Sat09222018

Last update04:00:00 AM GMT

Quy hoạch tài nguyên nước đảo Phú Quý đến năm 2015, định hướng đến năm 2020

UBND tỉnh Bình Thuận vừa phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Mục tiêu cần đạt được theo quy hoạch là: Bảo đảm có thể khai thác hiệu quả, ổn định, lâu dài nguồn nước trong vùng, trữ lượng khai thác khoảng 9.150 m3/ngày; phân bổ tài nguyên nước hài hòa giữa các ngành, đảm bảo ưu tiên khai thác nguồn nước cho mục đích sinh hoạt, sản xuất công nghiệp có giá trị kinh tế cao.

Trong trường hợp xảy ra hạn hán thiếu nước, đảm bảo đáp ứng cho 100% nhu cầu sinh hoạt, ưu tiên cấp nước sản xuất công nghiệp có giá trị kinh tế cao; quản lý, bảo vệ để bảo đảm lưu lượng, mật độ khai thác không vượt quá giới hạn khai thác của từng vùng, không phát triển và hạn chế tới mức thấp nhất việc khai thác trong vùng hạn chế khai thác; bảo đảm thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước dưới đất cụ thể đối với từng vùng, khu vực để hạn chế đến mức thấp nhất các nguy cơ xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước ngọt ở các tầng chứa nước, đáp ứng tiêu chuẩn nguồn nước cấp cho sinh hoạt, nhất là việc thực hiện các quy định, biện pháp bảo vệ nguồn nước dưới đất trong các hoạt động khoan, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn nước dưới đất, xử lý trám lấp các giếng khoan không sử dụng.

Quy hoạch cũng đã đặt ra nhiệm vụ phát triển tài nguyên nước, trữ nước mưa, nước dưới đất, giảm lượng nước dưới đất thoát ra biển để bổ sung lượng nước sử dụng cho mùa khô và đảm bảo việc khai thác lâu dài, đủ nước cho các giai đoạn phát triển. Lượng nước bổ sung so với hiện tại qua các giai đoạn: Đến năm 2010 bổ sung khoảng 310 m3/ngày, so với năm 2008; đến năm 2015 bổ sung khoảng 1.010 m3/ngày, so với năm 2010; đến năm 2020 bổ sung khoảng 1.600 m3/ngày, so với năm 2015.

(Theo Monre.gov.vn)

VINPEARL Nha Trang: Chủ động nguồn nước ngọt ngay trên Đảo

Hồ chứa nước trữ lượng 1 triệu m3 tại Vinpearl Nha Trang Với việc đưa vào sử dụng hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt công suất 1.000 m3/ngày (vốn đầu tư gần 10 tỷ đồng) và hồ chứa nước mưa có dung tích 1 triệu m3, tổ hợp du lịch và giải trí Vinpearl Nha Trang trên đảo Hòn Tre sẽ có đủ nước ngọt phục vụ cho các hoạt động thường nhật mà không cần nguồn cung cấp từ đất liền.

Hệ thống xử lý nước biển này sử dụng công nghệ và thiết bị nhập khẩu đồng bộ từ Mỹ. Đây là hệ thống xử lý nước thẩm thấu ngược (RO), có độ bền cao, tiết kiệm chi phí hoạt động vì có hệ thống lọc tiền xử lý hỗ trợ. Theo thiết kế này, nước biển trước khi đưa vào hệ thống được đưa qua lối vào của bộ lọc tiền xử lý để loại bỏ tạp chất. Bộ lọc tiền xử lý là một hệ thống gồm 4 bồn lọc sơ bộ, là bộ lọc nhiều lớp, cho phép loại bỏ các hạt có đường kính 20 micron hoặc lớn hơn. Nước biển sau khi qua hệ thống lọc sơ bộ sẽ tới hệ thống lọc tinh, hệ thống lọc này giữ lại những vật chất có kích thước 5 micron hoặc lớn hơn. Sau khi kết thúc giai đoạn tiền xử lý, nước được bơm áp lực vào hệ thống xử lý, đồng thời được tăng áp suất tới mức yêu cầu của màng thẩm thấu ngược trước khi đưa vào thùng chứa màng chịu áp suất. Bên trong thùng chứa màng chịu áp suất, nước sẽ được xử lý để trở thành nước ngọt đạt tiêu chuẩn sử dụng, nước chứa muối (hay còn gọi là nước phế phẩm) được thu hồi quay trở lại thông qua bộ phận thu hồi năng lượng. Nước ngọt sau khi lọc, được đẩy lên bồn chứa nước để dự trữ và sử dụng.

