Wed11222017

Last update02:00:00 PM GMT

Tìm kiếm nguồn nước sạch phục vụ đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế xã hội ở Đức Phổ - Quảng Ngãi

Bệnh viện Đặng Thùy Trâm nằm trên huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi vấn đề tìm kiếm nguồn nước sạch phục vụ cho bệnh viện và nhân dân trong huyện là hết sức cần thiết. Ngày 06 tháng 11 năm 2008, Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước ra Quyết định số 86/QĐ-QHĐTTNN phê duyệt Đề án “Đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi”. Đề án nhằm giải quyết một phần khó khăn về nguồn nước sạch phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt và phát triển kinh tế an ninh xã hội ổn định cuộc sống.

Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước đơn giản hóa cho công tác quản lý tài nguyên nước tỉnh Hải Dương

Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với diện tích tự nhiên 1.654,77 km2, trong đó diện tích đồi núi là 183 km2 (chiếm 11%) tập trung ở hai huyện Chí Linh và Kinh Môn. Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương khá phong phú. Để quản lý tài nguyên nước theo địa giới hành chính hay theo lưu vực sông thì việc đầu tiên chúng ta cần quan tâm xây dựng là hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên nước. Hệ thống cơ sở dữ liệu được lập ra từ các dữ liệu điều tra, khảo sát theo thời gian.

TIÊU CHÍ, CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG CUNG CẤP CÁC THÔNG TIN DỰ BÁO, CẢNH BÁO TÀI NGUYÊN NƯỚC, MÔI TRƯỜNG VÀ TAI BIẾN ĐỊA CHẤT

Chất lượng dịch vụ đã được bắt đầu vào những năm 1980 như một xu hướng trên toàn thế giới, khi các nhà tiếp thị nhận ra rằng chỉ có sản phẩm chất lượng mới có thể được bảo đảm để duy trì lợi thế cạnh tranh .Trong khi chất lượng kỹ thuật có thể được dễ dàng đánh giá khách quan nhưng đối với chất lượng chức năng thì khó khăn hơn. Cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng là kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ, là những gì khách hàng mong đợi, kinh nghiệm của họ và những ảnh hưởng từ hình tượng của doanh nghiệp.

Các nghiên cứu đã chỉ ra được cách hiểu về dịch vụ công là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và bảo đảm cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu (lợi ích) chung thiết yếu của xă hội cũng như đưa ra hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công, dịch vụ hành chính công chung nhất có thể áp dụng đối với các loại hình dịch vụ công khác nhau. Đó cũng là cơ sở lý luận chung cho việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công nói chung và dịch vụ hành chính công nói riêng.

Thực hiện các quy định của Chính phủ liên quan đến dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước, ngày 23 tháng 6 năm 2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường có Quyết định số 1602/QĐ-BTNMT về việc ban hành Kế hoạch của Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai thực hiện hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.

Trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định trên, sau khi phân tích, đánh giá các loại hình dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước do các đơn vị thuộc Bộ đang thực hiện; các tài liệu về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ, Vụ Khoa học và Công nghệ đã đề xuất xây dựng các Thông tư quy định tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công cho các loại hình dịch vụ sự nghiệp công thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường, do các đơn vị thuộc Bộ hiện đang thực hiện. Nhiệm vụ xây dựng "Thông tư ban hành quy định tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công điều tra cơ bản các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường" đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường giao Vụ Khoa học và Công nghệ chủ trì thực hiện tại Quyết định số 12/QĐ-BTNMT ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt chương trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2017 thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Để có cơ sở đánh giá chất lượng dịch vụ đối với loại hình dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước này. Đặc biệt là trong lĩnh vực đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công cung cấp các thông tin dự báo, cảnh báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất, việc thực hiện đề tài "Nghiên cứu đề xuất phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường" là cấp thiết. Kết quả nghiên cứu của Đề tài sẽ góp phần quan trọng trong việc đề xuất phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường, làm cơ sở để xây dựng tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công điều tra cơ bản các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường theo các nội dung sau:

Nội dung 1: Tổng quan về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ ; tổng quan về dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước và đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Nội dung 2: Tổng quan về loại hình bản tin cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường, tai biến địa chất; tổng quan về các loại hình dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước về cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, , môi trường, tai biến địa chất.

Nội dung 3: Nghiên cứu, xác định người đặt hàng dịch vụ sự nghiệp công cung cấp tin cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất và mong muốn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công của người đặt hàng và các khách hàng khác;

Nội dung 4: Nghiên cứu, đề xuất bộ tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công tin cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất

Nội dung 5: Nghiên cứu, đề xuất phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công cung cấp tin cảnh báo, dự báo tài nguyên nước, môi trường và tai biến địa chất

(Hải Lý)

Cảnh báo tai biển địa chất ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ nguyên nhân xác định do cả yếu tố tự nhiên và con người tác động

Ở tỉnh Phú Thọ, tại một số khu vực thuộc huyện Thanh Ba: xã Đồng Xuân, Ninh Dân và thị trấn Thanh Ba đã liên tiếp xảy ra hiện tượng nứt sụt đất gây ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế xã hội của địa phương, Vì vậy cần phải tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục các hiện tượng địa chất này. Năm 2011, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc đã thực hiện “Điều tra, khảo sát đánh giá hiện trạng, điều kiện địa chất và cảnh báo tai biến địa chất vùng Ninh Dân và khu vực lân cận trên địa bàn huyện Thanh Ba”.

