Wed11222017

Last update02:00:00 PM GMT

Nam Định: Giải quyết thách thức quản lý nước ngầm

vv100Trước nguy cơ nhiễm mặn và hạ thấp mực nước ngầm ở Nam Định, các chuyên gia Viện Khoa học Địa chất Liên bang Đức đã phối hợp với Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (Bộ TN&MT) giúp Nam Định nâng cao năng lực về quy hoạch, điều tra và quản lý tài nguyên nước ngầm cho cán bộ quản lý tài nguyên nước sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên nước ngầm cũng như hỗ trợ việc cải thiện chất lượng nước ngầm.

Nước ngầm Nam Định tiềm ẩn nhiều yếu tố không bền vững

PGS.TS. Phạm Quý Nhân, Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (CWRPI) (Bộ TN&MT) cho biết, trong giai đoạn 1, Dự án "Tăng cường năng lực quy hoạch và điều tra nước ngầm tại các đô thị Việt Nam" đã xây dựng được một mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất với 23 giếng khoan tại 10 xã thuộc 7 huyện trong tỉnh Nam Định. Đó là các xã Yên Chính (huyện Ý Yên), Mỹ Thịnh (huyện Mỹ Lộc), Điền Xá, Bình Minh (huyện Nam Trực), Phương Định (huyện Trực Ninh), Giao Xuân, Giao Yến (huyện Giao Thủy), Hải Bắc, Hải Giang (huyện Hải Hậu) và Nghĩa Thành (huyện Nghĩa Hưng). Mỗi điểm quan trắc có 1 đến 3 công trình quan trắc. Theo ông Phạm Quý Nhân, các tài liệu quan trắc được là cơ sở đánh giá sự biến đổi về chất lượng, số lượng nước phục vụ quy hoạch khai thác sử dụng bền vững tài nguyên nước ngầm.

Các kết quả quan trắc đã chỉ ra rằng, tình trạng khai thác và sử dụng nước ngầm ở Nam Định đang tiềm ẩn nhiều yếu tố không bền vững. Đó là hiện tượng nhiễm bẩn do nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và nước thải làng nghề. Cũng trong quá trình khảo sát thực tế, họ đã phát hiện ra, ở nhiều địa phương của tỉnh Nam Định xuất hiện tình trạng khai thác quá mức nước ngầm dưới độ sâu trên 100m dẫn đến tình trạng hạ thấp mực nước ngầm và đã có hiện tượng nhiễm mặn trong nước ngầm tại huyện Giao Thủy và Hải Hậu...

Kết quả nghiên cứu hè năm 2011 của các chuyên gia Đức thuộc Dự án (IGPVN) cho thấy, nhu cầu sử dụng nước trung bình ở Nam Định là 215 lít/người và tổng lượng nước ngầm khai thác dùng cho sinh hoạt là 185.000 m3/ngày. Nhu cầu dùng nước quá lớn trong khi nguồn nước trên địa bàn có hạn có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khoan giếng hiện nay trên địa bàn vượt quá lượng bổ cập. Theo ông Jens Boehme, Cố vấn trưởng Dự án IGPVN, hiện tượng suy thoái nước ngầm chỉ có thể được ngăn chặn nếu việc khai thác nước ngầm được duy trì ở mức ổn định.

Đối với hiện tượng nhiễm mặn, phân tích của các chuyên gia đã đi đến thống nhất phương pháp cân bằng nước cho tầng chứa nước dưới sâu. Theo đó, khoảng 42% lượng nước khai thác được thay thế bởi nước ngầm nhạt từ tầng chứa nước phía dưới và từ ranh giới phía Tây tỉnh Nam Định. 22% lượng nước khai thác được thay thế bởi nước ngầm từ biển và 36% lượng nước khai thác được thay thế bởi nước ngầm lợ/mặn từ tầng chứa nước phía trên mặt và từ ranh giới phía Đông Bắc.

