Wed06202018

Last update04:41:21 AM GMT

Sông Mekong: Thách thức từ mất rừng và chuyển nước

s1Dòng sông sẽ suy yếu nghiêm trọng, thậm chí sẽ "chết" đi, nếu nó liên tục bị chích mất nước, giống như một cơ thể con người liên tục bị chích máu.
Liên quan đến những thách thức đối với sông Mekong, việc xây dựng các đập thủy điện đã được đề cập khá nhiều [1]. Có ý kiến cho rằng đó còn liên quan đến sự tồn vong của dòng sông. Xin không đề cập thêm trong bài này.

Ít được nói đến nhưng theo tôi quan trọng không kém và gắn kết với các đập, đó là tình trạng mất rừng trong lưu vực và vấn đề chuyển nước ra khỏi lưu vực.


Cái giá mất rừng

Rừng đầu nguồn bị tàn phá là một mối đe dọa nặng nề đối với dòng sông, nhất là ở vùng nhiệt đới. Ai cũng biết, mất rừng kéo theo xói mòn, rửa trôi mà hậu quả là nâng cao đáy các hồ đập, thay đổi địa mạo của lòng sông, chế độ thủy văn của sông và trong một số trường hợp, cả địa mạo của vùng.


Hồ Tonlé Sap là một ví dụ cụ thể. Do nạn phá rừng quanh hồ này trong những thập niên gần đây, đáy hồ mỗi năm được nâng lên từ 10 đến 12 cm, sức chứa của hồ giảm đi tương ứng. Chức năng trữ và điều tiết của hồ sẽ thay đổi khác với trước đây là điều sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn được tình hình mất rừng hiện nay.


Để định lượng cụ thể tình trạng mất rừng, cần tính toán đầy đủ để được 1 MW thủy điện sẽ phải mất bao nhiêu ha rừng cho lòng hồ, cho nhà máy và hạ tầng cơ sở khác, và các hậu quả của sự mất mát này.


Một lãnh đạo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, cho biết chỉ với 25 công trình thủy điện đã và đang được triển khai, tỉnh đã mất hơn 15000ha rừng tự nhiên. Từ đó bài báo đưa ra con số để có 1MW điện phải mất ít nhất 10-16ha rừng tự nhiên [2].


Con số này là bao nhiêu đối với 9 tỉnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) nơi, theo số liệu của Bộ Công thương, đang có tới 393 dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy khoảng 7381MW [3]. Tình trạng lũ lụt ở các tỉnh miền Trung trong những tuần gần đây có nguyên nhân của thời tiết, nhưng chắc chắn có nguyên nhân từ tình hình mất rừng.


Nói gắn kết là vì vậy. Để có đập phải mất rừng. Số đập dày đặc thì sẽ không còn rừng. Lòng hồ bị nâng đáy, công suất giảm so với thiết kế, lượng nước chảy về hồ nhanh gần như tức thì, tần suất xã lũ nhặt hơn, nhà dân và hạ tầng cơ sở bị phá hỏng.


Nếu đập nằm trên vùng bán sơn địa, ngoài mất rừng, còn mất nhiều diện tích đất nông nghiệp và nhiều hộ dân phải tái định cư.


Chuyển nước


Dòng sông sẽ suy yếu nghiêm trọng, thậm chí sẽ "chết" đi, nếu nó liên tục bị chích mất nước, giống như một cơ thể con người liên tục bị chích máu.


Những dự án chuyển nước từ lưu vực của một dòng sông sang lưu vực của một dòng sông khác, và kể cả trong cùng lưu vực, do vậy cần được tính toán, đánh giá các tác động kinh tế, xã hội, môi trường, và cụ thể những thay đổi đối với dòng sông, lưu vực, những mặt được - mất đối với các quốc gia có liên quan khi dòng sông chảy qua nhiều nước.


Từ thập niên 1980 - 1990, Thái Lan đã đề xuất hai dự án chuyển nước: dự án Kok - Ing - Yom - Nan ở vùng Bắc Thái Lan, và dự án Kong - Chi - Mun ở phía Đông Bắc Thái Lan.