TÀI NGUYÊN NƯỚC ĐẢO CÔ TÔ (P1)

LTS: Là huyện đảo nằm ở Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, Cô Tô có vị trí chiến lược quan trọng. Trong những năm gần đây, Nhà nước dành nhiều nguồn lực đầu tư xây dựng huyện đảo Cô Tô, trong đó đã xây dựng nhiều hồ chứa nước cấp cho sinh hoạt, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp. Từ 2011 đến 2013, theo yêu cầu của UBND Quảng Ninh, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc đã thực hiện hoàn thành dự án “ Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho quần đảo Cô Tô”, kết quả đã làm sáng tỏ các đặc điểm về tài nguyên nước làm căn cứ lập kế hoạch cung cấp nước.

TÀI NGUYÊN NƯỚC ĐẢO CÔ TÔ (P2)

Timage007_copy_copyThung lũng tình yêurữ lượng động tự nhiên là lưu lượng dòng ngầm được đảm bảo bằng sự cung cấp, được tính cho vùng nước nhạt bằng 2 phương pháp: tính theo lượng ngấm của nước mưa và phương pháp cân bằng có kết quả như sau. 

Phương pháp tính theo lượng ngấm của nước mưa.

Trong điều kiện không có tài liệu quan trắc ở các lỗ khoan, lượng ngấm từ nước mưa tính gần đúng theo công thức sau

CT2

Trong đó:

Qkt: Trữ lượng khai thác tiềm năng, m3/ngày

Qđ : Trữ lượng động tự nhiên, m3/ngày

Wn : Lượng mưa trung bình năm, m

F: Diện tích nước nhạt của tầng chứa nước, m2

a : Hệ số ngấm của nước mưa.

Hệ số ngấm của nước mưa xác định theo kinh nghiệm đối với tầng chứa nước q là 0,15 và đối với tầng chứa nước o-s­ là 0,08. Trữ lượng động tự nhiên nước dưới  đối với tầng q xác định được là  3.216 m3/ng, tầng o-s là  3.429 m3/ng, cả 2 tầng là 6.645 m3/ngày, đó cũng là trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất. 

Phương pháp cân bằng

Khi kỹ thuật phát triển, có thể tích trữ toàn bộ lượng mưa rơi trên lãnh thổ vào lòng đất  để sử dụng. Khi đó, đại lượng cung cấp cho nước dưới đất được tính bằng lượng mưa trừ lượng bốc hơi. Để phù hợp với các mục đích sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt, lượng mưa năm cần tính với tần suất 95%. Theo kết quả tính toán trên đây, lượng mưa năm có tần suất 95% là 1.110 mm. Lượng bốc hơi trung bình ở vùng Cô Tô là 925 mm/năm. Lượng mưa thấm cung cấp cho nước dưới đất tính được là 175  mm /năm, trữ lượng khai thác tiềm năng trên diện tích 13,5 km2 của 2 tầng chứa nước q và o-s trên  đảo Cô Tô xác định là 6.472 m3/ng .  

Hai phương pháp trên cho kết quả gần  nhau, tuy nhiên để thiên về phía an toàn sử dụng kết quả thấp hơn. Theo đó, 6.472 m3/ng được chọn là trữ lượng động tự nhiên, đồng thời là trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất. Mô đun trữ lượng tiềm năng tính được là  479 m3/ng.km2, thuộc loại có khả năng khai thác trung bình. 

Trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất là lưu lượng ổn định có thể khai thác ở một tầng chứa nước xác định bằng cách tính toán nhờ các công trình khai thác được bố trí hợp lý về mặt kinh tế-kỹ thuật  trong một thời gian nhất định mà không làm thay đổi chất lượng, không làm cạn kiệt tầng chứa nước và tác động không đáng kể đến môi trường. Theo kinh nghiệm thực tế ở nước ta, trữ lượng có thể khai thác thường bằng khoảng từ 20 đến 60% trữ lượng khai thác tiềm năng. Đối với vùng đảo Cô Tô lấy bằng 30%. Như vậy trữ lượng có thể khai thác là 1.941 m3/ng 

Trữ lượng khai thác nước dưới đất là lượng nước có thể lấy lên được từ các công trình được bố hợp lý về kinh tế - kỹ thuật có lưu lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu trong suốt thời kì khai thác, không gây tranh chấp nguồn nước, không tác động xấu tới  môi trường. Trữ lượng khai thác được xác định từ kết quả điều tra, đánh giá và thăm dò nước dưới  đất bằng các công trình cụ thể. Đảo chỉ có 2 công trình điều tra, đánh giá nước dưới đất năm 1999 và 2013 cho phép xếp trữ lượng vào cấp C1 theo lưu lượng thực bơm ổn định vào mùa khô, có chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn cho phép ở 12 lỗ khoan là 1.144 m3/ng.