Bên cạnh đó, trong thời gian vừa qua, Vinpearl Nha Trang cũng đã hoàn thành hệ thống hồ chứa nước mưa có dung tích 1.000.000m3 cùng hệ thống xử lý nước mưa thành hệ thống nước đạt tiêu chuẩn sử dụng với tổng mức đầu tư 30 tỷ  VNĐ.

Như vậy, với hai nguồn nước xử lý từ hệ thống lọc nước biển và hồ chứa nước mưa, chỉ sau mùa mưa năm 2010, Vinpearl Nha Trang đã có thể hoàn toàn tự chủ về nguồn nước ngọt cung cấp cho toàn bộ hoạt động của Khu du lịch và giải trí Vinpearl Nha Trang.

Trước đây, mỗi ngày trung bình Khu du lịch và giải trí Vinpearl Nha Trang cần 1.500 m3 nước ngọt và toàn bộ lượng nước này phải được chở từ đất liền bằng xà lan tới đảo Hòn Tre. Theo tính toán của Công ty, việc đưa vào sử dụng 2 hệ thống xử lý nước tại chỗ như hiện nay, giá thành của nước giảm 40% so với giá nước mà Vinpearl Nha Trang đang sử dụng từ nguồn nước máy của thành phố cộng chi phí vận chuyển.

Hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt vừa được lắp đặt thành công tại Vinpearl Nha Trang

Đảo Hòn Tre là hòn đảo lớn nhất Vịnh Nha Trang, tuy nhiên hoàn toàn không có nước ngọt, do đó ngay từ những ngày đầu, chủ đầu tư của Vinpearl Nha Trang đã rất chú trọng đến công tác sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn tài nguyên nước cũng như vấn đề xử lý nước thải, tái sử dụng nước sau sinh hoạt và các vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và liên quan đến nguồn nước nói riêng bằng những công nghệ tiên tiến. Vinpearl Nha Trang đã đầu tư rất lớn cho khâu xử lý nước thải, chất thải và khí thải cacbonic với một dự án xử lý nước thải, chất thải quy mô và tiên tiến, theo đó dự án đã áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất nhằm tránh ô nhiễm. Tổng chi phí đầu tư cho dự án này lên tới trên 3 triệu USD, hiện tại công trình này đang hoạt động hiệu quả. Hệ thống xử lý nước thải của Vinpearl Nha Trang áp dụng công nghệ vi sinh, không sử dụng bất kỳ một loại chất tẩy hóa học nào. Nước thải sau khi được xử lý lại theo các đường ống dẫn tới các khu vực trong Vinpearl Nha Trang để tưới cây. Trên đảo hiện không có nguồn nước ngọt tự nhiên, vì vậy việc Vinpearl Nha Trang xây dựng hệ thống xử lý nước thải để đưa vào tưới cây tại đây là giải pháp tối ưu. Với diện tích 260 ha, các khu vực mà Vinpearl Nha Trang đang khai thác trên đảo Hòn Tre đều được phủ xanh với rất nhiều các loại cây lâu năm, hoa, thảm cỏ..., mỗi ngày, Vinpearl Nha Trang cần khoảng 1.000m3 nước tưới. Chính hệ thống xử lý nước thải mà Vinpearl Nha Trang đầu tư xây dựng đã đáp ứng được 100% lượng nước tưới cho bề mặt cây xanh, thảm cỏ tại đây. Việc này đã góp phần tích cực trong việc phủ xanh các diện tích đất đai mà trước kia chỉ gồm sỏi, đá với bề mặt cây bụi của đảo Hòn Tre, đồng thời đảm bảo gìn giữ môi trường, đảm bảo không thải nước thải độc hại ra vịnh Nha Trang...  

Chính vì vậy, cùng với 2 hệ thống khai thác - xử lý nước sạch tại chỗ vừa hoàn thành, có thể nói Vinpearl Nha Trang đã xây dựng được một quy trình khép kín về nguồn nước với tiêu chí: hiệu quả, tiết kiệm, an toàn và bảo vệ môi trường.

“Bằng việc áp dụng những công nghệ tiên tiến và sử dụng những thiết bị, vật liệu hiện đại có chất lượng đạt các tiêu chuẩn khắt khe về công nghệ lọc nước của Thế giới… Vinpearl Nha Trang đã hoàn thành Dự án một cách nhanh chóng và đảm bảo cho hệ thống hoạt động với chất lượng tốt, trong thời gian lâu dài.. Có thể nói, cùng với hệ thống cáp ngầm vượt biển để hòa lưới điện quốc gia mà Vinpearl Nha Trang đã hoàn thành tháng 6/2009, việc đưa công trình lọc nước biển thành nước ngọt vào sử dụng được đánh giá là thành công lớn trong chiến lược hiện đại hóa hạ tầng, nâng cao khả năng và hiệu quả khai thác Tổ hợp Du lịch - Giải trí Vinpearl Nha Trang” - ông Nguyễn Trọng Hiền, Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Công ty cổ phần Vinpearl cho biết.

