Sat01222022

Last update06:35:23 AM GMT

Dự báo chất lượng nước ven biển

There are no translations available.

Theo nghiên cứu mới của Stanford, được đăng trên Tạp chí Khoa học & Công nghệ Môi trường, đã công bố một mô hình dự đoán chất lượng nước tại các bãi biển chỉ sau một hoặc hai ngày lấy mẫu nước thường xuyên, điều này rất cần thiết để giảm thiểu bệnh tật cho hàng triệu người đi biển hàng năm do nước bị ô nhiễm. Phương pháp này được thử nghiệm ở California, có thể được sử dụng để theo dõi các khu vực ven biển không được giám sát, là chìa khóa để bảo vệ cuộc sống và các nền kinh tế đại dương đang phát triển mạnh trên toàn thế giới.

“Công trình là sự kết hợp của kiến ​​thức về vi sinh học, các quá trình ven biển và khoa học dữ liệu để tạo ra một công cụ quản lý hiệu quả một trong những nguồn tài nguyên quý giá nhất của chúng ta và bảo vệ sức khỏe con người”, Alexandria Boehm, giáo sư khoa kỹ thuật dân dụng và môi trường, Đại học Stanford cho biết.

Nồng độ vi khuẩn chỉ thị trong phân (FIB) - biểu thị sự hiện diện của các chất trong phân, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nước không an toàn tại các bãi biển, không đảm bảo sức khỏe và sự an toàn của con người. Trong khi tất cả nước biển đều chứa một số mầm bệnh, chẳng hạn như vi khuẩn hoặc vi rút, chúng thường được pha loãng đến nồng độ vô hại. Tuy nhiên, khi có những thay đổi về lượng mưa, nhiệt độ nước, gió, dòng chảy, chất thải tàu thuyền, tràn cống thoát nước mưa, gần nhà máy xử lý chất thải, động vật và chim nước có thể dẫn đến ô nhiễm nguồn nước. Tiếp xúc với những chất gây ô nhiễm này có thể gây ra nhiều bệnh tật, bao gồm các bệnh về đường hô hấp và đường tiêu hóa, cùng với các bệnh nhiễm trùng da, mắt và tai cho người bơi trên biển.

Bang California có 840 dặm đường bờ biển, việc bảo vệ con người và vùng biển vùng duyên hải là rất cần thiết. Hàng năm thu hút tới hơn 150 triệu khách du lịch đến với biển, bao gồm các hoạt động như bơi, lướt sóng, lặn và vui chơi tại 450 bãi biển của bang, tạo ra doanh thu hơn 10 tỷ đô la. Theo Ban Kiểm soát Tài nguyên Nước Tiểu bang California, trên địa bàn có các cơ quan y tế trên 17 quận, các nhà máy xử lý nước thải thuộc sở hữu công, các nhóm môi trường và một số nhóm khoa học công dân đang thực hiện lấy mẫu nước biển trên toàn tiểu bang. Tuy nhiên, không phải tất cả các vùng nước ven biển đều được kiểm tra thường xuyên do các vấn đề về khả năng tiếp cận, hạn chế về nguồn ngân sách hoặc theo mùa, mặc dù có nhiều người đang sử dụng nguồn nước đó.

Một trở ngại khác đối với việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng nằm ở khoảng thời gian giữa việc lấy mẫu nước và kết quả, lên đến hai ngày, khiến các nhà quản lý bãi biển đưa ra quyết định phản ánh tình trạng chất lượng nước bị chậm trễ. Khi các vùng nước được giám sát có chứa hàm lượng vi khuẩn cao và gây nguy hiểm cho sức khỏe, các nhà quản lý bãi biển sẽ treo biển cảnh báo hoặc đóng cửa các bãi biển. Sự chậm trễ trong các phương pháp thử nghiệm hiện tại có thể vô tình khiến người bơi tiếp xúc với vùng nước không tốt cho sức khỏe.

Để khắc phục những hạn chế này, các nhà nghiên cứu đã kết hợp lấy mẫu nước và dữ liệu môi trường với các phương pháp học máy để dự báo chính xác chất lượng nước. Mặc dù các mô hình dự báo về chất lượng nước không phải là mới, nhưng chúng thường yêu cầu lịch sử dữ liệu kéo dài vài năm để được phát triển. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các mẫu nước được thu thập trong khoảng thời gian 10 phút trong khoảng thời gian tương đối ngắn từ một đến hai ngày tại các bãi biển ở Santa Cruz, Monterey và Huntington Beach. Trong số ba địa điểm, 244 mẫu được đo nồng độ FIB và được đánh dấu là trên hoặc dưới mức chấp nhận được mà tiểu bang cho là an toàn. Sau đó, các nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu khí tượng như nhiệt độ không khí, bức xạ mặt trời và tốc độ gió cùng với dữ liệu hải văn bao gồm mực nước thủy triều, độ cao của sóng và nhiệt độ nước (tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ FIB) trong cùng một khung thời gian.