Dự án Kok - Ing - Yom - Nan chuyển nước từ hai phụ lưu của sông Mekong, sông Kok và sông Ing, vào sông Yom và sông Nan, hai phụ lưu của sông Chao Praya, nhằm tăng thêm nguồn nước cho đập Sirikit và lượng nước tưới cho miền Trung Thái Lan. Đây là một dự án chuyển lưu vực và sẽ làm thất thoát nguồn nước sông Mekong.


Dự án Kong - Chi - Mun, không chuyển nước ra ngoài lưu vực, mà đưa nước từ sông Mekong vào các hồ chứa hiện có và mới sẽ xây thêm nhằm tưới cho 510000 rai đất nông nghiệp (tương đương 81600 ha) ở vùng Đông Bắc Thái Lan. Lượng nước mất đi và chất lượng nước trả lại cho dòng chính là những mối quan ngại đối với Lào và nhất là Campuchia và Việt Nam.


Chính vì hai dự án này mà Ủy ban lâm thời sông Mekong đã đi vào bế tắc và đã giải thể năm 1992.


Gây lo ngại lớn là dự án đồ sộ chuyển nước Nam - Bắc trên lãnh thổ Trung Quốc với ba tuyến chuyển Đông, Trung và Tây, dự kiến bổ sung 44,8 tỉ m3/năm nước từ sông Trường Giang sang sông Hoàng Hà, sau đó đưa đến Bắc Kinh, Thiên Tân.


Tuyến phía Đông đã được triển khai. Tuyến phía Tây bắt đầu triển khai năm 2010. Còn tuyến phía Tây? và trong 17 tỉ m3/năm từ tuyến này, có chuyển nước từ sông Mekong và sông Salween hay không? Thông tin có được rất ít và không rõ ràng.


Trong quy hoạch ban đầu vào cuối thập niên 1950 dự án định chuyển nước từ năm con sông Nu (Salween), Lancang (Mekong), Tongtian, Yalong, Dadu sang sông Hoàng Hà. Việc chuyển nước như vậy sẽ gây nhiều hậu quả về môi trường và về kinh tế xã hội to lớn cho các nước ở hạ lưu là Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.


Sau đó phương án này không được công khai nhắc đến có thể vì liên quan đến các nước ở hạ lưu. Tuyến phía Tây được thể hiện rất đơn sơ trong hình dưới đây.


Có bao nhiêu đập đã, đang và sẽ được xây dựng trên sông Lancang (Mekong thượng nguồn)? Theo bản đồ của Ủy hội sông Mekong, có 7. Có tài liệu nói đến con số 14. Theo tài liệu đọc được trên mạng meltdownintibet.com thì số đập trên sông Lancang cao hơn nhiều và hầu hết đều đã và đang được xây dựng.


Có cơ sở để nghĩ rằng các thông tin về các đập trong bản đồ trên đây là xác thực, vì: (1) nó đúng với lô-gíc tích nước để chuyển nước; (2) còn có một bản đồ tiếng Trung trùng hợp với bản đồ này.


Như vậy: (1) thách thức từ các đập thủy điện đối với hạ lưu vực sông Mekong không phải chỉ đến từ 7 con đập. Nó còn sang một cấp độ khác vì nguồn nước có cơ bị thất thoát; (2) vấn đề chuyển nước sông Mekong trong dự án chuyển nước Nam-Bắc của Trung Quốc vẫn là thời sự, và đương nhiên là mối quan ngại hàng đầu đối với các quốc gia ở hạ lưu; (3) số đập và việc chuyển nước Mekong cần được làm sáng tỏ.


Phải chăng sự gần kề giữa sông Lancang và sông Jingsa-Yangtsé cùng lúc với mực nước dâng tích lại từ các đập xây dựng trên sông Lancang đã luôn âm ỉ nuôi dưỡng việc thực hiện ý tưởng chỉ đạo từ ban đầu đưa nước sông Lancang (và sông Nu) vào dự án chuyên nước Bắc Nam?