(Theo Ngọc Anh - Monre)

  

 

 


 

Khi tài nguyên Trái đất dần cạn kiệt: Thế giới đang “nợ sinh thái”

Các nhà môi trường cảnh báo nước sông Hằng (tiểu lục địa Ấn Độ) bây giờ không thể dùng để ăn uống hay tắm gDân số thế giới tăng nhanh cộng với chủ nghĩa tiêu dùng đang đẩy hành tinh chúng ta vào tình trạng “nợ sinh thái” ngày càng trầm trọng. Không chỉ rừng, năng lượng, đến cả nguồn tài nguyên nước cũng đang dần cạn kiệt. Kết thúc Hội nghị về đa dạng sinh học tại Nhật Bản vừa qua, các nhà nghiên cứu khẳng định, chúng ta chỉ còn cách tìm một hành tinh khác để sinh sống.

Nguy cơ xung đột

Sự suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên đang diễn ra với mức độ nghiêm trọng, trong đó không thể không đau đáu trước nguồn tài nguyên nước đang khô cạn. Quá trình đô thị hóa, hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và biến đổi khí hậu ngày càng gây áp lực nặng nề lên khối lượng và chất lượng nguồn nước.

Cụ thể hơn, 80% nguồn nước ngọt và 2/3 trong tổng số các con sông trên thế giới đang dần cạn nước. Những đợt hạn đang xuất hiện ở châu Âu, tiểu lục địa Ấn Độ, miền Đông Trung Quốc, phía Nam Mexico và khu vực phía Đông dãy Rocky ở Mỹ. Rất nhiều con sông hay hồ nước dần khô cạn vì con người dùng nước để tưới tiêu trong trồng trọt và sản xuất các sản phẩm công nghiệp mà nhờ đó đảm bảo cho cuộc sống. Đó là một nghịch lý vì để duy trì sự sống trước mắt, con người đang hủy hoại tương lai của chính mình.


Theo thống kê của các nhà khoa học, nhu cầu nước trên toàn thế giới sẽ tăng tới 45% trong khi nguồn nước đang cạn kiệt ở mức báo động và ngày càng hiếm dần. Dự báo đến trước năm 2030, có khoảng 60 quốc gia lâm vào tình trạng thiếu nước trầm trọng. Hiện tại trên thế giới có khoảng 1,5 tỷ người (khoảng 1/4 dân số toàn cầu) không có nước sạch và hơn 2 tỷ người không đủ điều kiện vệ sinh, an toàn. Hàng năm, 3,6 triệu người chết vì các căn bệnh do nước ô nhiễm gây ra.


Khi nguồn nước bên trên đã cạn, tất yếu con người sẽ nghĩ ngay đến việc khai thác trữ lượng nước ngầm sâu dưới lòng đất. Song khi dùng hết lượng nước ngầm dự trữ trong lòng đất sẽ làm tăng thêm sự ô nhiễm nước, vì phân bón hóa học trong canh nông, các chất thải của con người và động vật cùng các hóa chất lại thẩm thấu vô lòng đất. Chính vì vậy, Tổ chức Quốc tế Khí tượng toàn cầu từng cảnh báo: “Sự ô nhiễm xâm nhập từ từ là trái bom nổ chậm đang de dọa toàn thể nhân loại”.


Hiện tượng “cầu vượt cung” khiến nhiều nơi trên thế giới, các tập đoàn kinh tế giành cung cấp nước cho cộng đồng. Những công ty tư nhân cho rằng nước còn quan trọng hơn dầu lửa và họ đang kiếm lời song song với việc củng cố quyền lực trong các vấn đề liên quan đến nước sạch (có nghĩa là liên quan đến an sinh của người dân). FAO cảnh báo, trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống trong tình trạng bị thiếu nước. Cho nên không phải ngẫu nhiên các nhà môi trường đưa ra lời cảnh báo thế giới sắp bước vào một cuộc xung đột tranh giành nguồn nước.



(Theo sggp.org.vn (dịch từ Illegal-logging.info, BBC, Global P)


Sông Mekong: Thách thức từ mất rừng và chuyển nước

s1Dòng sông sẽ suy yếu nghiêm trọng, thậm chí sẽ "chết" đi, nếu nó liên tục bị chích mất nước, giống như một cơ thể con người liên tục bị chích máu.
Liên quan đến những thách thức đối với sông Mekong, việc xây dựng các đập thủy điện đã được đề cập khá nhiều [1]. Có ý kiến cho rằng đó còn liên quan đến sự tồn vong của dòng sông. Xin không đề cập thêm trong bài này.

