Wed06202018

Last update04:41:21 AM GMT

Hoạt động của Trung tâm

Tháng 8, lên công trường tìm kiếm nguồn nước vùng Đông Bắc - Bài 1: Về miền đất khát

vv160Đoàn thực địa tại Lỗ khoan CT7Đoàn chúng tôi gồm đại diện  một số Vụ chức năng thuộc Bộ TN & MT, Trung tâm Quy hoạch & điều tra tài nguyên nước (QH &ĐTTNN), Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Bắc… đến với công trường-nơi các đơn vị trực thuộc Liên đoàn QH &ĐTTNN miền Bắc đang thi công các lỗ khoan (LK) cuối cùng của Đề án “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất (NDĐ) khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang” đúng vào dịp cả nước tưng bừng kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9.

           Hành trình lên Mèo Vạc

  Con đường từ Hà Nội lên tới Mèo Vạc (Hà Giang) khoảng 500 cây số, nhưng chỉ có non nửa đường xe đi lại êm thuận, còn toàn là đèo cao, dốc đứng, những con đường nhỏ lở lói, quanh co, uốn khúc như rắn lượn. Bù vào đó, nơi đây được thiên nhiên ban tặng những bức tranh hùng vĩ với núi non trùng điệp, những mái nhà lô xô tỏa khói lam chiều dưới các thung lũng xanh màu cây lá, những dãy núi đá tai mèo đen sẫm cao sừng sững được tô điểm với những cây ngô đã ngả màu vàng. Thế mới biết bà con các dân tộc nơi đây phải canh tác cực nhọc, chịu đựng bao gian khó mới có đựợc bát cơm, manh áo! Cảm thông hơn với những người đi tìm nguồn nước cho vùng sơn cước xa xôi, anh em bảo, chỉ riêng việc thuê chuyên chở các thiết bị dụng cụ khoan máy lên Mèo Vạc, có xe thuê từ Hải Dương lên đã phải bỏ cuộc giữa đường vì ngại đường xa, núi đá gập ghềnh, nhiều rủi ro.

                Tìm nguồn nước cho vùng khát

 Ông Phạm Quý Nhân, Phó Giám đốc Trung tâm QH & ĐT TNN cho biết: Đề án nước Mèo Vạc (pha 1) được tiến hành từ những năm 2004; kết quả đã tìm ra được nguồn nước ngầm với lỗ khoan tại xã Pả Vi. Chính vì thế, pha 2 của Đề án được triển khai theo Quyết định của Bộ TN & MT. Mèo Vạc nằm trên khu vực cao nguyên đá Đồng Văn cực kỳ khan hiếm nước, nguồn nước mặt chủ yếu là sông Nho Quế, địa hình phân cắt, có sự chênh lệch lớn về cao độ giữa nơi cư dân sinh sống với thung lũng sông tới 500 m. Chất lượng nước mặt và lưu lượng không ổn định nên việc khai thác bị hạn chế. Từ năm 2000 đến 2006, Trường Đại học Khoa học tự nhiên với các phương pháp khác nhau để tìm kiếm NDĐ cho khu vực thị trấn Mèo Vạc;  Trường Đại học Mỏ- Địa chất Hà Nội thực hiện đề tài Nghiên cứu về nước kasrt vùng Đông Bắc, trong đó có huyện Mèo Vạc và thị trấn cùng tên nhằm tìm kiếm NDĐ. Cả hai đề tài đã có những đóng góp nhất định cho công tác tìm kiếm thăm dò nguồn NDĐ. Tuy nhiên, những công trình thăm dò cụ thể, tìm kiếm để khai thác nước chưa đạt kết quả như mong muốn. Ông Tống Ngọc Thanh, Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH &ĐT TNN miền Bắc cho rằng: Tài nguyên nước là tiền đề để bà con các dân tộc vùng biên ải yên tâm định cư, sinh sống. Cách đây 3 năm, thị trấn Mèo Vạc đã đầu tư hơn 7 tỉ đồng để sử dụng nguồn nước mặt (mó nước), nhưng lưu lượng chỉ đạt 0,5 lít nước/giây, đáp ứng phần rất nhỏ nhu cầu nước cho sinh hoạt của bà con. Về mùa khô, nguồn nuớc bị suy giảm và cạn kiệt; tới đây chỉ thấy núi đá tai mèo sẫm một màu đen. Người dân đã nghèo lại phải bỏ ra 40.000 đồng để mua một can nước chừng 20 lít dùng trong sinh hoạt hàng ngày.  Đề án “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước duới đất khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang” được triển khai, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế xã hội ở vùng biên giới Đông Bắc này, giúp bà con các dân tộc yên tâm định cư, sinh sống. Hiện Đề án đang được các đơn vị của Liên đoàn khẩn trương thi công các lỗ khoan cuối cùng, đo karota phân tích địa tầng, kết cấu lỗ khoan và bơm nước thí nghiệm, phân tích các mẫu nước nhằm đánh giá trữ lượng, chất lượng NDĐ cung cấp cho thị trấn. Đề án sẽ kết thúc vào cuối năm nay.Chuyến đi thực địa này của Đoàn với sự tham gia của các vụ chức năng thuộc Bộ, Sở TN & MT tỉnh Hà Giang nằm trong chương trình kiểm tra các đề án của Trung tâm hằng năm nhằm xem xét tiến độ, chất lượng các hạng mục còn lại; từ đó có hướng để các lực lượng thi công đảm bảo tiến độ và mục tiêu của toàn Đề án.