Khuyến cáo trong việc bảo vệ nước ngầm

Trước thực trạng trên, vấn đề quản lý nước ngầm ở Nam Định không còn đơn giản mà đã trở thành vấn đề cần hành động ngay. Các khuyến cáo mà các chuyên gia Đức đưa ra cảnh báo rằng, Nam Định đang phải đối mặt với các thách thức trong quản lý nước ngầm. Trước hết là vấn đề kiểm soát được hoạt động khai thác nước ngầm. Muốn vậy cần kiểm soát hoạt động ngay từ cấp đăng ký và kiểm tra các giếng khoan khai thác, Giấy phép khai thác không chỉ của hộ gia đình mà cả các doanh nghiệp khai thác nước ngầm phục vụ cho mục đích thương mại, công nghiệp. Công việc này đòi hỏi sự huy động lực lượng kiểm tra từ cấp tỉnh trở lên.

Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, quan trắc nước ngầm trong tương lai là cần thiết. Các giếng quan trắc của dự án IGPVN nên được đưa vào mạng quan trắc trong tương lai. Ông Vũ Minh Lượng (Phó Giám đốc Sở TN&MT Nam Định) cho biết, tới đây, tỉnh sẽ quản lý các giếng khoan này và có một lực lượng chuyên môn để duy trì, bảo dưỡng cũng như cập nhật thường xuyên thông tin liên quan đến nguồn nước ngầm để có giải pháp khắc phục kịp thời.

Mặt khác, để bảo vệ nguồn nước khuyến cáo về việc tối ưu hóa và giảm bớt hoạt động khai thác nước ngầm cũng không kém phần quan trọng. Theo ông Frank Wagner, mỗi tổ chức, cá nhân nên nhận thức rõ việc sử dụng sai và gây tổn thất nước ngầm như xác định các trường hợp làm hao hụt nước ngầm cho hoạt động rửa xe ô tô và có thể dùng nguồn nước thay thế như nước sông. Ngoài ra, nên có chiến dịch nâng cao nhận thức về việc bảo vệ tài nguyên nước ngầm.

Theo ông Vũ Minh Lượng, tỉnh hoàn toàn nhất trí với các khuyến cáo của các chuyên gia và cho biết, tới đây, Sở TN&MT tiếp tục phối hợp với các chuyên gia Dự án IGPVN xây dựng mô hình số bảo vệ nước ngầm, tổ chức công tác truyền thông và công tác đào tạo cho các cán bộ làm công tác quản lý nước ngầm.

(Theo Monre.gov.vn)

Nhiều kết quả trong giai đoạn I Dự án Nâng cao năng lực và Bảo vệ nước ngầm tại Việt Nam

Ngày 4/5, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp với Viện Khoa học Địa chất và Tài nguyên thiên nhiên Cộng hòa Liên bang Đức (BGR)tổ chức Hội thảo đánh giá Kết quả giai đoạn I và tiến độ giai đoạn II Dự án “Nâng cao năng lực quản lý quy hoạch và điều tra tổng hợp tài nguyên nước ngầm”. Đây là Dự án do Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức viện trợ và được triển khai tại thành phố Hà Nội và các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Quảng Ngãi và Sóc Trăng nhằm nâng cao năng lực bảo vệ nước ngầm.Dự án xác định trong giai đoạn I sẽ triển khai tại Nam Định và giai đoạn II sẽ được triển khai tại 4 tỉnh còn lại.

Ông Jens Boehme, Cố vấn trưởng Dự án cho biết, trong giai đoạn I Dự án đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận làm cơ sở để triển khai giai đoạn II của Dự án được tốt hơn. Dự án đã thiết lập được 10 trạm quan trắc tự động tài nguyên nước dưới đất tại Nam Định. Số liệu thu thập được từ các trạm quan trắc này sẽ là cơ sở giám sát, quản lý nước dưới đất và phục vụ công tác mô phỏng, dự báo tài nguyên nước.

 vv97Ông Frank Wagner, chuyên gia Dự án trình bày tại Hội thảo

 Ngoài ra, Dự án đã tổ chức 2 khóa học về sử dụng phần mềm ArcGis trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước cho các cán bộ của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước và các Sở TN&MT thuộc Dự án. Các chuyên gia Dự án cũng đã tiến hành nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác quản lý tài nguyên nước, nâng cao trình độ ngoại ngữ cũng như giúp họ bước đầu làm quen với việc xây dựng mô hình số địa chất thủy văn. Bên cạnh đó, Dự án còn tổ chức hội thảo đi đến thống nhất được cấu trúc nền cơ sở dữ liệu (CSDL) tài nguyên nước (TNN) với chuyên gia Bỉ làm cơ sở để Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước xây dựng CSDL TNN cho tỉnh Nam Định và Thanh Hóa…