Ít được nói đến nhưng theo tôi quan trọng không kém và gắn kết với các đập, đó là tình trạng mất rừng trong lưu vực và vấn đề chuyển nước ra khỏi lưu vực.


Cái giá mất rừng

Rừng đầu nguồn bị tàn phá là một mối đe dọa nặng nề đối với dòng sông, nhất là ở vùng nhiệt đới. Ai cũng biết, mất rừng kéo theo xói mòn, rửa trôi mà hậu quả là nâng cao đáy các hồ đập, thay đổi địa mạo của lòng sông, chế độ thủy văn của sông và trong một số trường hợp, cả địa mạo của vùng.


Hồ Tonlé Sap là một ví dụ cụ thể. Do nạn phá rừng quanh hồ này trong những thập niên gần đây, đáy hồ mỗi năm được nâng lên từ 10 đến 12 cm, sức chứa của hồ giảm đi tương ứng. Chức năng trữ và điều tiết của hồ sẽ thay đổi khác với trước đây là điều sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn được tình hình mất rừng hiện nay.


Để định lượng cụ thể tình trạng mất rừng, cần tính toán đầy đủ để được 1 MW thủy điện sẽ phải mất bao nhiêu ha rừng cho lòng hồ, cho nhà máy và hạ tầng cơ sở khác, và các hậu quả của sự mất mát này.


Một lãnh đạo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, cho biết chỉ với 25 công trình thủy điện đã và đang được triển khai, tỉnh đã mất hơn 15000ha rừng tự nhiên. Từ đó bài báo đưa ra con số để có 1MW điện phải mất ít nhất 10-16ha rừng tự nhiên [2].


Con số này là bao nhiêu đối với 9 tỉnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) nơi, theo số liệu của Bộ Công thương, đang có tới 393 dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy khoảng 7381MW [3]. Tình trạng lũ lụt ở các tỉnh miền Trung trong những tuần gần đây có nguyên nhân của thời tiết, nhưng chắc chắn có nguyên nhân từ tình hình mất rừng.


Nói gắn kết là vì vậy. Để có đập phải mất rừng. Số đập dày đặc thì sẽ không còn rừng. Lòng hồ bị nâng đáy, công suất giảm so với thiết kế, lượng nước chảy về hồ nhanh gần như tức thì, tần suất xã lũ nhặt hơn, nhà dân và hạ tầng cơ sở bị phá hỏng.


Nếu đập nằm trên vùng bán sơn địa, ngoài mất rừng, còn mất nhiều diện tích đất nông nghiệp và nhiều hộ dân phải tái định cư.


Chuyển nước


Dòng sông sẽ suy yếu nghiêm trọng, thậm chí sẽ "chết" đi, nếu nó liên tục bị chích mất nước, giống như một cơ thể con người liên tục bị chích máu.


Những dự án chuyển nước từ lưu vực của một dòng sông sang lưu vực của một dòng sông khác, và kể cả trong cùng lưu vực, do vậy cần được tính toán, đánh giá các tác động kinh tế, xã hội, môi trường, và cụ thể những thay đổi đối với dòng sông, lưu vực, những mặt được - mất đối với các quốc gia có liên quan khi dòng sông chảy qua nhiều nước.


Từ thập niên 1980 - 1990, Thái Lan đã đề xuất hai dự án chuyển nước: dự án Kok - Ing - Yom - Nan ở vùng Bắc Thái Lan, và dự án Kong - Chi - Mun ở phía Đông Bắc Thái Lan.


Dự án Kok - Ing - Yom - Nan chuyển nước từ hai phụ lưu của sông Mekong, sông Kok và sông Ing, vào sông Yom và sông Nan, hai phụ lưu của sông Chao Praya, nhằm tăng thêm nguồn nước cho đập Sirikit và lượng nước tưới cho miền Trung Thái Lan. Đây là một dự án chuyển lưu vực và sẽ làm thất thoát nguồn nước sông Mekong.


Dự án Kong - Chi - Mun, không chuyển nước ra ngoài lưu vực, mà đưa nước từ sông Mekong vào các hồ chứa hiện có và mới sẽ xây thêm nhằm tưới cho 510000 rai đất nông nghiệp (tương đương 81600 ha) ở vùng Đông Bắc Thái Lan. Lượng nước mất đi và chất lượng nước trả lại cho dòng chính là những mối quan ngại đối với Lào và nhất là Campuchia và Việt Nam.


Chính vì hai dự án này mà Ủy ban lâm thời sông Mekong đã đi vào bế tắc và đã giải thể năm 1992.