Định hướng khai thác sử dụng tài nguyên nước

Giải pháp khai thác sử dụng. Vùng đảo Cô Tô, diện tích nhỏ hẹp, các nguồn nước trên mặt rất khan hiếm: không có hồ tự nhiên, các dòng chảy trên mặt chỉ tồn tại tạm thời. Những năm vừa qua đã xây dựng kiên cố các hồ chứa nhân tạo có dung tích từ 2.400 đến 40.000 m3 nhằm tích trữ nước mưa để cung cấp cho các nhu cầu ăn uống sinh hoạt và phục vụ nông nghiệp. Tuy nhiên thực tế khai thác cho thấy nhiều hồ bị cạn về mùa khô, đã làm giảm công suất khai thác, cho thấy giải pháp cung cấp nước tập trung bằng nguồn nước trên mặt không bền.  

Kết quả điều tra, đánh giá nước dưới đất cho thấy việc lựa chọn các nguồn nước dưới đất có tính bền vững hơn: Tầng chứa nước o-s có thể xây dựng các công trình cấp nước mini có công suất từ 50 đến 200 m3/ng phục vụ cho các tụ điểm dân cư. Khu vực thị trấn có nhu cầu lớn nhất, với 3 lỗ khoan CT7, CT8 và CT9 hiện có ở đây có thể xây dựng công trình cấp nước tập trung với công suất 435 m3/ng có thể đáp ứng được nhu cầu nước hiện tại.

Giải pháp bảo vệ các nguồn nước. Huyện đảo Cô Tô đang trên đà phát triển. Dân cư tập trung ngày một đông đúc, kinh tế các ngành và du lịch sẽ phát triển mạnh mẽ. Vấn đề bảo vệ môi trường nói chung phải được quan tâm thích đáng. Nếu môi trường được bảo vệ tốt thì nước dưới đất cũng được bảo vệ tốt. Các giải pháp bảo vệ môi trường cũng đồng thời là các giải pháp bảo vệ nước dưới đất. Mặt khác cần điều tra phân vùng lãnh thổ  theo mức độ tự bảo vệ nước dưới đất, trên cơ sở đó quy hoạch việc phân bố nghĩa trang, các bải thải, điểm  xả thải…Bảo vệ nguồn nước dưới đất còn được định hướng theo các giải pháp phòng, chống nhiễm mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng. 

Giải pháp phát triển tài nguyên nước. Để nâng cao trữ lượng khai thác nước dưới đất, một mặt tiếp tục xây dựng các trạm cấp nước mini ở các vị trí có triển vọng đã phát hiện, mặt khác tiếp tục điều tra đánh giá để phát hiện thêm các điểm có triển vọng và điều tra đánh giá với mục tiêu xây dựng trạm cấp nước có công suất lớn hơn đến khoảng trên dưới 500 m3/ng trên cơ sở khai thác nhóm 3 - 4 giếng khoan. Để phục vụ các nhu cầu lớn hơn nữa cần điều tra đánh giá bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất bằng cách thu gom nước mưa lưu trữ vào lòng đất để nước có chất lượng tốt và khai thác với công xuất lớn hơn. Thực hiện điều này bằng cách xây dựng các tường chắn ven biển, tường chắn dạng bậc thang trên các sườn và thung lũng để tích trữ nước mưa vừa lấy nguồn bổ sung cho nước dưới đất vừa để phục vụ các mục đích khác. 

Thu gom nước mưa vào mùa mưa, tích trữ vào lòng đất để sử dụng là biện pháp hữu hiệu, có tính khả thi cao được áp dụng ở nhiều quốc gia khan hiếm nước có trình độ khoa học-công nghệ tiên tiến trên thế giới. Bổ sung nhân tạo -lưu trữ nước mưa với lòng đất cần được thực hiện với phương trâm:không để cho nước mưa, dù chỉ một giọt chảy ra biển”. 

Lời kết

image001_copy_copy

Quần đảo Cô Tô

Đảo Cô Tô tuy rất khan hiếm nguồn nước, song với kết quả điều tra đánh giá này sẽ mở ra phương hướng thích hợp có thể đáp ứng không những nhu cầu hiện tại mà cả trong tương lai.

Người viết bài này hy vọng, Cô Tô rồi đây sẽ hết khát, tạo đà cho kinh tế phát triển với mũi nhọn là ngành du lịch. Hy vọng các bãi biển sẽ luôn luôn tấp nập đông vui, thung lũng Tình Yêu thơ mộng sẽ là vườn ươm tuyệt vời, luôn luôn đầy ắp các cặp đôi, để các mầm non nảy lộc đâm chồi trên khắp mọi miền đất nước ta.

(PGS.TS. Nguyễn Văn Đản)