Sáu đề xuất và kiến nghị


1. Quy hoạch tổng thể phát triển vùng (hay lưu vực sông), các quy hoạch phát triển ngành (nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, du lịch, ...) và tiểu vùng (hay quốc gia trong lưu vực) cần phải hài hòa với nhau. Hãy để dòng sông "sống" với vùng (lưu vực), với con người và phục vụ con người.


2. Ngăn chặn nạn phá rừng, nhất là rừng đầu nguồn là một nhiệm vụ bức xúc của các quốc gia trong lưu vực.


3. Lancang-Mekong là một con sông quốc tế. Các dự án chuyển nước phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và đầy đủ. Vấn đề xây dựng đập cũng vậy. Các báo cáo tác động môi trường cho toàn bộ lưu vực, trong thời gian dài là bắt buộc. Tốt nhất là đặt trong một quy hoạch tổng thể lưu vực sông.


4. Khai thác tài nguyên nước tại một quốc gia trong lưu vực phải đi đôi với trách nhiệm đối với tất cả các thay đổi trong toàn lưu vực do việc khai thác này gây ra. Quyền lợi của một nước trong lưu vực không thể tách rời quyền lợi của tất cả các nước khác cùng chia sẻ lưu vực.


Hợp tác để cùng phát triển bền vững giữa tất cả các nước trong lưu vực là cách ứng xử đúng đắn nhất.


5. Các số liệu khí tượng thủy văn trong lưu vực sông Lancang - Mekong phải được chia sẻ giữa các nước trong lưu vực. Chế độ vận hành của các đập cũng vậy. Những thông tin này là cần thiết cho việc quản lý các rủi ro trong toàn lưu vực.


6. Ủy ban quốc gia của Việt Nam trong Ủy hội sông Mekong, gắn trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của đất nước, theo nguyên tắc Hợp tác để cùng phát triển bền vững, với nhiệm vụ báo cáo với Chính phủ và qua Chính phủ, báo cáo với Quốc hội, mặt khác thông cho rộng rãi các nhà khoa học các thông tin liên quan đến tài nguyên nước và việc sử dụng nó trong lưu vực sông Mekong, để được thêm sư hậu thuẩn cho tiếng nói của mình tại diễn đàn quốc tế.



 
[1] Một cuộc Hội thảo Đối thoại chính sách: Phát triển đập thuỷ điện trên sông Mekong và thách thức đối với Việt Nam" với đại biểu Quốc hội Khóa XII vừa được Trung tâm Con người và Thiên nhiên và Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 7.11.2010.

[2] Bài "1MW điện giá bao nhiêu?" Tuổi Trẻ cuối tuần, số ra ngày 05.10.2010.


[3] Báo cáo của Bộ Công thương gửi Thủ tướng Chính phủ tháng 3-2010 về kết quả rà soát các dự án thủy điện và việc vận hành các đập thủy điện



 

(Theo GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Trân)

Lũ lụt không phải do các hồ thuỷ điện

Theo ông Hoàng Hữu Thận, Giám đốc Trung tâm Tư vấn và phát triển điện: “Các nhà máy thuỷ điện có những hạn chế, song không làm xấu hơn tác hại của lũ, mà chỉ có thể tham gia vào quá trình cắt lũ, hoặc không”

Tại hội thảo “Công tác vận hành các hồ chứa thuỷ điện” sáng 13/11 ở Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết, với tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay, 32 dự án thuỷ điện vừa và lớn với tổng công suất lắp máy 7.303,6 MW và 86 nhà máy thuỷ điện nhỏ với tổng công suất lắp máy khoảng 474,8MW đã đóng góp cho hệ thống điện quốc gia khoảng 35% công suất.

Ngoài mục tiêu phát điện, các nhà máy thuỷ điện còn có nhiệm vụ cắt và chống lũ cho hạ du trong mùa mưa bão; đồng thời cung cấp nước cho hạ du phục vụ nhu cầu dân sinh trong mùa kiệt. Quy trình vận hành các hồ chứa thuỷ điện được xây dựng và ban hành căn cứ vào nhiệm vụ công trình và phù hợp với quy hoạch lưu vực sông và quy hoạch bậc thang thuỷ điện. Đối với 32 hồ chứa thuỷ điện hiện đã ban hành đầy đủ quy trình vận hành và 3 quy trình vận hành liên hồ chứa.