Theo ông Jens Boehme, từ giai đoạn I có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm là các bên cần chủ động hơn nữa trong việc thực hiện để hoàn thành mục tiêu của Dự án; các công việc cụ thể hoặc cam kết giữa các bên cần được thể hiện trong các biên bản ghi nhớ một cách rõ ràng…

Trong giai đoạn II Dự án sẽ triển khai việc nâng cao năng lực bảo vệ tài nguyên nước ngầm ở thành phố Hà Nội và các tỉnh Hà Nam, Sóc Trăng, Quảng Ngãi. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện các sản phẩm của giai đoạn I như tổ chức thu thập thường kỳ số liệu quan trắc ở tỉnh Nam Định; hoàn thiện mô hình số nước dưới đất và chuyển giao cho tỉnh; xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu Dự án…

Tại Hội thảo, ông Frank Wagner, chuyên gia Dự án đã trình bày kết quả nghiên cứu và đưa ra một số khuyến cáo cho công tác quản lý nước ngầm ở Nam Định. Các đại biểu đã thảo luận để rút kinh nghiệm việc thực hiện giai đoạn I và đề xuất một số hướng để triển khai giai đoạn II tại các tỉnh còn lại được sát thực tế và phù hợp với tình hình của địa phương.

 

 vv98Ông Phạm Quý Nhân, Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước phát biểu tại Hội thảo.

vv99Toàn cảnh hội thảo

 

 

(Theo Monre.gov.vn)

Một bước tiến Mê Kông

Sau 2 ngày họp, chiều ngày 30/4/2012, Hội thảo quốc tế về tăng cường an ninh nguồn nước khu vực do Hội đồng An ninh Châu Á-Thái Bình Dương tổ chức đã kết thúc với việc thông qua Bản ghi nhớ gồm nhiều khuyến nghị chính sách đáng chú ý. Đó là một bước tiến tuy chỉ mang tính khuyến nghị nhưng ý nghĩa không nhỏ.

Đại diện cho đoàn Việt Nam, ông Nguyễn Hùng Sơn, Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Học viện Ngoại giao cho biết, cuộc họp Chiang Rai đã cụ thể hóa nội dung của chuỗi 3 cuộc họp trước đó trong khuôn khổ CSCAP tại Hà Nội, Siêm Riệp và Tokyo, trong đó dành sự chú trọng tới vấn đề bảo đảm an ninh nguồn nước Mê Kông, dòng sông lớn nhất Đông Nam Á và đứng thứ 10 thế giới với nguồn tài nguyên phong phú, dồi dào, nhưng đang đứng trước nhiều thử thách lớn.

Cũng theo ông Sơn, Bản Ghi nhớ không chỉ kêu gọi các nước tôn trọng thực thi Hiệp định Mê Kông 1995, văn kiện toàn diện nhất cho đến thời điểm hiện tại, mà còn đề xuất thiết lập các khuôn khổ hợp tác, các tập quán tốt trong việc quản lý các dòng sông. Các nguyên tắc cốt lõi nhất nêu trong bản Ghi nhớ bao gồm các bên liên quan cần trao đổi thông tin, tham vấn, thông báo trước và minh bạch hóa các hoạt động liên quan đến các dòng sông khu vực. Chẳng hạn, đối với việc xây dựng và quản lý các con đập trên các dòng sông chảy xuyên biên giới, nhất là trên các dòng chính, các Chính phủ cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, cũng như có sự đối thoại, trao đổi kỹ lưỡng với các tác nhân có liên quan trong nội bộ mỗi nước như chính quyền và nhân dân địa phương...

Trước nhu cầu cấp bách phải bảo vệ các dòng sông và nguồn nước nói chung tại khu vực, Bản ghi nhớ CSCAP có lẽ là một sự đóng góp đầy khích lệ.

