Wed11222017

Last update02:00:00 PM GMT

Nghiên cứu ứng dụng công cụ tự động chỉnh lý các thông số cho mô hình dòng chảy nước dưới đất

Mô hình dòng chảy nước dưới đất được dùng để đánh giá tốc độ và hướng vận chuyển của nước dưới đất thông qua các tầng chứa nước và lớp cách nước dưới bề mặt.

Quy trình công nghệ tích nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn vùng đồng bằng sông hồng

Ở nước ta, vùng Đồng bằng sông Hồng được xem là vùng quan trọng tiềm ẩn nhiều triển vọng phát triển các ngành kinh tế tiến tới xây dựng nền kinh tế biển vững mạnh. Chính vì các lý do trên mà nhu cầu về nước cho dân sinh và cho phát triển kinh tế rất lớn. Song thực tế lại đang tồn tại trữ lượng nước nhạt vùng Đồng bằng sông Hồng đang có nguy cơ giảm sút do sự xâm nhập mặn. Vùng Đồng bằng sông Hồng có hàng loạt các đồng bằng cấu tạo bởi các trầm tích Kainozoi bở rời được phân chia thành 5 tầng chứa nước lỗ hổng nằm trên các đá cố kết khác nhau. Tầng chứa nước Holocen (qh) nằm ở trên cùng của mặt cắt phân bố rộng rãi, nước nhạt chỉ tồn tại ở dạng thấu kính, nước mặn và nước nhạt phân bố xen kẽ nhau cả theo diện và mặt cắt nên có trữ lượng nước nhạt không lớn. Do đó cần phải có quy trình công nghệ tích trữ nước nhạt trong các tầng chứa nước bị mặn để làm cho nguồn nước vào mùa mưa được lưu giữ lại trong các tầng chứa nước nhiễm mặn, cải thiện chất lượng nước đáp ứng nhu cầu khai thác sử dụng vào mùa khô.

Vấn đề ở đây không phải là vùng Đồng bằng sông Hồng thiếu nước, mà là thiếu quy trình công nghệ tích trữ nước nhạt trong các tầng chứa nước mặn, thiếu giải pháp điều phối nguồn nước giữa các mùa, thiếu giải pháp quy hoạch phát triển nguồn nước, để làm cho nguồn nước vào mùa mưa được lưu giữ lại trong các tầng chứa nước bị nhiễm mặn, cải thiện chất lượng nước đáp ứng nhu cầu khai thác sử dụng vào mùa khô.

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quy trình công nghệ lưu trữ nước nhạt trong các tầng chứa nước mặn, căn cứ vào đặc điểm của vùng Đồng bằng sông Hồng, một số công nghệ tích trữ nước nhạt trong tầng chứa nước mặn được đưa ra như: Nghiên cứu mô hình công nghệ thu gom nước bằng hệ thống hào, rãnh thu nước để lưu trữ trong các tầng chứa nước mặn; mô hình công nghệ thu gom nước bằng phương pháp bể thấm để lưu trữ trong các tầng chứa nước mặn; mô hình công nghệ thu gom nước bằng các giếng đào để lưu trữ trong các tầng chứa nước mặn; mô hình công nghệ thu gom nước bằng các giếng bơm ép nước để lưu trữ trong các tầng chứa nước mặn theo các quy trình sau:

- Nghiên cứu khảo sát, đo địa vật lý để có bộ số liệu nền về cấu trúc địa chất - địa chất thủy văn, ranh giới mặn nhạt của khu vực thử nghiệm và thông số đầu vào về nhiễm mặn nước dưới đất.

- Xây dựng mô hình dòng chảy nước dưới đất và mô hình lan truyền vật chất để dự báo khả năng hòa trộn nước mặt với nước dưới đất với các kịch bản nước dưới đất có độ tổng khoáng hóa khác nhau để thiết kế xây dựng mô hình công nghệ tích trữ nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn một cách hiệu quả.

- Thiết kế và mô hình thí điểm công nghệ lưu trữ nước ngọt trong tầng chứa nước mặn.

