Wed11222017

Last update02:00:00 PM GMT

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 04 năm 2017 vùng Bắc Trung Bộ

Vùng Bắc Trung Bộ, hiện có các công trình quan trắc ở hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Các tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trên xuống gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 5 và tháng 6 năm 2017. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tnh Thanh Hóa

1. Tầng chứa nước Holocene (qh)

Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 năm 2017 có xu thế biến động không đáng kể so với trung bình tháng 3 năm 2017 với 6/11 công trình có mực nước biến động không đáng kể, 2/11 công trình có mực nước dâng và 3/11 công trình có mực nước hạ thấp. Giá trị dâng cao nhất là 0,09m tại xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa (QT2-TH) và hạ thấp nhất là 0,14m tại xã Ngọc Lĩnh, huyện Tĩnh Gia QT14-TH).

t4_tangqh_BTBHình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 4 năm 2017 tầng qh

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 04 năm 2017 vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có 41 công trình quan trắc, trong vùng có 3 tầng chứa nước lỗ hổng và 2 tầng chứa nước khe nứt tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2016 và 4 tháng đầu năm 2017, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo mực nước tháng 5 và tháng 6 cho hai tầng chứa nước chính là tầng chứa nước Holocene (qh) và tầng chứa nước  leistocene (qp). Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Din biến tài nguyên nước dưới đất vùng Duyên hi Nam Trung B

I.1. Tng cha nước Holocen (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 4 có xu thế hạ so với mực nước trung bình tháng 3, với 19/22 công trình có mực nước hạ và 3/22 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,87m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9a-QN).

Trong tháng 4: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 6,28m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9a-QN), mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,98m tại xã TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (QT13a-QD).

t4_tangqp_NTBHình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 4 tầng qh

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 04 năm 2017 vùng Nam Bộ

Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứa nước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2016 và tháng đầu năm 2017 diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 5 và 6 năm 2017. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tổng quan diễn biến mực nước

I.1. Tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3)

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 4 so với giá trị trung bình tháng 3 mực nước có xu thế hạ, có 35/42 công trình mực nước hạ, có 2/42 công trình mực nước dâng và 5/42 công trình mực nước dâng không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,63m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q01302C) và giá trị dâng cao nhất là 0,32m tại phường Trung Mỹ Tây, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q011020),

Trong tháng 4: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 10,68m tại phường 7, TX Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (Q597020M1). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 1,66m tại xã Truông Mít, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (Q00102CM1).

t4_tangqp_NamboHình 1.Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 4 năm 2017 tầng qp3

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 04 năm 2017 vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).

Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 5 và tháng 6 năm 2017. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tổng quan diễn biến mực nước

I.1. Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q)

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 4 so với giá trị trung bình tháng 3: mực nước có xu thế hạ, có 21/32 công trình có mực nước hạ, 8/32 công trình có mực nước dâng, và 3/32 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 1,21m tại Diên Bình-Đắk Tô-Kon Tum (LK136Tm1) và giá trị dâng cao nhất là 1,40m tại TT.Đinh Văn-Lâm Hà-Lâm Đồng (LK119T) (xem hình 1).

Trong tháng 4: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 9,40m tại Ninh Gia-Đức Trọng-Lâm Đồng (LK107aT). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,39m tại Ea Kly-Krông Păk-Đắk Lắk (LK51T).

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 4 so với cùng thời điểm 1 năm, 5 năm và 10 năm trước được ghi chi tiết trong bảng 1, 2 và các hình 2, 3 và 4. Mực nước suy giảm lớn nhất so với cùng kỳ 5 năm trước và 10 năm trước lần lượt là 2,58m và 2,18m tại Phú Thiện-Gia Lai.

t4_tangQ_TayNguyenHình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 4 tầng Q

Xem chi tiết tại đây


Bản tin thông báo tài nguyên nước mặt mùa cạn năm 2017 vùng Tây Nguyên

CHƯƠNG I. HIN TRNG CÁC TRM QUAN TRC TÀI NGUYÊN NƯỚC MT VÙNG TÂY NGUYÊN

Vùng Tây Nguyên hiện có 04 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xây dựng theo Quyết định số 2204/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây

dựng mới 06 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2007-2010”. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước.