Chưa phát huy được tác dụng ngăn lũ

Báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương tại hội thảo khẳng định:  “Với 3 nhiệm vụ chính là chống lũ, cấp nước và phát điện, thuỷ điện Việt Nam đã phát huy tốt vai trò của mình trong nền kinh tế”.

Tuy nhiên báo cáo cũng cho biết, trong thời gian qua, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tình hình mưa lũ, đặc biệt tại khu vực miền Trung có diễn biến phức tạp, đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quy trình vận hành, công tác

Hiện tại Việt Nam đã vận hành 32 dự án thuỷ điện vừa và lớn, 86 dự án thuỷ điện nhỏ với tổng công suất lắp máy đạt vào khoảng gần 8.000MW, đóng góp cho hệ thống điện quốc gia 35% công suất.

ngăn, xả lũ của các hồ chứa thuỷ điện.

Đứng trước tình hình mưa lũ diễn biến thất thường và phức tạp, công tác dự báo chưa kịp thời, lượng nước đầu nguồn về lớn và nhanh vượt quá mức thiết kế, sức chứa của các hồ chứa thuỷ điện có giới hạn làm cho nhiều nơi thuỷ điện không phát huy được tác dụng ngăn lũ.

Các đại biểu nêu kiến nghị với Bộ Công thương, các cơ quan có liên quan cần làm tốt hơn nữa công tác dự báo lũ, tránh hiện tượng bất ngờ không ứng phó kịp của các nhà máy, hồ thuỷ điện. Ngoài ra cần làm tốt việc quy hoạch dân cư tại khu vực hạ lưu đang phát triển phổ biến, gây cản trở dòng chảy, ảnh hưởng đến công tác thoát lũ…

Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng lưu ý các nhà máy thuỷ điện cần tuân thủ nghiêm ngặt hơn nữa công tác vận hành hồ chứa thuỷ điện, cần phối hợp chặt chẽ, trao đổi thông tin với chính quyền địa phương, với các cơ quan liên quan trong việc ngăn, xả lũ tránh để xảy ra những thiệt hại đáng tiếc.

Nhưng không làm xấu hơn tác hại của lũ

Sau các đợt lũ lụt vừa qua tại miền Trung, có thông tin dư luận cho rằng, hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã làm lũ lụt diễn biến phức tạp và khốc liệt hơn. Tuy nhiên, khẳng định trước báo chí tại cuộc hội thảo, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Cao Đức Phát đã khẳng định: "Không hoàn toàn như vậy bởi các hồ chứa vẫn phải giữ lại một lượng nước nhất định".

“Khi mưa nhỏ, lượng nước mưa được giữ lại nên hạ du không có lũ lụt, nhưng khi có mưa lớn, các hồ chứa không thể giữ lại toàn bộ lượng nước mà chỉ có thể giữ lại một lượng nhất định. Vì vậy, các nhà máy thủy điện buộc phải để cho nước chảy qua hồ xuống hạ du”- Bộ trưởng Cao Đức Phát nói.

Ông Bùi Minh Tăng, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Trung ương khẳng định, nguyên nhân gây ra lũ lụt những năm gần đây không phải do các hồ thuỷ điện.

Ông Hoàng Hữu Thận, Giám đốc Trung tâm Tư vấn và phát triển điện- Hội Điện lực Việt Nam, cũng cho rằng: “Các nhà máy thuỷ điện có những hạn chế, song không làm xấu hơn tác hại của lũ, mà chỉ có thể tham gia vào quá trình cắt lũ, hoặc không”.

Theo ông Thận, các dự án thủy điện được dựa trên 4 tiêu chí, trong đó có tiêu chí đáp ứng nhu cầu thủy lợi, cấp thêm nước mùa cạn và cắt đỉnh lũ mùa mưa. Nhưng muốn có chức năng này, quy trình vận hành hồ chứa phải quy định mức nước thượng lưu, tức mức nước hồ phải dự trữ một dung tích phòng lũ trong suốt thời gian lũ lớn trên lưu vực có khả năng xuất hiện.