Gây lo ngại lớn là dự án đồ sộ chuyển nước Nam - Bắc trên lãnh thổ Trung Quốc với ba tuyến chuyển Đông, Trung và Tây, dự kiến bổ sung 44,8 tỉ m3/năm nước từ sông Trường Giang sang sông Hoàng Hà, sau đó đưa đến Bắc Kinh, Thiên Tân.


Tuyến phía Đông đã được triển khai. Tuyến phía Tây bắt đầu triển khai năm 2010. Còn tuyến phía Tây? và trong 17 tỉ m3/năm từ tuyến này, có chuyển nước từ sông Mekong và sông Salween hay không? Thông tin có được rất ít và không rõ ràng.


Trong quy hoạch ban đầu vào cuối thập niên 1950 dự án định chuyển nước từ năm con sông Nu (Salween), Lancang (Mekong), Tongtian, Yalong, Dadu sang sông Hoàng Hà. Việc chuyển nước như vậy sẽ gây nhiều hậu quả về môi trường và về kinh tế xã hội to lớn cho các nước ở hạ lưu là Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.


Sau đó phương án này không được công khai nhắc đến có thể vì liên quan đến các nước ở hạ lưu. Tuyến phía Tây được thể hiện rất đơn sơ trong hình dưới đây.


Có bao nhiêu đập đã, đang và sẽ được xây dựng trên sông Lancang (Mekong thượng nguồn)? Theo bản đồ của Ủy hội sông Mekong, có 7. Có tài liệu nói đến con số 14. Theo tài liệu đọc được trên mạng meltdownintibet.com thì số đập trên sông Lancang cao hơn nhiều và hầu hết đều đã và đang được xây dựng.


Có cơ sở để nghĩ rằng các thông tin về các đập trong bản đồ trên đây là xác thực, vì: (1) nó đúng với lô-gíc tích nước để chuyển nước; (2) còn có một bản đồ tiếng Trung trùng hợp với bản đồ này.


Như vậy: (1) thách thức từ các đập thủy điện đối với hạ lưu vực sông Mekong không phải chỉ đến từ 7 con đập. Nó còn sang một cấp độ khác vì nguồn nước có cơ bị thất thoát; (2) vấn đề chuyển nước sông Mekong trong dự án chuyển nước Nam-Bắc của Trung Quốc vẫn là thời sự, và đương nhiên là mối quan ngại hàng đầu đối với các quốc gia ở hạ lưu; (3) số đập và việc chuyển nước Mekong cần được làm sáng tỏ.


Phải chăng sự gần kề giữa sông Lancang và sông Jingsa-Yangtsé cùng lúc với mực nước dâng tích lại từ các đập xây dựng trên sông Lancang đã luôn âm ỉ nuôi dưỡng việc thực hiện ý tưởng chỉ đạo từ ban đầu đưa nước sông Lancang (và sông Nu) vào dự án chuyên nước Bắc Nam?


Sáu đề xuất và kiến nghị


1. Quy hoạch tổng thể phát triển vùng (hay lưu vực sông), các quy hoạch phát triển ngành (nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, du lịch, ...) và tiểu vùng (hay quốc gia trong lưu vực) cần phải hài hòa với nhau. Hãy để dòng sông "sống" với vùng (lưu vực), với con người và phục vụ con người.


2. Ngăn chặn nạn phá rừng, nhất là rừng đầu nguồn là một nhiệm vụ bức xúc của các quốc gia trong lưu vực.


3. Lancang-Mekong là một con sông quốc tế. Các dự án chuyển nước phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và đầy đủ. Vấn đề xây dựng đập cũng vậy. Các báo cáo tác động môi trường cho toàn bộ lưu vực, trong thời gian dài là bắt buộc. Tốt nhất là đặt trong một quy hoạch tổng thể lưu vực sông.


4. Khai thác tài nguyên nước tại một quốc gia trong lưu vực phải đi đôi với trách nhiệm đối với tất cả các thay đổi trong toàn lưu vực do việc khai thác này gây ra. Quyền lợi của một nước trong lưu vực không thể tách rời quyền lợi của tất cả các nước khác cùng chia sẻ lưu vực.


Hợp tác để cùng phát triển bền vững giữa tất cả các nước trong lưu vực là cách ứng xử đúng đắn nhất.


5. Các số liệu khí tượng thủy văn trong lưu vực sông Lancang - Mekong phải được chia sẻ giữa các nước trong lưu vực. Chế độ vận hành của các đập cũng vậy. Những thông tin này là cần thiết cho việc quản lý các rủi ro trong toàn lưu vực.