Sử dụng dữ liệu chất lượng nước ghi lại với tần xuất cao và phương pháp học máy, họ đã tạo ra các mô hình máy tính để dự đoán chính xác nồng độ FIB ở cả ba bãi biển. Các nhà nghiên cứu nhận thấy việc lấy mẫu nước hàng giờ trong 24 giờ liên tục ghi lại toàn bộ chu kỳ thủy triều và mặt trời đã đủ chứng minh cho kết quả đáng tin cậy. Việc cung cấp dữ liệu khung về khí tượng và thủy triều từ các khoảng thời gian dài hơn dẫn đến các dự đoán chất lượng nước trong tương lai đáng tin cậy trong ít nhất cả một mùa. Searcy nói: “Những kết quả này thực sự mang lại nhiều thông tin quý giá cho những người muốn biết điều gì đang xảy ra với chất lượng nước tại bãi biển của họ. Với một số dữ liệu của một ngày lấy mẫu, những cộng đồng này có thể thu thập dữ liệu cần thiết để bắt đầu hệ thống mô hình chất lượng nước của riêng họ."

Một kết quả phân tích có thể truy cập công khai, cũng có thể được phát triển để dự đoán chính xác các chất gây ô nhiễm khác như tảo có hại, kim loại và chất dinh dưỡng được biết là tàn phá vùng biển địa phương. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng cần phải phân tích nhiều hơn chất lượng nước để xác định chính xác khung thời gian cảnh báo và lưu ý rằng việc liên tục đánh giá và cải tiến các mô hình vẫn là phương pháp tốt nhất để dự đoán ngày càng chính xác hơn.

Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2021/01/210122085025.htm

Cửa sông đang nóng lên gấp đôi so với tốc độ của đại dương và bầu khí quyển

There are no translations available.

Các cửa sông trên bờ biển phía đông nam Australia đang nóng lên với tốc độ gấp đôi so với đại dương và bầu khí quyển, một nghiên cứu mới đã được tìm thấy.

Dữ liệu mực nước: Chìa khóa để giảm khí thải nhà kính do suy thoái đất than bùn

There are no translations available.

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO) công bố kế hoạch chi tiết về biện pháp giúp các quốc gia có thể giữ carbon trong các bể chứa carbon dễ vỡ trên đất liền để giảm lượng khí thải nhà kính.

Loại bỏ coronavirus mới từ chu trình nước

There are no translations available.

Các nhà khoa học biết rằng coronavirut, cụ thể là virut SARS-CoV-2 gây nên đại dịch COVID-19 trên toàn thế giới có thể vẫn tồn tại và lây nhiễm trong nhiều ngày hoặc thậm chí lâu hơn trong nước thải và nước uống.

Hai nhà nghiên cứu, Haizhou Liu, phó giáo sư kỹ thuật hóa học và môi trường tại Đại học California, Riverside; và Giáo sư Vincenzo Naddeo, Giám đốc Phòng Kỹ thuật Môi trường Vệ sinh tại Đại học Salerno, đã kêu gọi thử nghiệm thêm để xác định xem phương pháp xử lý nước có hiệu quả trong việc tiêu diệt SARS-CoV-2 và coronavirus nói chung hay không. "Đại dịch COVID-19 đang diễn ra khiến nhu cầu cấp thiết về việc đánh giá cẩn thận sự tồn tại và kiểm soát loại virus truyền nhiễm này trong môi trường", Liu nói. "Các kỹ sư môi trường như chúng tôi có điều kiện tốt để áp dụng chuyên môn giải quyết các nhu cầu này với sự hợp tác quốc tế để bảo vệ sức khỏe cộng đồng."

Trong đại dịch SARS năm 2003 tại Hồng Kông, rò rỉ nước thải đã gây ra một loạt các trường hợp lây nhiễm thông qua quá trình khí dung. Mặc dù không có trường hợp COVID-19 nào bị nhiễm do rò rỉ nước thải nhưng coronavirus mới có liên quan chặt chẽ với trường hợp gây ra SARS và có thể lây nhiễm qua con đường này.

Các coronavirus mới cũng có thể xâm chiếm các màng sinh học nối liền các hệ thống nước uống làm cho vòi hoa sen trở thành một nguồn lây truyền khí dung. Con đường lây truyền này được cho là một nguồn tiếp xúc chính với vi khuẩn gây bệnh Legionnaire (một bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn có tên Legionella gây ra).

May mắn thay, hầu hết các thói quen xử lý nước được cho là tiêu diệt hoặc loại bỏ coronavirus hiệu quả trong cả nước uống và nước thải. Oxy hóa bằng axit hypochlorous hoặc axit peracetic và bất hoạt bởi chiếu xạ tia cực tím, cũng như clo, được cho là có thể tiêu diệt virus corona. Trong các nhà máy xử lý nước thải sử dụng các phản ứng sinh học màng tác động tổng hợp của các vi sinh vật có lợi và sự phân tách vật lý của chất rắn lơ lửng lọc ra các virus tập trung trong bùn thải.