Trong chính sách năng lượng quốc gia của Việt Nam, thủy điện được chọn là nguồn điều tần lý tưởng, kinh tế. Hồ chứa lớn của các nhà máy thủy điện có ưu việt về thủy lợi, cấp nước bổ sung cho hạ du vào mùa cạn và cắt lũ khi có lũ lớn. Chẳng hạn, hồ Thủy điện Hòa Bình với dung tích 9 tỷ m3, cho phép cắt đỉnh lũ cực đại ở Hà Nội cỡ 1m. Nhờ vậy, giải quyết khá cơ bản lũ hạ du sông Hồng.

Tuy nhiên, theo ông Thận, khi xét duyệt quy trình điều tiết hồ chứa, Bộ Công Thương cần xem xét hiệu quả thủy lợi, trong đó phải rà soát kỹ điều kiện hồ chứa tham gia cắt đỉnh lũ. Bộ Công Thương cần ban hành quy trình mẫu, trong đó có điều khoản này, bao gồm cả các hướng dẫn tính toán. Như vậy, nhà máy thủy điện sẽ càng nâng cao hiệu quả kinh tế và hạn chế tác hại của lũ trên lưu vực.

Tại hội thảo, hầu hết các đại biểu đều khẳng định tác dụng của thuỷ điện, hồ thuỷ điện trong việc phòng, chống lũ, điều tiết dòng chảy là vô cùng quan trọng. Thực tế trong nhiều năm qua, các hồ chứa đều phát huy tốt công tác chống lũ vào mùa mưa, cấp nước vào mùa khô, phát điện đạt công suất tối đa.

Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng cho biết, trong thời gian tới, Bộ sẽ nghiên cứu, đề xuất trình Chính phủ phê duyệt quy trình vận hành hồ chứa thuỷ điện cho tất cả các công trình thuỷ điện trên toàn quốc. Bộ sẽ giao cho Cục Kỹ thuật An toàn và Môi trường Công nghiệp của Bộ thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc phòng chống lũ bão tại các hồ thuỷ điện, tổ chức diễn tập thường xuyên.

Bên cạnh đó, Thứ trưởng cũng đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn quốc gia cần làm tốt hơn nữa công tác dự báo tình hình mưa lũ, rà soát và xem lại tính hiệu quả trong việc phòng chống lũ của các dự án thuỷ điện đang và sẽ được xây dựng trong thời gian sắp tới./.

 

(Theo DWRM)

Bình Dương: 9 doanh nghiệp xả nước thải ra kênh Ba Bò

Kênh Ba Bò bị ô nhiễm nặngTình trạng ô nhiễm kênh Ba Bò kéo dài thời gian qua đã gây ảnh hưởng, đời sống người dân ven sông thuộc quận Thủ Đức – TPHCM và các huyện Dĩ An, Thuận An - tỉnh Bình Dương.
Kết quả thị sát của ngành chức năng tỉnh Bình Dương mới đây cho thấy, vẫn còn 9 doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Sóng Thần 1 và 2 ở huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương chưa đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung mà xả trộm nước thải chưa xử lý vào hệ thống nước mưa chảy trực tiếp ra kênh Ba Bò.

Đặc biệt, tại huyện Thuận An, địa phương nằm ở hạ lưu của kênh, người dân luôn phải hít thở không khí hôi thối ô nhiễm do tình trạng xả thải bừa bãi này gây ra.

Tại tuyến cống thoát nước mưa của Khu Công nghiệp Sóng Thần vẫn bị ô nhiễm chất hữu cơ nặng, vượt ngưỡng cho phép từ 3,4 - 7,2 lần. Các ngành chức năng đã có văn bản kiến nghị với UBND tỉnh Bình Dương để tiếp tục giám sát, phát hiện xử lý các doanh nghiệp vi phạm môi trường./.








