Sun11182018

Last update12:39:09 AM GMT

Xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước, phục vụ cho phát triển bền vững của Thành phố Hà Nội

Thực hiện theo Quyết định số 6719/QĐ-UBND ngày 24/12/2009 của UBND Thành phố Hà Nội về việc phê duyệt đề án “ Xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2”, việc xây dựng CSDL tài nguyên nước là rất cần thiết nhằm quản lý tài nguyên nước, bảo vệ môi trường nước và phát triển bền vững của Thành phố.

Hậu quả của biến đổi khí hậu tới nguồn nước tại khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ

Theo thống kê về hiện trạng khai thác và sử dụng nước của các tỉnh trên cả nước đến tháng 7 năm 2016 cho thấy, hiện tượng thiếu nước bắt gặp ở nhiều nơi, trong đó các tỉnh miền trung gặp nhiều khó khăn nhất.

Kết quả thực hiện đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” tại 05 đô thị lớn

Trong năm 2016, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia tiếp tục tiến hành thi công một số hạng mục công việc của đề án "Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn" theo dự toán được duyệt tại 05 đô thị lớn: Thành phố Hà Nội, Buôn Mê Thuột, Hải Dương, Thái Nguyên và Thành phố Hồ Chí Minh. Đến cuối năm, công tác thu thập, điều tra, phân tích tổng hợp dữ liệu để phục vụ xây dựng các phương án cũng như giải pháp bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất cơ bản đã hoàn thành ở các đô thị Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Buôn Mê Thuột và Hải Dương với các kết quả chính đạt được như sau:

Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - Pha 3

Thực hiện chỉ thị 200-TTg ngày 29/4/1994 của Thủ tướng Chính phủ về “Đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn”, Pha 1 và Pha 2 của đề án “Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ” đã đạt được những kết quả vô cùng có ý nghĩa trong việc mang đến cho nhân dân và bộ đội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng biên giới nước sạch để ăn uống và sinh hoạt, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ an ninh biên giới.

Các phương pháp thành lập bản đồ phân vùng mô hình mặt cắt địa điện vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Vùng nghiên cứu ĐBSCL có diện tích rộng (khoảng 39.700 km2), gồm nhiều TCN phân bố tới độ sâu lớn (>500m) và NDĐ có tính phân đới thủy hóa phức tạp, vì vậy về tính chất địa điện, dự đoán có nhiều kiểu MH mặt cắt khác nhau. Chỉ theo dõi một đoạn mặt cắt của tuyến XIX (Mục I.1.2) đã thấy có mặt 3 kiểu MH mặt cắt địa điện khác nhau.

Mặt khác, việc thành lập bản đồ này còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau, như số lượng (mật độ) tài liệu hiện có, tỷ lệ bản đồ thể hiện và quy mô đề tài, cho nên cần thiết đưa ra một số quy tắc định hướng thực hiện công việc như sau:

(1) Tính phù hợp: số lượng các (kiểu) MH mặt cắt phù hợp với khối lượng tài liệu hiện có và tỷ lệ bản đồ thể hiện;

(2) Tính định hướng: việc phân chia các MH chú trọng đến yếu tố quan hệ (trên dưới) giữa các tầng nước nhạt và nước mặn; định hướng cho công tác nghiên cứu phân chia MH chi tiết hơn cho mỗi vùng nghiên cứu trong tương lai.

(3) Tính dễ đọc: số lượng kiểu MH vừa đủ để thể hiện rõ ràng, dễ đọc trên bản đồ tỷ lệ 1/1.200.000.

(4) Tính đầy đủ: cố gắng đưa đầy đủ các kiểu MH đặc trưng vùng nghiên cứu.

Các phương pháp thành lập bản đồ

(1) Phương pháp chồng lớp bản đồ:

Các bản đồ phân vùng nước nhạt của các TCN được chồng lớp để phân chia sơ bộ các vùng có các kiểu MH khác nhau; cụ thể, có thể phân biệt được ngay các vùng mặn hoàn toàn, vùng nhạt hoàn toàn, vùng chỉ có nước nhạt trong trầm tích Q, vùng chỉ có nước nhạt trong trầm tích N, …

(2) Thành lập bảng chỉ dẫn bản đồ:

Trên cơ sở phân chia sơ bộ và ước lượng các kiểu MH mặt cắt địa điện có thể có, tiến hành lập bảng chỉ dẫn bản đồ. Công việc này luôn được điều chỉnh trong quá trình thực hiện phân vùng MH. Bảng chỉ dẫn sửa lần cuối để sử dụng trình bày ở Hình như sau:

b10_1_dt2

Chỉ dẫn bản đồ phân vùng mô hình mặt cắt địa điện vùng đồng bằng sông Cửu Long

Bảng chỉ dẫn gồm 2 khối như sau:

- Khối trên, gồm các ký hiệu bản đồ, phân biệt các vùng có kiểu MH mặt cắt địa điện khác nhau:

+ Thang màu phân biệt các vùng: 1/ Có nước nhạt cả trong trầm tích N và Q,  2/ Chỉ có nước nhạt trong trầm tích Q và 3/ Chỉ có nước nhạt trong trầm tích N;

+ Đường kẻ sọc (đứng, ngang, nghiêng trái và nghiên phải) ký hiệu các kiểu quan hệ (trên dưới) của các tầng nước mặn và nước nhạt.