 

 (Theo Monre.gov.vn)

 

 

 

Nguồn gốc ô nhiễm Asen và Amoni trong nước ngầm trên địa bàn Hà Nội

Nuoc_nhiem_AsenNguồn nước nhiễm Asen (Ảnh minh họa, nguồn Internet)Trong thời gian vừa qua, nhiều báo đài Trung Ương và Hà Nội có đăng tin về ô nhiễm Asen và Amoni trong nước ngầm trên địa bàn Hà Nội. Đây là một vấn đề đã được các cấp, các ngành và người dân sống trên địa bàn Thủ Đô quan tâm. Nhiều nhà khoa học đã tiến hành các công trình nghiên cứu, đánh giá hiện trạng, mức độ ô nhiễm trong các tầng chứa nước và mức độ phơi nhiễm trên cơ thể người dân ở một số địa bàn. Tuy nhiên, nghiên cứu về nguồn gốc gây ô nhiễm Asen và Amoni trong nước ngầm còn nhiều hạn chế

Để có cái nhìn khách quan và bản chất của các nguồn ô nhiễm này, chúng tôi xin giới thiệu công trình nghiên cứu giai đoạn 2007 - 2008 “Nguồn gốc và sự phân bố Amoni và Asen trong các tầng chứa nước Đồng bằng sông Hồng” do Quỹ nghiên cứu SIDA (Thụy Điển) tài trợ. Đề tài có sự hợp tác của GS. Gunnar Jacks của trường Đại học Hoàng gia Thụy Điển (KTH), TS. Jenny Norman, TS. Hakan Rosqvist của Viện Địa kỹ thuật Thụy Điển (SGI), TS. Đặng Đức Nhận của Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân Việt Nam (INST).

Những kết quả chính của đề tài có thể tóm tắt như sau:

1. Hàm lượng As tổng số, As5+ và As3+ phân bố trong tầng Holocene với hàm lượng lớn hơn trong tầng Pleistocene.

2. DOC trong nước ngầm khu vực nghiên cứu ngoài nguồn gốc được tạo thành từ sự phân hủy sinh học các vật liệu hữu cơ (NOM) trong trầm tích, mà nó còn được hình thành từ hệ thống phân hữu cơ từ sinh hoạt của con người (septic) và động vật, từ hệ thống nước thải của thành phố Hà Nội có chứa nhiều hợp chất hữu cơ và có thể từ hoạt động nông nghiệp. DOC không chỉ là tác nhân hỗ trợ tạo môi trường khử để giải phóng As ra khỏi Hfo mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho các chủng vi sinh vật, kích thích quá trình khử hoà tan các Hfo di chuyển As vào nước ngầm. Và như vậy, quá trình giải phóng và di chuyển của As được quyết định bởi sự có mặt của DOC trong nước ngầm.