Tuy nhiên, Liu và Naddeo thận trọng, hầu hết các phương pháp này chưa được nghiên cứu về hiệu quả cụ thể trên SARS-CoV-2 và các coronavirus khác, họ đã kêu gọi nghiên cứu bổ sung. Họ cũng đề nghị nâng cấp cơ sở hạ tầng xử lý nước và nước thải hiện có tại các điểm nóng bùng phát, từ những nơi như bệnh viện, phòng khám cộng đồng và nhà dưỡng lão… Ví dụ, các hệ thống sử dụng điểm cực tím tiết kiệm năng lượng, phát sáng, dựa trên diode, có thể khử trùng nước trước khi đưa vào hệ thống xử lý công cộng.

Các nhà nghiên cứu viết, các hệ thống tái sử dụng nước thành nước uống, làm sạch nước thải trở lại thành nước máy, cũng cần điều tra kỹ lưỡng để loại bỏ coronavirus và có thể là các tiêu chuẩn quy định mới để khử trùng.

Mức độ mà virus có thể xâm chiếm màng sinh học cũng chưa được biết đến. Màng sinh học là sự phát triển của vi khuẩn mỏng, nhầy nhụa dọc theo đường ống của nhiều hệ thống nước uống bị xuống cấp. Cần theo dõi tốt hơn các coronavirus trong màng sinh học có thể là cần thiết để ngăn chặn sự bùng phát.

Gia tăng sử dụng thuốc diệt khuẩn và chất khử trùng trong gia đình có thể sẽ gây ra sự gia tăng vi khuẩn kháng kháng sinh trong môi trường. Nước thải được xử lý thải vào đường thủy tự nhiên đòi hỏi phải theo dõi cẩn thận trong toàn bộ chu trình nước. Liu và Naddeo kêu gọi các nhà hóa học, kỹ sư môi trường, nhà vi trùng học và chuyên gia y tế công cộng phát triển các giải pháp đa ngành và thiết thực cho nước uống an toàn và môi trường nước lành mạnh.

Cuối cùng, các quốc gia đang phát triển và một số khu vực trong các quốc gia phát triển cao như các cộng đồng nông thôn và nghèo khó, thiếu cơ sở hạ tầng cơ bản để loại bỏ các chất gây ô nhiễm cũng không thể loại bỏ SARS-CoV-2. Những nơi này có thể là nơi bùng phát dịch COVID-19 thường xuyên, lây lan dễ dàng thông qua thương mại và du lịch toàn cầu. Liu và Naddeo đề nghị chính phủ các nước phát triển phải hỗ trợ và tài trợ cho hệ thống nước và vệ sinh bất cứ nơi nào họ cần.

Naddeo nói: "Bây giờ rõ ràng rằng toàn cầu hóa cũng mang đến những rủi ro sức khỏe mới. Trong trường hợp hệ thống nước và vệ sinh không đầy đủ, nguy cơ tìm thấy virus mới là rất cao". "Trong một kịch bản có trách nhiệm và lý tưởng là chính phủ của các nước phát triển phải hỗ trợ và tài trợ cho các hệ thống nước và vệ sinh ở các nước đang phát triển để bảo vệ công dân của chính quốc gia họ."

Nguồn: https://www.sciencedaily.com/releases/2020/04/200403132347.htm?fbclid=IwAR1VT0h4Q4Y-0viyRA9RDXyDHDESPD6r8achDDgrN3IK3LaE8pLII8HJxEw

Ngày Thế giới chống Sa mạc hóa và Hạn hán năm 2020: Nâng cao nhận thức về mối liên hệ giữa tiêu dùng và đất đai

There are no translations available.

Ngày Thế giới chống Sa mạc hóa và Hạn hán năm 2020 nhấn mạnh mối liên hệ giữa tiêu dùng và đất đai. Các sự kiện được tổ chức theo phương thức trực tuyến với hàng loạt sự kiện và nội dung phong phú từ khắp các quốc gia trên thế giới. Bộ Lâm nghiệp Hàn Quốc đóng vai trò quan sát viên sự kiện toàn cầu này năm 2020.

Chất lượng nước và nước thải

There are no translations available.

Chất lượng nước tốt là điều cần thiết đối với sức khỏe con người, phát triển xã hội và kinh tế, và các hệ sinh thái. Tuy nhiên, các quần phát triển và môi trường tự nhiên bị suy thoái, để bảo đảm có đủ nguồn cung cấp nước an toàn cho tất cả mọi người ngày càng trở nên thách thức. Một phần quan trọng của giải pháp là để sản xuất ít ô nhiễm và cải thiện cách chúng ta quản lý nước thải.