6. Ủy ban quốc gia của Việt Nam trong Ủy hội sông Mekong, gắn trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của đất nước, theo nguyên tắc Hợp tác để cùng phát triển bền vững, với nhiệm vụ báo cáo với Chính phủ và qua Chính phủ, báo cáo với Quốc hội, mặt khác thông cho rộng rãi các nhà khoa học các thông tin liên quan đến tài nguyên nước và việc sử dụng nó trong lưu vực sông Mekong, để được thêm sư hậu thuẩn cho tiếng nói của mình tại diễn đàn quốc tế.



 
[1] Một cuộc Hội thảo Đối thoại chính sách: Phát triển đập thuỷ điện trên sông Mekong và thách thức đối với Việt Nam" với đại biểu Quốc hội Khóa XII vừa được Trung tâm Con người và Thiên nhiên và Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 7.11.2010.

[2] Bài "1MW điện giá bao nhiêu?" Tuổi Trẻ cuối tuần, số ra ngày 05.10.2010.


[3] Báo cáo của Bộ Công thương gửi Thủ tướng Chính phủ tháng 3-2010 về kết quả rà soát các dự án thủy điện và việc vận hành các đập thủy điện



 

(Theo GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Trân)

Lũ lụt không phải do các hồ thuỷ điện

Theo ông Hoàng Hữu Thận, Giám đốc Trung tâm Tư vấn và phát triển điện: “Các nhà máy thuỷ điện có những hạn chế, song không làm xấu hơn tác hại của lũ, mà chỉ có thể tham gia vào quá trình cắt lũ, hoặc không”

Tại hội thảo “Công tác vận hành các hồ chứa thuỷ điện” sáng 13/11 ở Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết, với tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay, 32 dự án thuỷ điện vừa và lớn với tổng công suất lắp máy 7.303,6 MW và 86 nhà máy thuỷ điện nhỏ với tổng công suất lắp máy khoảng 474,8MW đã đóng góp cho hệ thống điện quốc gia khoảng 35% công suất.

Ngoài mục tiêu phát điện, các nhà máy thuỷ điện còn có nhiệm vụ cắt và chống lũ cho hạ du trong mùa mưa bão; đồng thời cung cấp nước cho hạ du phục vụ nhu cầu dân sinh trong mùa kiệt. Quy trình vận hành các hồ chứa thuỷ điện được xây dựng và ban hành căn cứ vào nhiệm vụ công trình và phù hợp với quy hoạch lưu vực sông và quy hoạch bậc thang thuỷ điện. Đối với 32 hồ chứa thuỷ điện hiện đã ban hành đầy đủ quy trình vận hành và 3 quy trình vận hành liên hồ chứa.

Chưa phát huy được tác dụng ngăn lũ

Báo cáo của Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương tại hội thảo khẳng định:  “Với 3 nhiệm vụ chính là chống lũ, cấp nước và phát điện, thuỷ điện Việt Nam đã phát huy tốt vai trò của mình trong nền kinh tế”.

Tuy nhiên báo cáo cũng cho biết, trong thời gian qua, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tình hình mưa lũ, đặc biệt tại khu vực miền Trung có diễn biến phức tạp, đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quy trình vận hành, công tác

Hiện tại Việt Nam đã vận hành 32 dự án thuỷ điện vừa và lớn, 86 dự án thuỷ điện nhỏ với tổng công suất lắp máy đạt vào khoảng gần 8.000MW, đóng góp cho hệ thống điện quốc gia 35% công suất.

ngăn, xả lũ của các hồ chứa thuỷ điện.

Đứng trước tình hình mưa lũ diễn biến thất thường và phức tạp, công tác dự báo chưa kịp thời, lượng nước đầu nguồn về lớn và nhanh vượt quá mức thiết kế, sức chứa của các hồ chứa thuỷ điện có giới hạn làm cho nhiều nơi thuỷ điện không phát huy được tác dụng ngăn lũ.

Các đại biểu nêu kiến nghị với Bộ Công thương, các cơ quan có liên quan cần làm tốt hơn nữa công tác dự báo lũ, tránh hiện tượng bất ngờ không ứng phó kịp của các nhà máy, hồ thuỷ điện. Ngoài ra cần làm tốt việc quy hoạch dân cư tại khu vực hạ lưu đang phát triển phổ biến, gây cản trở dòng chảy, ảnh hưởng đến công tác thoát lũ…

Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng lưu ý các nhà máy thuỷ điện cần tuân thủ nghiêm ngặt hơn nữa công tác vận hành hồ chứa thuỷ điện, cần phối hợp chặt chẽ, trao đổi thông tin với chính quyền địa phương, với các cơ quan liên quan trong việc ngăn, xả lũ tránh để xảy ra những thiệt hại đáng tiếc.