3. Khử hòa tan Hfo bởi DOC và phân hủy sinh học các hợp chất DOC là hai cơ chế chính để giải thích sự có mặt với hàm lượng cao của As trong nước ngầm. Song không thể loại trừ khả năng hoặc/và bicacbonat được tạo thành cũng tham gia thay thế As hoặc/và là tác nhân duy trì sự giải phóng As do tạo thành kết tủa với Siderite.

4. Hàm lượng amoni cao trong nước ngầm vùng nghiên cứu có nguồn gốc là sự pha trộn bởi nguồn gốc tự nhiên (từ sự phân hủy vật liệu hữu cơ trong đất) và nguồn gốc nhân tạo (từ nguồn phân hữu cơ của các hệ thống vệ sinh, từ các hệ thống nước thải và có thể là từ nguồn phân bón của các hoạt động nông nghiệp).

Hiện nay, các chương trình Hợp tác nghiên cứu về nguồn gốc ô nhiễm Asen giữa các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tư nhiên và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước với các nhà khoa học Đan Mạch (VietAS 2004 -2012) và Thuỵ Điển (AmoAS 2008-2012) về nguồn gốc ô nhiễm Amoni (AmoAS 2008-2012) đang tiếp tục được triển khai. Những kết quả nghiên cứu tiếp theo sẽ được chúng tôi phổ biến rộng rãi đến bạn đọc. Những số liệu, sản phẩm của đề tài sẽ có ích cho các cơ quan chức năng trong việc quản lý và khai thác nước ngầm khu vực Hà nội nói riêng và vùng đồng bằng sông Hồng nói chung một cách hợp lý và khoa học.

Độc giả quan tâm tới vấn đề này, có thể download đề tài " Nguồn gốc và sự phân bố Amoni và Asenic trong các tầng chứa nước đồng bằng sông Hồng" do PGS.TS Phạm Quý Nhân - Phó giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước làm chủ nhiệm theo Link sau:

http://cwrpi.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=doc_download&gid=207&Itemid=17&lang=vi

 

 

 

(PGS.TS Phạm Quý Nhân - PGĐ TT Quy hoạch và Điều tra TNN)

Góp ý bản dự thảo Thông tư quy định Định mức kinh tế kỹ thuật và thông tư quy định về kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước

Căn cứ Quyết định số 96/QĐ - BTNMT ngày 19 tháng 01 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về phê duyệt Chương trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

Căn cứ Quyết định số 1405/QĐ-BTNMT ngày 28 tháng 8 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về Điều chỉnh Chương trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 thuộc phạm vị quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Đến nay, hai thông tư (trong số 5 thông tư) đã xây dựng xong bao gồm “Thông tư quy định về Định mức kinh tế - kỹ thuật quan trắc và dự báo tài nguyên nước” và “Thông tư quy định về kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước dưới đất”.

Để có thêm các cơ sở để nghiên cứu, hoàn thiện Dự thảo Thông tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin đăng tải Dự thảo hai Thông tư để các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp ý kiến.

Ý kiến đóng góp xin gửi về Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước, Số 93/95 Phố Vũ Xuân Thiều- Phường Sài Đồng - Quận Long Biên - Thành phố Hà Nội.

Mọi ý kiến đóng góp sẽ đuợc chuyển đến cơ quan soạn thảo để nghiên cứu, tiếp thu và chỉnh lý truớc khi ban hành.

Quý bạn đọc quan tâm có thể download theo Link sau:

Thông tư Quy định kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước dưới đất:

http://cwrpi.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=doc_download&gid=206&Itemid=17&lang=vi

Thông tư Quy định định mức kinh tế - kỹ thuật công tác quan trắc và dự báo tài nguyên nước:

http://cwrpi.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=doc_download&gid=205&Itemid=17&lang=vi


 

 

Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước xin trân trọng cảm ơn!