(Theo VOV)

TP. Hồ Chí Minh: Hội thảo Tài nguyên nước với lĩnh vực truyền thông

Đại diện Cơ quan phát triển Bỉ, Cố vấn trưởng dự án CAPAS Martin Junker tại Hội thảoNgày 10/11/2010 tại TP.HCM, Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên & Môi trường) và Cơ quan phát triển Bỉ đã phối hợp tổ chức buổi Hội thảo Tài nguyên nước (TNN) với lĩnh vực truyền thông.

Thông qua dự án Nâng cao năng lực đánh giá và quản lý TNN Việt Nam (VN) - CAPAS, Hội thảo mong muốn thiết lập, tạo cơ hội cho giới truyền thông tiếp cận với các thông tin, kiến thức về TNN, đồng thời tăng cường sự tham gia của các kênh thông tin đại chúng trong công tác tuyên truyền về TNN thông qua việc giới thiệu, phát động Cuộc thi sáng tác kịch  bản phim về TNN lần thứ nhất năm 2010.

Phát biểu tại Hội thảo, Phó Cục trưởng Cục Quản lý TTN, Giám đốc dự án CAPAS  Lê Hữu Thuần cho biết: theo kết quả đánh giá tổng quan của ngành nước VN, VN được xếp vào nhóm quốc gia có nguồn TNN trung bình trên thế giới, tuy nhiên TNN VN đang đứng trước nguy cơ thiếu nước do những tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gia tăng dân số và đặc biệt là biến đổi khí hậu. Sự phân bố không đều theo không gian (các vùng miền) và thời gian (các mùa trong năm) cùng với những hạn chế về nguồn lực là các thách thức lớn đối với công tác quản lý TNN của VN. Trong thời gian qua, TTN ngày càng được quan tâm, nhận thức đầy đủ hơn trên toàn thế giới và ở VN. Để tăng cường công tác quản lý TNN, Bộ Tài nguyên & Môi trường đã kiến nghị Cơ quan phát triển Bỉ hỗ trợ thực hiện dự án CAPAS với mục tiêu tổng thể của dự án là Tăng cường thể chế và nâng cao năng lực của các cơ quan Trung ương và địa phương trong lĩnh vực TNN nhằm hỗ trợ công tác điều tra và quản lý TTN ở cấp quốc gia và địa phương, phục vụ hiệu quả các Mục tiêu phát triển quốc gia (VDGs). Theo đó, một  trong những mục tiêu cụ thể của dự án là Nâng cao nhận thức cộng đồng về TNN, để đạt được mục tiêu này, sự tham gia tích cực của giới truyền thông trong công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức, cách sử dụng, ứng xử đối với TNN là rất cần thiết.

Đại diện Cơ quan phát triển Bỉ, Cố vấn trưởng dự án CAPAS Martin Junker cho biết: Quản lý TTN không chỉ là mối quan tâm của VN mà còn là mối quan tâm hàng đầu của cả thế giới. Năm 1996, Hội đồng Nước Thế giới đã được thành lập nhằm giải quyết các mối quan tâm của cộng đồng thế giới về TNN. Hội đồng Nước Thế giới đã tổ chức các diễn đàn nước, triển lãm ảnh về nước thế giới…và rất nhiều sự kiện lớn đã diễn ra trên thế giới về nước cho thấy rõ giá trị của nước, để các quốc gia trên thế giới có biện pháp quản lý, bảo vệ TNN, sử dụng nguồn nước có hiệu quả, chia sẻ TNN… để  cùng phát triển bền vững.



(Theo tainguyenmoitruong.com)

Hoa hậu trái đất 2010 hướng tới bảo vệ tài nguyên nước

3Hôm qua, Ban Tổ chức Hoa hậu trái đất 2010 tổ chức báo giới chào mừng thí sinh đến Việt Nam tham dự cuộc thi. Theo đó, chương trình bắt đầu đến ngày 4/12 với chủ đề cuộc thi năm nay là “Nước” nhằm nói lên nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này đang bị thiếu hụt trầm trọng trên toàn thế giới.

 

Ngoài việc tham gia các cuộc thi như “Người đẹp Trang phục truyền thống” thi áo dài và trang phục dạ hội, thi chung kết tài năng, thời trang áo tắm… các người đẹp sẽ tham gia các hoạt động hướng đến cộng đồng như phát thuốc từ thiện, tham gia hoạt động về môi trường, giờ trái đất, lễ hội lồng đèn , gặp gỡ doanh nhân.