Cần một giải pháp toàn diện

Một khuyến nghị quan trọng khác là các nước cần tham gia đầy đủ vào các tổ chức và dàn xếp lưu vực, hàm ý các nước như Trung Quốc và Myanmar cần sớm trở thành thành viên chính thức của Ủy hội Sông Mê Kông, thể chế toàn diện nhất cho đến nay, trong quá trình quản lý các vấn đề chung của sông Mê Kông. Nếu được ủy thác nhiều quyền lực hơn nữa từ các quốc gia có chủ quyền, Ủy hội có triển vọng sẽ đóng vai trò lớn hơn trong việc điều hòa các lợi ích đa dạng của các nước trong lưu vực thông qua việc xây dựng các chiến lược và chương trình hướng tới sự công bằng và bền vững.

Hiện tại, Ủy hội vẫn chưa bao gồm tất cả các nước trong lưu vực, trong khi đó, Trung Quốc và Myanmar, với tư cách là hai nước thượng nguồn, lại đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cùng quản lý dòng sông theo tinh thần của Hiệp định năm 1995.

Ngoài ra, do vấn đề an ninh nguồn nước liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau như an ninh con người, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, môi trường, biến đối khí hậu, bệnh dịch...nên đòi hỏi phải có một giải pháp tổng thể, liên thông, nhiều tầng nấc giữa các nước, các nhà tài trợ, các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức trong mỗi nước. Đặc biệt, vai trò của người dân sống trong các lưu vực sẽ luôn nằm ở vị trí trung tâm trong các quá trình hoạch định chính sách vì dòng sông là nguồn sống, là một trong những cội nguồn tạo nên văn hóa, lối sống của họ. Cuộc sống của hơn 60 triệu người trong lưu vực sông Mê Kông phụ thuộc lớn vào nguồn nước, nguồn cá (trị giá hàng tỷ đô la), giao thông thủy và nhiều tài nguyên khác của dòng sông quý giá này.

Các tổ chức khu vực như ASEAN cũng có thể đóng vai trò hỗ trợ cần thiết. Hiện nay Cộng đồng Văn hóa xã hội ASEAN đã có bản Kế hoạch chi tiết về quản lý nguồn nước cũng như một số cơ chế khác, song do vấn đề liên quan đến các khía cạnh khác nhau, nhất là trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống, nên cũng có ý kiến cho rằng, các nước ASEAN nên chuyển vấn đề này sang Cộng đồng Chính trị - An ninh. Cộng đồng ASEAN dự kiến sẽ được hoàn thành xây dựng vào năm 2015 và do vậy, vấn đề an ninh nguồn nước sẽ cần sớm được thể chế hóa một bước. Đầu tháng 4 vừa qua, cuộc họp Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 20 tại Phnom Pênh đã kêu gọi đẩy mạnh những nỗ lực chung trong việc quản lý bền vững các tài nguyên nước sông Mê Công vì lợi ích của các nước ASEAN, trong đó có quyền lợi của người dân sống trong lưu vực.

Hướng tới một Bộ quy tắc ứng xử?

Các học giả khu vực cũng khuyến nghị các Chính phủ và tổ chức khu vực như Ủy hội Mê Kông cần xem xét việc xây dựng một Bộ quy tắc ứng xử (COC) như một bộ luật "mềm" điều chỉnh hành vi của các quốc gia ven sông cũng như các "cổ đông" có liên quan khác như các tổ chức, doanh nghiệp, người dân. Bộ luật này sẽ chỉ ra những điều nên và không nên đối với những "cổ đông" liên quan, trong đó quan trọng nhất là vai trò của các Chính phủ trong lưu vực, nhằm bảo đảm việc khai thác, sử dụng các dòng sông một cách hợp lý.

Dự kiến CSCAP sẽ đệ trình kết quả nghiên cứu và các khuyến nghị của họ lên các cuộc họp của ASEAN sắp tới tại Campuchia, nước Chủ tịch ASEAN đương nhiệm và cũng như Việt Nam, có lợi ích lớn trong việc khai thác sử dụng bền vững sông Mê Kông với tư cách nước hạ nguồn.