DL17

- Thí nghiệm hút nước thí nghiệm nhằm xác định độ lỗ rỗng hữu hiệu và hệ số đặc tính phân tán thuỷ lực của tầng chứa nước phục vụ các tính toán và mô hình thuỷ động lực và lan truyền mặn trong tầng chứa nước mặn;

- Thí nghiệm ép nước nhằm mục đích xác định khả năng hấp thu của lỗ khoan hấp thụ của tầng chứa nước. phục vụ các tính toán và mô hình thuỷ động lực và lan truyền mặn trong tầng chứa nước mặn.

- Sử dụng phương pháp địa vật lý để quan trắc, giám sát phạm vi và quy mô của kho nước nhạt được lưu theo thời gian:

- Ứng dụng kỹ thuật đồng vị để nghiên cứu con đường di chuyển của nước được bổ sung trong kho lưu trữ nước ngọt để có chế độ khai thác phù hợp đảm bảo phát triển bền vững, lâu dài nguồn nước ngọt này.

Công nghệ tích trữ nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn là một trong nhiều công nghệ được xem như một giải pháp cho sự thiếu hụt nước trong thế kỷ 21. Việc xây dựng quy trình công nghệ tích nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn, đặc biệt là cho vùng đồng bằng sông Hồng có ý nghĩa quan trọng để giúp khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội.

(Hải Lý)



Bộ tiêu chí bảo vệ các tầng chứa nước trong trầm tích đệ tứ khi thi công xây dựng công trình ngầm

Quá trình hiện đại hóa các đô thị tại Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, các công trình xây dựng ngầm được quy hoạch và triển khai thi công xây dựng ngày càng nhiều với quy mô lớn nhỏ khác nhau như các công trình: móng cọc khoan nhồi, tuyến Metro, tầng hầm các công trình xây dựng. Quá trình thi công xây dựng các công trình trên đã tiến hành thi công khoan, khai đào qua nhiều tầng chứa nước khác nhau làm thông các tầng chứa nước tạo ra các cửa sổ ĐCTV, nước trong tầng bên trên có khả năng thấm xuống các tầng chứa nước bên dưới làm biến đổi chất lượng các tầng chứa nước bên dưới.

Ứng dụng công cụ PEST để chỉnh lý các thông số cho mô hình dòng chảy nước dưới đất khu vực TP.Hà Nội

Thủ đô Hà Nội là vùng kinh tế trọng điểm đặc biệt quan trọng của cả nước. Hiện nay hầu như 100% nguồn nước sử dụng cho ăn uống sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ ở thành phố Hà Nội được khai thác từ tầng chứa nước Pleistocen. Tuy nhiên, theo công bố của Trung tâm Quan trắc và Dự báo Tài nguyên nước, tại thành phố Hà Nội nguồn nước ngầm đã bị suy thoái về cả số lượng cũng như chất lượng.

Đặc điểm cấu trúc địa chất, địa chất thủy văn đới ven sông từ thị xã Sơn Tây đến Hưng Yên

Toàn bộ diện tích khu vực nghiên cứu từ thị xã Sơn Tây đến Hưng Yên được phủ bởi các trầm tích Đệ tứ, trong đó 2 dải ven rìa tiếp giáp với phần rìa của đồng bằng Bắc Bộ là đồng bằng aluvi cổ. Vùng ven sông Hồng là đồng bằng aluvi trẻ, trầm tích Đệ tứ vùng nghiên cứu được chia làm 9 phân vị với tuổi và nguồn gốc khác nhau gồm: Hệ tầng Lệ Chi tuổi Pleistocen sớm, hệ tầng Hà Nội tuổi Pleistocen giữa - muộn, hệ tầng Vĩnh Phúc tuổi Pleistocen muộn, hệ tầng Hải Hưng tuổi Holocen sớm - giữa, hệ tầng Thái Bình tuổi Holocen muộn.

Cơ sở lý thuyết của mô hình với tỷ trọng nước thay đổi SEAWAT

Trong nước dưới đất thường có độ mặn nhạt khác nhau. Nước mặn thường có tỷ trọng lớn hơn so với nước nhạt, dẫn đến có áp lực của nước mặn lớn hơn so với nước nhạt. Do đó, đối với những bài toán về mô hình dòng chảy cho hệ thống tầng chứa nước có độ mặn nhạt khác nhau cần nghiên cứu đến tỷ trọng thay đổi trong nước ngầm.