Chương trình sẽ diễn ra tại các TP lớn bao gồm Hà Nội, TP HCM, Nha Trang và Hội An.

Ban tổ chức cũng công bố sự có mặt của ca sĩ lừng danh Ronan Keating, thành viên cũ của nhóm nhạc Boyzone đã đánh dấu sự nghiệp ca hát của mình bằng ca khúc “When you say nothing at all” vào đêm chung kết cùng với ông Oliver Pettigrew làm MC. Ông Pettigrew được biết đến với vai trò là chủ nhân kênh truyền hình AXN tại châu Á.


 



(Theo baomoi.com)

An Giang ưu đãi đầu tư công trình cấp nước sạch

UBND tỉnh An Giang vừa đưa ra các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh.

Các chính sách này nhằm khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện dự án xây dựng hệ thống cấp nước tại nông thôn, các vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (gồm các huyện Chợ Mới, Châu Thành, Châu Phú và Phú Tân) và đặc biệt khó khăn (gồm các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, Thoại Sơn và thị xã Tân Châu).

Cụ thể đó là việc ngân sách tỉnh sẽ chịu chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng để tạo quỹ đất và cho nhà đầu tư thuê đất triển khai xây dựng trạm cấp nước hoặc nhà máy cấp nước.

Các dự án đầu tư được hưởng mức hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện theo tổng dự toán của dự án được UBND cấp huyện phê duyệt với mức hỗ trợ không quá 60% đối với các xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn.

Ưu đãi thuế

Về thuế thu nhập doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ được áp dụng thuế suất 10% trong suốt thời gian hoạt động và miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm đầu kể từ khi có thu nhập chịu thuế.

Đồng thời, đối với các dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn nhà đầu tư được giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với doanh nghiệp thành lập mới hoặc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu kể từ 1/1/2009. Còn với các dự án đầu tư thực hiện tại thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc, nhà đầu tư được giảm 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo đối với doanh nghiệp thành lập mới.



(Theo chinhphu.vn)

Cải cách thủ tục hành chính: Đột phá từ khâu cán bộ

Để Đề án 30 đạt được mục tiêu tổng thể, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ đặc biệt lưu ý khâu năng Nâng cao năng lực và phẩm chất cán bộ, đẩy mạnh giám sát và cải tiến quy trình xây dựng pháp luật là những cơ sở để Đề án 30 đạt được mục tiêu tổng thể.
Sáng 9/11, Quốc hội đã nghe báo cáo giám sát và thảo luận thực hiện cải cách thủ tục hành chính (TTHC) theo chương trình tổng thể cải cách TTHC Nhà nước giai đoạn 2001 - 2010.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đồng thời là Tổ trưởng Tổ Công tác chuyên trách cải cách TTHC của Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh những vấn đề trên khi trả lời phóng viên Cổng TTĐT Chính phủ về quá trình thực hiện Đề án 30.

Thưa Bộ trưởng, Báo cáo giám sát của Quốc hội đánh giá cao chương trình cải cách TTHC, đặc biệt là Đề án 30. Tuy nhiên trong Báo cáo cũng nhắc đến vấn đề để tạo đột phá trong cải cách TTHC thì phải đột phá từ khâu con người, ông nhận xét vấn đề này thế nào ?

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc: Đúng như Quốc hội nêu. Tôi cho rằng vấn đề cán bộ có năng lực, có phẩm chất, trình độ và có trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm trong lĩnh vực chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng trong việc giải quyết TTHC cho dân, cho doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Bởi TTHC chỉ là một công cụ quản lý Nhà nước trên tinh thần có lợi cho người dân, doanh nghiệp, giảm chi phí xã hội, tăng cường quản lý Nhà nước. Nếu thủ tục dù tốt bao nhiêu chăng nữa nhưng con người không tốt thì cũng không giải quyết vấn đề gì.

