

Công trình hồ thủy lợi Ayun Hạ là công trình nằm trong tọa độ 12o56’59” - 12o57’60” vĩ độ Bắc107o27’20” - 107o28’00” kinh độ Đông (hình 1), thuộc Xã Ayun Hạ, Huyện Phú Thiện, Tỉnh Gia Lai, cách thành phố Pleiku khoảng 65 km về phía Đông Nam và cách quốc lộ 25 Gia Lai đi Phú Yên khoảng 1,0 km

b13_1

Sơ đồ vị trì hồ thủy lợi Ayun hạ

Công trình hồ chứa thủy lợi Ayun Hạ bắt đầu thi công từ năm 1986 kết hợp với khai hoang xây dựng đồng ruộng, chính thức khởi công xây dựng năm 1990, chặn dòng sông Ayun năm 1994, sau đó vừa xây dựng vừa khai thác và hoàn thành bàn giao chính thức vào năm 2001. Đến nay công trình mở rộng phạm vi tưới đến thị xã Ayun Pa và một số xã của huyện Ia Pa.

Hồ Ayun Hạ là công trình thủy lợi khai thác tổng hợp nguồn nước lớn nhất Tây Nguyên, ngoài tác dụng cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho nhân dân trên địa bàn huyện Phú thiện, huyện Ia Pa và thị xã Ayun Pa (xấp xỉ 13.500 ha lúa nước 2 vụ), công trình còn cấp nước phát điện công suất 3.000 kw/h đạt sản lượng 21 triệu kw/năm và cấp nước công nghiệp (nhà máy đường Ayun Pa), nước sinh hoạt.

b13_2

Phạm vi tưới và hệ thống kênh tưới 

Qua nghiên cứu, cho thấy mô đun dòng thường có giá trị cao vào các tháng 5, 6, 7 và các tháng 11, 1, 2. Tuy nhiên, khí hậu khu vực nghiên cứu mang khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc thù của Tây Nguyên, trong một năm có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình năm từ 900 - 1.117 mm, mưa lớn tập trung vào các tháng 8, 9, 10 những tháng mùa khô lượng mưa không đáng kể.

Điều đó cho thấy giá trị mô đun dòng ngầm cao thường không phải là cấc tháng có lượng mưa lớn (tháng 8, 9, 10) mà là lại trùng với thời gian tưới cực đại của vụ Đông Xuân (từ 15/11) và vụ Mùa (từ 5 - 10/6) của vùng nghiên cứu.

Như vậy, động thái nước dưới đất đã bị ảnh hưởng bởi nước tưới từ hệ thống thủy lợi hồ Ayun hạ.

Trong vùng Phú Thiện - Ayun Pa có 15 công trình quan trắc, bao gồm: Cụm công trình quan trắc C7 gồm 4 lỗ khoan (C7a, C7b, C7c và C7o); Sân cân bằng IV (CBIV) gồm 5 lỗ khoan, lỗ khoan trung tâm CB1-IV và 4 lỗ khoan phong bì CB6-IV, CB7-IV, CB8-IV, CB9-IV; Tuyến công trình quan trắc gồm 3 lỗ khoan LK151T, LK152T, LK153T và một trạm quan trắc nước mặt 34S; và 02 công trình lỗ khoan CR313 và điểm lộ nước dưới đất DL13.

Trên cơ sở kết quả đánh giá về sự ảnh hưởng của nước tưới nông nghiệp từ hồ thủy lợi Ayun Hạ đến tài nguyên nước dưới đất bằng tài liệu quan trắc động thái nước dưới đất, có thể kiến nghị điều chỉnh mạng quan trắc nước dưới đất của vùng nghiên cứu cho phù hợp với thực tế.

A. Sự thay đổi các công trình quan trắc

Từ khi xây dựng các công trình quan trắc trong vùng Phú Thiện - Ayun đến nay đã có một số thay đổi đối với các công trình quan trắc.