Nhưng không làm xấu hơn tác hại của lũ

Sau các đợt lũ lụt vừa qua tại miền Trung, có thông tin dư luận cho rằng, hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã làm lũ lụt diễn biến phức tạp và khốc liệt hơn. Tuy nhiên, khẳng định trước báo chí tại cuộc hội thảo, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Cao Đức Phát đã khẳng định: "Không hoàn toàn như vậy bởi các hồ chứa vẫn phải giữ lại một lượng nước nhất định".

“Khi mưa nhỏ, lượng nước mưa được giữ lại nên hạ du không có lũ lụt, nhưng khi có mưa lớn, các hồ chứa không thể giữ lại toàn bộ lượng nước mà chỉ có thể giữ lại một lượng nhất định. Vì vậy, các nhà máy thủy điện buộc phải để cho nước chảy qua hồ xuống hạ du”- Bộ trưởng Cao Đức Phát nói.

Ông Bùi Minh Tăng, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Trung ương khẳng định, nguyên nhân gây ra lũ lụt những năm gần đây không phải do các hồ thuỷ điện.

Ông Hoàng Hữu Thận, Giám đốc Trung tâm Tư vấn và phát triển điện- Hội Điện lực Việt Nam, cũng cho rằng: “Các nhà máy thuỷ điện có những hạn chế, song không làm xấu hơn tác hại của lũ, mà chỉ có thể tham gia vào quá trình cắt lũ, hoặc không”.

Theo ông Thận, các dự án thủy điện được dựa trên 4 tiêu chí, trong đó có tiêu chí đáp ứng nhu cầu thủy lợi, cấp thêm nước mùa cạn và cắt đỉnh lũ mùa mưa. Nhưng muốn có chức năng này, quy trình vận hành hồ chứa phải quy định mức nước thượng lưu, tức mức nước hồ phải dự trữ một dung tích phòng lũ trong suốt thời gian lũ lớn trên lưu vực có khả năng xuất hiện.

Trong chính sách năng lượng quốc gia của Việt Nam, thủy điện được chọn là nguồn điều tần lý tưởng, kinh tế. Hồ chứa lớn của các nhà máy thủy điện có ưu việt về thủy lợi, cấp nước bổ sung cho hạ du vào mùa cạn và cắt lũ khi có lũ lớn. Chẳng hạn, hồ Thủy điện Hòa Bình với dung tích 9 tỷ m3, cho phép cắt đỉnh lũ cực đại ở Hà Nội cỡ 1m. Nhờ vậy, giải quyết khá cơ bản lũ hạ du sông Hồng.

Tuy nhiên, theo ông Thận, khi xét duyệt quy trình điều tiết hồ chứa, Bộ Công Thương cần xem xét hiệu quả thủy lợi, trong đó phải rà soát kỹ điều kiện hồ chứa tham gia cắt đỉnh lũ. Bộ Công Thương cần ban hành quy trình mẫu, trong đó có điều khoản này, bao gồm cả các hướng dẫn tính toán. Như vậy, nhà máy thủy điện sẽ càng nâng cao hiệu quả kinh tế và hạn chế tác hại của lũ trên lưu vực.

Tại hội thảo, hầu hết các đại biểu đều khẳng định tác dụng của thuỷ điện, hồ thuỷ điện trong việc phòng, chống lũ, điều tiết dòng chảy là vô cùng quan trọng. Thực tế trong nhiều năm qua, các hồ chứa đều phát huy tốt công tác chống lũ vào mùa mưa, cấp nước vào mùa khô, phát điện đạt công suất tối đa.

Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng cho biết, trong thời gian tới, Bộ sẽ nghiên cứu, đề xuất trình Chính phủ phê duyệt quy trình vận hành hồ chứa thuỷ điện cho tất cả các công trình thuỷ điện trên toàn quốc. Bộ sẽ giao cho Cục Kỹ thuật An toàn và Môi trường Công nghiệp của Bộ thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc phòng chống lũ bão tại các hồ thuỷ điện, tổ chức diễn tập thường xuyên.

Bên cạnh đó, Thứ trưởng cũng đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn quốc gia cần làm tốt hơn nữa công tác dự báo tình hình mưa lũ, rà soát và xem lại tính hiệu quả trong việc phòng chống lũ của các dự án thuỷ điện đang và sẽ được xây dựng trong thời gian sắp tới./.