 

 

(Theo Monre.gov.vn)


Hội thảo “ Phát triển và thực hiện các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu tại các vùng ven biển Việt Nam”

Vào ngày 26/4/2012 tại khách sạn Bưu Điện, thành phố Bà Rịa Vũng Tàu đã diễn ra hội thảo “ Phát triển và thực hiện các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu tại các vùng ven biển Việt Nam” thuộc dự án VIETADAPT.

 vv89

Dự án được tài trợ bởi quỹ ICI, Bộ ngoại giao Phần Lan và là sự hợp tác giữa Cục Địa chất Phần Lan (GTK, đối tác chính phía Phần Lan); Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường (IMHEN) và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (CWRPI) điều phối tất cả các hoạt động địa phương tại Việt Nam.

Tham gia hội thảo về phía các đơn vị thực hiện dự án có ông ông Philipp Schmidt-Thome, Giám đốc Dự án; PGS.TS Nguyễn Văn Thắng - Phó viện trưởng IMHEN; PGS.TS Phạm Quý Nhân Phó giám đốc CWRPI; TS Bảo Thạnh, phó viện trưởng IMHEN và các cán bộ của ba đơn vị.

 vv90

Về phía địa phương, có đại diện của các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở NN và PTNT, Sở Công thương, Sở Giao thông Vận tải, Cảng vụ hàng hải, Hội liên hiệp phụ nữ và Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

 vv91

Nội dung chủ yếu của hội thảo xoay quanh các vấn đề chính như kịch bản biến đổi khí hậu, nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển kinh tế xã hội như con người, môi trường, sử dụng đất, xây dựng công trình, cấp nước, nông lâm ngư nghiệp… từ đó xác định được những khu vực dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu.

 vv92

Ngoài ra, hội thảo còn thảo luận sôi nổi, trao đổi thông tin và lấy ‎ kiến đóng góp từ Sở ban nghành địa phương.

vv93

Trên cơ sở đó xây dựng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu các rủi ro và nguy cơ tác động đến kinh tế-xã hội.

 

 

(Nguồn IMHEN)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hội thảo về biến đổi khí hậu tại Sầm Sơn Thanh Hóa

vv86

Ngày 18/4/2012 tại Sầm Sơn Thanh Hóa đã diễn ra hội thảo “ Phát triển và thực hiện các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu tại các vùng ven biển Việt Nam” thuộc dự án VIETADAP hợp tác giữa Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (CWRPI), Viện khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (IMHIEN) với Cục Địa chất Phần Lan (GTK).

 

Tham gia hội thảo về phía các đơn vị thực hiện dự án có ông Phạm Quý Nhân, Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước, ông Bảo Thạnh, Phó Viện trưởng Viện khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, ông Philipp Schmidt-Thome, Giám đốc dự án và các cán bộ của ba đơn vị.

 

Tham gia hội thảo về phía địa phương, có đại diện các Phòng ban của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Thanh Hóa, các đại diện sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Khoa học công nghệ, Kế hoạch Đầu tư và Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra còn có đại diện của Trung tâm khí tượng thủy văn Bắc Trung bộ.

 

 vv88Ông Phạm Quý Nhân, Phó giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước khai mạc hội thảo

vv87Philipp Schmidt-Thome, giám đốc dự án phát biểu tại hội thảo

 

 

Nội dung Hội thảo tập trung vào các vấn đề chính như nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển kinh tế xã hội như con người, môi trường, sử dụng đất, xây dựng công trình, cấp nước, nông lâm ngư nghiệp đặc biệt là các tác động đến 6 huyện ven biển Thanh Hóa. Trên cơ sở đó xây dựng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu các rủi ro và nguy cơ tác động đến kinh tế-xã hội.

 

 

 

 (CWRPI)

 

 

 

WB hỗ trợ quản lý tổng hợp tài nguyên nước Mê Công

Ban Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) vừa chính thức phê duyệt khoản viện trợ trị giá 26 triệu USD cho Dự án quản lý tổng hợp tài nguyên nước Mê Công (MIWRM).