Các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được bố trí như sau:

- Trạm Ya Yun Hạ (tọa độ địa lý: 13o42’ vĩ độ Bắc, 108o10’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông YaYun, thuộc làng Chép xã AYun huyện Chư Sê

tỉnh Gia Lai; thuộc lưu vực sông Ba, diện tích lưu vực khống chế là 1.150 km2; được quan trắc từ tháng 1 năm 2012;

- Trạm Đức Xuyên (tọa độ địa lý: 12º10’ vĩ độ Bắc 108º07’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông KrôngNô, thuộc buôn PhiDihJa B xã KrôngNô

huyện Lắk tỉnh Đắk Lắk; thuộc lưu vực sông Srê Pốk, diện tích lưu vực khống chế là 980 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011;

- Trạm Đại Ninh (tọa độ địa lý: 110 43’ vĩ độ Bắc, 1080 22’ kinh độ Đông) được xây dựng ở bờ phải sông Đa Nhim, thuộc thôn Phú Hòa xã Phú Hội huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.380 km2; được quan trắc từ tháng 07 năm 2011;

- Trạm Cát Tiên (tọa độ địa lý: 11034’ vĩ độ Bắc, 107021’ kinh độ Đông)

nằm trên bờ trái sông Đồng Nai, thuộc thôn I xã Phù Mỹ huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.980 km2; được quan trắc từ tháng 02 năm 2012.

sodo_tqtrac_TaynguyenHình 1.1: Sơ đồ mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên nước mặt – vùng Tây Nguyên

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo tài nguyên nước mặt tháng 04 năm 2017 vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

CHƯƠNG I. HIN TRNG CÁC TRM QUAN TRC TÀI NGUYÊN NƯỚC MT

1.1. Hin trng trm quan trc tài nguyên nước mt khu vc Duyên hi Nam Trung B

Vùng Nam Trung Bộ hiện có 03 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xây dựng theo Quyết định số 2208/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây dựng mới 4 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2007-2010”. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàmlượng chất lơ lửng và chất lượng nước.

Các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ được bố trí như sau:

- Trạm Phú Ninh (tọa độ địa lý: 13o42’ vĩ độ Bắc, 108o10’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông Yên Thuận, thuộc thôn I, xã Tam Sơn huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam; thuộc lưu vực sông Tam Kỳ, diện tích lưu vực khống chế là 120 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011.

- Trạm An Thạnh (tọa độ địa lý: 12º10’ vĩ độ Bắc 108º07’ kinh độ Đông) nằm trên bờ trái sông Kỳ Lộ, thuộc thôn Phú Mỹ, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; thuộc lưu vực sông Kỳ Lộ, diện tích lưu vực khống chế là 1180 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011;

- Trạm Nha Phu (tọa độ địa lý: 110 43’ vĩ độ Bắc, 1080 22’ kinh độ Đông) được xây dựng ở bờ trái sông Dinh, thuộc thôn Hội Phú Bắc I, xã Ninh Phú huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa; thuộc lưu vực sông Ba, diện tích lưu vực khống chế là 750km2; được quan trắc từ tháng 7 năm 2011.

sodo_tramqtracHình 1.1: Sơ đồ mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên nước mặt - vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước mặt lưu vực sông Srê Pôk tháng 4 năm 2017

PHẦN I. HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN LƯU VỰC SÔNG SRÊ PỐK

1.1 Hiện trạng các trạm quan trắc

Trên lưu vực sông Srê Pốk hiện có 24 trạm quan trắc, bao gồm: 01 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt và 23 trạm quan trắc khí tượng, thủy văn. Cụ thể như sau:

1.1.1 Trạm quan trắc tài nguyên nước mặt

Trên lưu vực sông Srê Pốk hiện có 01 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt Đức Xuyên do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý, thực hiện quan trắc từ năm 2012.

1.1.2 Trạm quan trắc khí tượng, thủy văn

Trên lưu vưc sông Srê Pốk có tổng số 23 trạm quan trắc bao gồm: 17 trạm khí tượng và 9 trạm thủy văn. Cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Các trạm khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước trên lưu vực sông Srê Pốk

tramqtracktBảng 1.1: Các trạm khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước trên lưu vực sông Srê Pốk

 

Xem chi tiết tại đây