 

(Theo DWRM)

Bình Dương: 9 doanh nghiệp xả nước thải ra kênh Ba Bò

Kênh Ba Bò bị ô nhiễm nặngTình trạng ô nhiễm kênh Ba Bò kéo dài thời gian qua đã gây ảnh hưởng, đời sống người dân ven sông thuộc quận Thủ Đức – TPHCM và các huyện Dĩ An, Thuận An - tỉnh Bình Dương.
Kết quả thị sát của ngành chức năng tỉnh Bình Dương mới đây cho thấy, vẫn còn 9 doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Sóng Thần 1 và 2 ở huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương chưa đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung mà xả trộm nước thải chưa xử lý vào hệ thống nước mưa chảy trực tiếp ra kênh Ba Bò.

Đặc biệt, tại huyện Thuận An, địa phương nằm ở hạ lưu của kênh, người dân luôn phải hít thở không khí hôi thối ô nhiễm do tình trạng xả thải bừa bãi này gây ra.

Tại tuyến cống thoát nước mưa của Khu Công nghiệp Sóng Thần vẫn bị ô nhiễm chất hữu cơ nặng, vượt ngưỡng cho phép từ 3,4 - 7,2 lần. Các ngành chức năng đã có văn bản kiến nghị với UBND tỉnh Bình Dương để tiếp tục giám sát, phát hiện xử lý các doanh nghiệp vi phạm môi trường./.








(Theo VOV)

TP. Hồ Chí Minh: Hội thảo Tài nguyên nước với lĩnh vực truyền thông

Đại diện Cơ quan phát triển Bỉ, Cố vấn trưởng dự án CAPAS Martin Junker tại Hội thảoNgày 10/11/2010 tại TP.HCM, Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên & Môi trường) và Cơ quan phát triển Bỉ đã phối hợp tổ chức buổi Hội thảo Tài nguyên nước (TNN) với lĩnh vực truyền thông.

Thông qua dự án Nâng cao năng lực đánh giá và quản lý TNN Việt Nam (VN) - CAPAS, Hội thảo mong muốn thiết lập, tạo cơ hội cho giới truyền thông tiếp cận với các thông tin, kiến thức về TNN, đồng thời tăng cường sự tham gia của các kênh thông tin đại chúng trong công tác tuyên truyền về TNN thông qua việc giới thiệu, phát động Cuộc thi sáng tác kịch  bản phim về TNN lần thứ nhất năm 2010.

Phát biểu tại Hội thảo, Phó Cục trưởng Cục Quản lý TTN, Giám đốc dự án CAPAS  Lê Hữu Thuần cho biết: theo kết quả đánh giá tổng quan của ngành nước VN, VN được xếp vào nhóm quốc gia có nguồn TNN trung bình trên thế giới, tuy nhiên TNN VN đang đứng trước nguy cơ thiếu nước do những tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gia tăng dân số và đặc biệt là biến đổi khí hậu. Sự phân bố không đều theo không gian (các vùng miền) và thời gian (các mùa trong năm) cùng với những hạn chế về nguồn lực là các thách thức lớn đối với công tác quản lý TNN của VN. Trong thời gian qua, TTN ngày càng được quan tâm, nhận thức đầy đủ hơn trên toàn thế giới và ở VN. Để tăng cường công tác quản lý TNN, Bộ Tài nguyên & Môi trường đã kiến nghị Cơ quan phát triển Bỉ hỗ trợ thực hiện dự án CAPAS với mục tiêu tổng thể của dự án là Tăng cường thể chế và nâng cao năng lực của các cơ quan Trung ương và địa phương trong lĩnh vực TNN nhằm hỗ trợ công tác điều tra và quản lý TTN ở cấp quốc gia và địa phương, phục vụ hiệu quả các Mục tiêu phát triển quốc gia (VDGs). Theo đó, một  trong những mục tiêu cụ thể của dự án là Nâng cao nhận thức cộng đồng về TNN, để đạt được mục tiêu này, sự tham gia tích cực của giới truyền thông trong công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức, cách sử dụng, ứng xử đối với TNN là rất cần thiết.

Đại diện Cơ quan phát triển Bỉ, Cố vấn trưởng dự án CAPAS Martin Junker cho biết: Quản lý TTN không chỉ là mối quan tâm của VN mà còn là mối quan tâm hàng đầu của cả thế giới. Năm 1996, Hội đồng Nước Thế giới đã được thành lập nhằm giải quyết các mối quan tâm của cộng đồng thế giới về TNN. Hội đồng Nước Thế giới đã tổ chức các diễn đàn nước, triển lãm ảnh về nước thế giới…và rất nhiều sự kiện lớn đã diễn ra trên thế giới về nước cho thấy rõ giá trị của nước, để các quốc gia trên thế giới có biện pháp quản lý, bảo vệ TNN, sử dụng nguồn nước có hiệu quả, chia sẻ TNN… để  cùng phát triển bền vững.



(Theo tainguyenmoitruong.com)