Do đó, các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương phải lựa chọn và bố trí được cán bộ đúng người đúng việc, đặc biệt những bộ phận liên quan tới doanh nghiệp, người dân thì càng cần phải có cán bộ giỏi chuyên môn và có phẩm chất đạo đức tốt để thực hiện thật tốt khâu này.

Vấn đề chi phí không chính thức, hay còn được gọi là chi phí “qua gầm bàn” là vấn đề xã hội rất quan tâm. Nhưng nếu cán bộ tận tụy với dân, với nước, làm việc với tinh thần tận tụy vì dân thì sẽ không có tình trạng đó xảy ra. Vì vậy, tôi  đồng ý khâu cán bộ rất quan trọng như đại biểu Quốc hội đã nêu.

Thưa Bộ trưởng, Đề án 30  của Chính phủ  đã tạo dấu ấn rất lớn trong cải cách TTHC, nhưng để Đề án đạt được mục tiêu tổng thể, theo ông tới đây chúng ta cần tập trung vào những khâu nào?

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc:  Theo tôi có một số điểm cần chú ý.

Thứ nhất, phải bãi bỏ TTHC không cần thiết như kiến nghị của Chính phủ. Chúng ta mới bãi bỏ được 480 thủ tục, còn lại là  sửa đổi, thay thế, bổ sung hơn 4.146 TTHC. Mặc dù chỉ một số điểm chứ chưa phải tất cả, nhưng rất nhiều luật, nhiều pháp lệnh, nghị định, thông tư của các bộ, ngành phải sửa đổi.

Thứ hai, phải thiết lập được hệ thống công nghệ thông tin tốt để thông tin được nhanh, thúc đẩy công khai hóa, minh bạch hóa TTHC.

Thứ ba, cần bố trí lực lượng cán bộ thật tốt và sự giám sát của nhân dân thật tốt.

Có thể nói thêm, chính quyền các cấp cần quan tâm đặc biệt đối với TTHC, đặc biệt sự giám sát của Quốc hội và HĐND. Do đó, chúng tôi đề nghị việc giám sát tối cao của Quốc hội không chỉ thực hiện lần này mà cần tiếp tục giám sát cả trong kỳ họp Quốc hội XIII tới để  hoạt động giám sát trở thành nền nếp, qua đó thúc đẩy trách nhiệm của các cấp, các ngành trong quá trình thực hiện Đề án .

Những điều đạt được theo tôi mới chỉ là kết quả bước đầu. Vì thế, quá trình cải cách TTHC muốn thành công thì cần đẩy mạnh làm tốt khâu cán bộ cùng với bộ máy giám sát mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.

Làm được như vậy, tôi cho rằng tiến trình cải cách TTHC nói chung sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện hơn.

Thưa Bộ trưởng, xin ông cho biết quan điểm của mình về ý kiến của nhiều đại biểu đề nghị Quốc hội cần sớm xem xét, thông qua việc sửa đổi và ban hành các bộ luật liên quan nhằm đáp ứng yêu cầu đơn giản hóa TTHC để những kiến nghị này sớm đi vào đời sống?

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc: Chúng tôi tán thành những ý kiến này. Để đẩy nhanh tiến trình đơn giản hóa TTHC cần áp dụng phương án “một luật sửa nhiều luật”, một “pháp lệnh sửa nhiều pháp lệnh”, một nghị định sửa nhiều nghị định… Đó chính là cơ sở pháp lý để bãi bỏ các thủ tục không hợp lý, không hợp pháp, gây phiên hà cho người dân và doanh nghiệp đã được kiến nghị sửa đổi.

Hiện vẫn còn nhiều thủ tục đang phải chờ luật, pháp lệnh sửa đổi. Vì vậy, tôi đồng ý với quan điểm của một số đại biểu Quốc hội cần đẩy mạnh cải tiến quy trình xây dựng pháp luật từ Quốc hội; việc ban hành các đạo luật phải cụ thể, không để tình trạng luật chờ thông tư, nghị định hướng dẫn và đặc biệt là phải sửa ngay những điểm bất hợp lý thì cuộc cải cách TTHC mới thành công.





(Theo Chinhphu.vn)