(CWRPI)

Kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2012

Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước - Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã tổng hợp kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2012. Chi tiết mọi người có thể download và tham khảo tại đây

 

(CWRPI)

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG

Trung tâm Quan trắc và Dự báo Tài nguyên nước là đơn vị trực thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước cần tuyển kỹ sư với các yêu cầu như sau:

1.Vị trí tuyển : trưởng phòng Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước mặt

2. Mô tả công việc: quản lý điều hành phòng:

- Chỉ đạo kiểm tra đánh giá chất lượng tài liệu quan trắc tài nguyên nước mặt, tài liệu chỉnh lý, chỉnh biên;

- Chủ trì khảo sát xác định vị trí xây dựng điểm quan trắc tài nguyên nước mặt;

- Đề xuất kế hoạch, chương trình quan trắc hàng năm tại các trạmquan trắc tài nguyên nước mặt;

- Có hiểu biết về dự báo thủy văn.

3. Yêu cầu:

- Tốt nghiệp đại học chuyên ngành thủy vănít nhất 05 năm kinh nghiệm về quan trắc thủy văn, chỉnh lý, chỉnh biên tài liệu,...

- Thành thạo vi tính: tin học văn phòng, đồ họa (Auto-Cad, mapinfo,..), các phần mềm dự báo liên quan.

- Có khả năng quản lý điều hành công việc của một nhóm

- Tuổi từ 25 đến 45.

- Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh (chứng chỉ B trở lên)

- Sức khỏe tốt, trung thực, chăm chỉ, cẩn thận, nhanh nhẹn, có trình độ chuyên môn, đoàn kết trong công việc.

+ Hồ sơ dự tuyển:

-         Đơn xin dự tuyển (01 bản)

-         Sơ yếu lý lịch có chứng thực của địa phương (02 bản)

-         Văn bằng, chứng chỉ, hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân (bản sao có xác nhận sao y bản chính)

-         Giấy chứng nhận sức khỏe (01 bản – có dán ảnh)

Người dự tuyển trực tiếp nộp hồ sơ tại: Trung tâm Quan trắc và Dự báo TNN, số 10 ngõ 42 Trần Cung, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội.

Mọi chi tiết liên hệ: Phòng Nghiệp vụ Tổng hợp – Trung tâm quan trắc và Dự báo TNN; Điện thoại (04)3.7558782.

Hạn cuối nộp Hồ sơ:15/10/ 2012.

Hồ sơ không trúng tuyển, không trả lại.

Trung tâm Quy hoạch & Điều tra TNN phấn đấu hoàn thành chất lượng và đúng tiến độ các nhiệm vụ, đề án năm 2012

vv137Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai phát biểu chỉ đạo tại buổi họp sơ kếtSáng 20/7, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai kế hoạch nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2012 của Trung tâm Quy hoạch & Điều tra TNN. Đến dự sơ kết của Trung tâm còn có đại diện các Vụ chức năng.