  1. Sân cân bằng CBIV - Phú Thiện:

Năm 1994, sân cân bằng được xây dựng bởi lỗ khoan Trung Tâm CB1-IV và 4 lỗ khoan ở các phong bì là CB2-IV, CB3-IV, CB4-IV và CB5-IV. Tuy nhiên, sau 5 năm vận hành, do diện tích sân quá nhỏ nên tài liệu không đạt yêu cầu. Để khắc phục các tồn tại đó, đầu năm 2001 đã mở rộng diện tích sân với lỗ khoan trung tâm vẫn giữ lại và xây dựng 4 lỗ khoan ở các góc phong bì là CB6-IV, CB7-IV, CB8-V và CB9-IV và quan trắc cho đến hết năm 2013 thì dừng quan trắc sân này, chỉ tiếp tục quan trắc lỗ khoan trung tâm CB1-IV cho đến nay.

  1. Công trình quan trắc điểm lộ DL13:

Công trình quan trắc điểm lộ DL13 được tiến hành từ tháng 01 năm 1995, tuy nhiên đến tháng 9 năm 2001 điểm lộ đã bị dân phá và phải chuyển sang vị trí khác để quan trắc. Đến tháng 12 năm 2008 điểm lộ lại bị hỏng do dân đào ao nuôi cá và đã chuyển sang vị trí thứ 3, quan trắc từ tháng 01/2009 cho đến nay.

  1. Công trình quan trắc lỗ khoan CR313:

Công trình quan trắc này được tận dụng từ lỗ khoan tìm kiếm nước vùng Cheo Reo có số hiệu CR313 để quan trắc lưu lượng tự phun của lỗ khoan. Đến tháng 10 năm 2001 lỗ khoan được khoan lại và không còn phun nữa, mà chuyển sang quan trắc mực nước cho đến nay.

B. Kiến nghị điều chỉnh công trình quan trắc nước dưới đất vùng Phú Thiện – Ayun Pa

1. Đối với sân cân bằng CBIV:

Tuy sân cân bằng CBIV đã được xây dựng lại vào năm 2001, song trong quá trình vận hành, trong diện tích sân đã bị người dân địa phương đào một số ao nuôi cá và khoan các lỗ khoan khai thác nước, đã làm cho điều kiện tự nhiên bị phá hủy nhiều. Vì vậy, việc dừng quan trắc sân cân bằng CBIV là hợp lý.

2. Đối với công trình quan trắc điểm lộ DL13:

Công trình này tuy đã chuyển đến lần thứ 3, song lưu lượng điểm lộ bị ảnh hưởng nhiều bởi người dân chắn nước phía trên điểm lộ quan trắc để lấy nước vào ruộng lúa, và nước mưa chảy tràn. Vì vậy, đề nghị bỏ trạm quan trắc này. 

3. Đề nghị bổ sung một sân quan trắc nghiên cứu cân bằng trong trầm tích Đệ tứ vùng trũng Cheo Reo trong đièu kiện tự nhiên (Sân cân bằng CBIV – Phú Thiện nghiên cứu trong điều kiện ảnh hưởng nước tưới nông nghiệp).

Điều chỉnh mạng quan trắc động thái tài nguyên nước dưới đất do ảnh hưởng của hồ, đập trên địa bàn 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum

Trong hơn 20 năm qua kinh tế - xã hội của 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum đã có sự phát triển mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu quan trọng, nâng cao vị thế của khu vực Bắc Tây Nguyên. Nổi bật nhất là xây dựng hàng loạt nhà máy thủy điện có công suất lớn. Hàng loạt công trình hồ, đập thủy lợi được xây dựng cung cấp nước tưới cho hàng ngàn ha lúa và hoa màu. Nhiều đường quốc lộ, tỉnh lộ đã được nâng cấp, mở rộng uốc lộ 14 và đường Hồ Chí Minh.

b12_1

Với sự thay đổi mạnh mẽ nêu trên, đã làm ảnh hưởng tới một số công trình quan thuộc vùng Ialy – Đăk Tô đã bị giải tỏa di dời sang vị trí quan trắc khác. Điều đó đã ảnh hưởng phần nào đến tính liên tục của số liệu quan trắc, đến việc đánh giá, dự báo tài nguyên nước ở một số khu vực có công trình quan trắc bị giải tỏa và đã tiến hành xây dựng mới các công trình quan trắc thay thế.