- Khối dưới, gồm các kiểu MH đại diện vùng nghiên cứu:

+ Bên phải MH địa tầng vùng nghiên cứu là mặt cắt địa điện thực tế và biểu đồ điểm ĐSĐ cạnh LK.

(3) Tạo các lớp bản đồ:

+ Các lớp dạng vùng: ký hiệu các vùng có kiểu MH khác nhau;

+ Các lớp dạng đường: ranh giới phân chia các kiểu MH khác nhau;

+ Lớp dạng text (1), (2),…: mã số các kiểu MH để thuận tiện tham chiếu khi đọc và thuyết minh bản đồ.

(4) Bản đồ nền: lược bớt, chỉ mở một số lớp thiết yếu nhất để đọc bản đồ; cụ thể hiển thị các lớp: 1/ Khung lưới tọa độ, 2/ Biên giới Quốc gia và ranh giới hành chính (tỉnh / thành), 3/ Địa danh (tỉnh / thành phố) và 4/ Sông lớn.

Nghiên cứu thành lập bộ bản đồ phân vùng nước nhạt các tầng chứa nước vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Bản đồ phân vùng nước nhạt thể hiện các nội dung chủ yếu như sau:

+ Đường đẳng cao đáy tầng trầm tích chứa nước; như vừa nêu trên, đây chính là ranh giới phân chia địa tầng của TCN chứa nước nghiên cứu với thành hệ nằm dưới liền kề;

+ Vị trí RM trong TCN nghiên cứu;

+ Vùng phân bố nước nhạt của TCN nghiên cứu.

Ngoài ra, còn lập bản đồ cấu trúc đáy trầm tích Neogen-Đệ tứ, trên đó thể hiện vùng phân bố trầm tích Miocen giữa-trên, đường đẳng cao đáy trầm tích N-Q và các đứt gãy [4]. Tầng Miocen giữa-trên là trầm tích lót đáy địa tầng N-Q ở vùng ĐBSCL

Qua nghiên cứu, đề tài đã thành lập được các bộ bản đồ phân vùng nước nhạt cho các tầng chứa nước của cùng ĐBSCL:

- Bản đồ phân vùng nước nhạt tầng chứa nước Holocen (qh)

- Bản đồ phân vùng nước nhạt tầng chứa nước Pleistocen trên (qp3)

- Bản đồ phân vùng nước nhạt tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên (qp2-3)

- Bản đồ phân vùng nước nhạt tầng chứa nước Pleistocen dưới (qp1)

- Bản đồ phân vùng nước nhạt tầng chứa nước Pliocen giữa (n22)

- Bản đồ phân vùng nước nhạt tầng chứa nước Pliocen dưới (n21)

- Bản đồ phân vùng nước nhạt tầng chứa nước Miocen trên (n13)

b9_1_dt2

Mô hình cấu trúc đáy trầm tích (hình trái) và bản đồ phân vùng nước nhạt tầng chứa nước Holocen 

Khảo sát các bản đồ phân vùng nước nhạt và mô hình cấu trúc đáy các tầng trầm tích, có thể đưa ra các nhận xét như sau:

+ Hình thái cấu trúc bề mặt các ranh giới trong trầm tích tuổi N đơn giản hơn so với các bề mặt ranh giới trong trầm tích tuổi Q, mức độ lồi lõm mang tính khu vực, phản ánh các xu thế thay đổi chính về độ sâu ranh giới trong toàn vùng nghiên cứu; còn các bề mặt ranh giới trong trầm tích có độ sâu biến động mạnh. Điều này phù hợp với nhận định của các nghiên cứu trước đây [4], [14], …Tuy nhiên, thực tế này có thể cũng phản ánh về lượng và chất của các tài liệu sử dụng!

+ TCN Plesitocen giữa-trên (trong trầm tích Q) và Pliocen dưới (trong trầm tích N) có diện tích phân bố nước nhạt lớn nhất; trong đó TCN Pleistocen giữa-trên với ưu điểm nằm nông và Pliocen dưới thường có chất lượng nước tốt (ít sắt). Hai TCN này cũng là những đối tượng được quan tâm khai thác nhiều