Đây là nỗ lực mở rộng Chiến lược Hỗ trợ Tài nguyên Nước Mê Công do WB và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) hợp tác triển khai từ năm 2006, đồng thời cũng là bước nối tiếp Dự án Sử dụng Nước của Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) nhằm hỗ trợ Ủy hội sông Mê Công (MRC) và đóng góp nhiều hơn cho tiến trình phát triển bền vững vùng hạ lưu vực Mê Công thông qua thúc đẩy thực thi việc quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) lưu vực sông trên từng cấp độ: từ cấp vùng, cấp quốc gia đến địa phương.

Dự án MIWRM chia làm ba hợp phần chính: Quản lý tài nguyên nước cấp vùng do MRC chịu trách nhiệm thực hiện, tập trung vào nỗ lực tổ chức các cuộc đối thoại mang tính kỹ thuật giữa các quốc gia vùng hạ lưu vực Mê Công để giải quyết những vấn đề chủ chốt trong quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới tại vùng hạ lưu vực và thiết lập khả năng tiếp cận chung đối với vấn đề quản lý rủi ro thiên tai. Hai hợp phần sau do Lào tiến hành gồm: Quản lý tài nguyên nước tự nhiên, hướng tới đẩy mạnh chính sách, xây dựng nguồn nhân lực cũng như thể chế của Lào nhằm cải thiện hoạt động lập kế hoạch về tài nguyên nước; Quản lý nguồn lợi thủy sản và nguồn lực vùng đồng bằng, để vừa có thể hỗ trợ sinh kế cho các cộng đồng địa phương, trong khi vẫn thúc đẩy được đa dạng sinh học vùng đất ngập nước, gia tăng tính bền vững cho nghề cá ở Nam Lào.

MIWRM sẽ kéo dài trong vòng 6 năm và được kỳ vọng sẽ trở thành một kiểu mẫu thực thi quản lý tổng hợp tài nguyên nước hạ lưu vực Mê Công ở các cấp.

 

 

 (Theo Monre.gov.vn)

Nhóm đối thoại Việt – Mỹ hỗ trợ xây dựng công trình nước sạch tại Thừa Thiên – Huế

Tại xã Đông Sơn, chiều 16/3, UBND huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế đã khánh thành công trình nước sạch do Nhóm đối thoại Việt – Mỹ về chất độc da cam/dioxin hỗ trợ.
Công trình nước sạch tại xã Đông Sơn là dự án đầu tiên tại Việt Nam do Nhóm đối thoại Việt – Mỹ về chất độc da cam/dioxin hỗ trợ xây dựng. Công trình được khởi công từ ngày 12/10/2011 với quy mô, gồm: Cao trình đập 658m; trạm xử lí theo công nghệ lắng áp lực, lọc áp lực ở cao trình cao 624m. Có bể chứa nước với khối lượng 100m3 và đường ống dẫn dài 830m. Dự án còn cải tạo và thay thế tuyến đường ống dẫn D63 dài 525m, lắp đặt một bồn lọc công suất 200m3/ngày đêm và một bồn lắng công suất 500m3/ngày đêm. Đồng thời, cải tạo hệ thống trụ vòi nước cho 226 hộ dân và lắp đặt trụ vòi nước mới cho 33 hộ dân có đường ống dẫn dài 495m. Tổng kinh phí của dự án là 1,5 tỷ đồng. Dự án hoàn thành góp phần quan trọng vào việc đảm bảo cung cấp nước sạch hằng ngày cho đồng bào dân tộc thiểu số của xã Đông Sơn đang sinh sống trong khu vực sân bay A So.
Trên địa bàn xã Đông Sơn có sân bay A So do Mỹ xây dựng từ những năm 60. Hiện nay, sân bay A So là một trong những vùng bị nhiễm chất độc da cam/dioxin nặng nhất ở nước ta. Thời gian qua, Nhóm đối thoại Việt – Mỹ về chất độc da cam/dioxin đã có nhiều hoạt động hỗ trợ người dân sống trong khu vực sân bay A So như: hỗ trợ thực hiện các chính sách, lập hàng rào ngăn cách vùng bị nhiễm dioxin nặng và nhất là xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch tự chảy để phục vụ người dân sinh hoạt và sản xuất…
 
 
 
 (Theo Monre.gov.vn)