1) Các công trình quan trắc bị giải tỏa do xây dựng hồ đập thủy điện:

- Do ảnh hưởng của xây dựng hồ thủy điện Plei Krông đã dẫn đến công trình quan trắc lỗ khoan LK136T sâu 20,0 m nghiên cứu tầng chứa nước Đệ tứ bị ngập nước hồ và phải di chuyển sang vị trí quan trắc khác. Công trình quan trắc mới được xây dựng cách vị trí cũ khoảng 200 mét về phía Bắc, có số hiệu là LK136Tm1 và được quan trắc từ ngày 06 tháng 02 năm 2009.

- Do xây dựng hồ thủy điện Sê San 4, đã làm ngập và phá hỏng tuyến nghiên cứu cân bằng và quan hệ thủy lực giữa nước dưới đất và nước sông Sê San,. Tuyến quan trắc gồm 7 công trình, trong đó có 6 lỗ khoan (LK1T, LK2T, LK3T, LK4T, LK5T, LK6T) và một trạm quan trắc nước sông (1S). Đến năm 2011, tuyến cân bằng này được chuyển về xây dựng tại vị trí khác nghiên cứu cân bằng và quan hệ thủy lực giữa nước dưới đất và nước hồ thủy điển Sê San 4, với các số hiệu công trình, gồm 6 lỗ khoan (LK1Tm1, LK2Tm1, LK3Tm1, LK44Tm1, LK55Tm1, LK6Tm1) và một trạm quan trắc nước hồ (1Sm1).

2) Các công trình quan trắc bị giải tỏa do mở rộng, nâng cấp đường:

- Do mở rộng, nâng cấp quốc lộ 14 đoạn phía Nam thành phố Kon Tum, đã làm ảnh hưởng đến tuyến cân bằng Đăk Bla. Tuyến gồm 5 công trình, gồm có 4 lỗ khoan (LK121T, LK122T, C11a và C11o) và 01 công trình quan trắc nước sông Đăk Bla (32S). Tháng 3 năm 2011 tuyến cân bằng này đã được xây mới cách vị trí tuyến cũ khoảng 300 m về phía Bắc (trong khuôn viên Bảo Tàng Kon Tum), số hiệu công trình trên tuyến là LK121Tm1, LK122Tm1, C11am1, C11om1 và 32S.

Đến tháng 3 năm 2014 công trình quan trắc LK121Tm1 lại bị giải tỏa do mở rộng đường Hồ Chí Minh và hiện nay đang tiến hành các thủ tục để xây dựng công trình thay thế.

- Do mở rộng, nâng cấp đường Hồ Chí Minh nên công trình lỗ khoan LK138T và LK139T khu vực huyện Đăk Hà đã bị giải tỏa, buộc phải di dời vị trí quan trắc. Tháng 6 năm 2011, hai công trình này đã được xây dựng tại vị trí mới, với số hiệu là LK138Tm1 (trong khuôn viện Trạm Y tế xã Đăk Ma) và LK139Tm1 (xã Hà Mòn).

Trong quá trình vận hành mạng quan trắc nước dưới đất trên 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum nói chung và khu vực Ialy - Đăk Hà nói riêng, do ảnh hưởng của việc xây dựng hồ đập và mở rộng đường quốc lộ đã ảnh hưởng đến một số công trình quan trắc đã nêu ở trên. Các công trình này đã được xây dựng tại các vị trí mới kịp thời để quan trắc đảm bảo tính liên tục của chuỗi số liệu. Nhìn chung, các công trình quan trắc xây dựng mới thay thế công trình bị giải tỏa đảm bảo đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ chung của mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất vùng nghiên cứu.

Để hoàn thiện hơn mạng lưới quan trắc tài nguyên nước dưới đất vùng ảnh hưởng của hồ chứa thủy điện, đề nghị bổ sung 4 công trình lỗ khoan và 01 công trình quan trắc nước mặt (hồ thủy điện Ialy) để thành tuyến quan trắc nghiên cứu cân bằng và quan hệ thủy lực giữa nước dưới đất trong tầng Đệ tứ (nhánh phía nam hồ), Neogen (nhánh phía bắc hồ).