Đến thời điểm này, Trung tâm được giao 19 nhiệm vụ điều tra, 1 nhiệm vụ quy hoạch, 1 nhiệm vụ quan trắc TNN, 14 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, 1 nhiệm vụ đối ứng dự án ODA. 6 tháng đầu năm, được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Bộ, đặc biệt là Thứ trưởng phụ trách, Trung tâm đã chỉ đạo các phòng ban chức năng, các đơn vị trực thuộc thực hiện các nhiệm vụ đúng kế hoạch giao. Thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, các Quyết định, Chỉ thị, ý kiến chỉ đạo của Bộ. Công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Trung tâm với các đơn vị đã sâu sát, kịp thời phát hiện các khó khăn để tháo gỡ. Duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Cục Quản lý TNN, Văn phòng Ủy ban sông Mê Công VN, các đơn vị có liên quan trong Bộ và ngoài Bộ để thực hiện nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề chuyên môn. Nhìn chung, công tác thi công các hạng mục công việc của các nhiệm vụ điều tra đánh giá TNN tuân thủ đúng quy trình quy phạm kỹ thuật, chất lượng các tài liệu đảm bảo yêu cầu của dự án. Việc triển khai thực hiện các dự án, đều án bám sát mục tiêu, kế hoạch được phê duyệt, nhất là các đề án quan trọng như: Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất tầng Neogen vùng TP.Hà Nội; Điều tra, đánh giá chi tiết TNNDĐ khu vực thị trấn Mèo Vạc (Hà Giang); Điều tra, đánh giá NDĐ các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận; Đánh giá nguồn NDĐ vùng Đức Phổ (Quảng Ngãi)… Về nhiệm vụ quan trắc TNN, Trung tâm đã tiến hành thường xuyên, liên tục, tuân thủ quy trình, quy phạm hiện hành đối với công tác quan trắc NDĐ và nước mặt (NM); thường xuyên tổng hợp, hiệu chỉnh các số liệu quan trắc hàng tháng từ các đơn vị trực thuộc, biên soạn và xuất bản đặc trưng TNMT nuớc dưới đất 3 vùng Bắc bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên, dự báo kết quả quan trắc năm 2011 gửi đến các cơ quan quản lý TNN và cơ quan thông tin đại chúng. Đang tiến hành ra soát hiện trạng các trạm quan trắc TNNM để triển khai  xây dựng bổ sung.
Kế hoạch 6 tháng cuối năm của Trung tâm là đẩy nhanh tiến độ thi công các đề tài, các nhiệm vụ nhằm hoàn thành mục tiêu kế hoạch năm 2012 có chất lượng và đúng tiến độ, tiếp tục rà soát nhiệm vụ chuyển tiếp, đề xuất các nhiệm vụ mở mới, chuẩn bị tốt cho công tác nghiệm thu ở các đơn vị trực thuộc phục vụ công tác nghiệm thu các nhiệm vụ năm 2012 cuả Hội đồng nghiệm thu Trung ương. Chỉ đạo thực hiện đúng tiến độ giai đoạn 2 Dự án “ Tăng cường năng lực quy hoạch và điều tra tài nguyên nước ngầm tại các khu đô thị” có chất lượng và hiệu quả.
Phát biểu chỉ đạo, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai khẳng định, lãnh đạo Bộ và các Vụ có liên quan luôn quan tâm  tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để Trung tâm thực hiện các nhiệm vụ nhằm ổn định và phát triển. Trung tâm đã cố gắng đổi mới trong công tác quản lý, điều hành nên đã tạo dựng những kết quả đáng khích lệ thời gian qua, nhất là trong lĩnh vực hợp tác quốc tế. Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ năm 2012, Trung tâm cần năng động hơn trong việc đề xuất, tìm kiếm dự án, bám “luồng công việc” và tìm cách “tự chống lưng” là chính. Cần rà soát lại các đơn vị để bố trí theo chức năng, nhiệm vụ được giao cho phù hợp và hiệu quả. Trong hợp tác quốc tế cố gắng thuyết phục đối tác hỗ trợ đầu tư các dự án nhằm đạt hiệu quả cao hơn. Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá những giá trị sản phẩm của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao uy tín của ngành TNN; từ đó tranh thủ sự quan tâm, ủng hộ của các cơ quan có thẩm quyền, các địa phương và cả xã hội… đối với lĩnh vực TNN.
 vv138
vv139

 

 

(Theo Monre.gov.vn)

 

 

Đề án “Điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam Bộ- Pha 3”: Đưa nước sạch về các vùng sâu Nam Bộ

vv135Ông Phạm Văn Giắng - Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH & ĐTTNN miền NamĐồng bào các dân tộc và chiến sĩ ở các vùng sâu, vùng xa thuộc 8 tỉnh Nam Bộ đang hồ hởi với niềm vui được dùng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày-mong nuớc từ bao đời nay của họ đã thành hiện thực. Chính quyền các cấp, các ngành những nơi này có cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển Kinh tế- Xã hội- An Ninh- Quốc phòng, làm khởi sắc nhiều vùng nông thôn xa xôi và biên ải của Tổ quốc. Trong niềm vui đó có đóng góp đáng kể của CBCNV Liên đoàn Quy hoạch Điều tra tài nguyên nước (QH & ĐTTNN) miền Nam (thuộc Trung tâm QH & ĐTTNN) với sự thành công của đề án “ Điều tra nguồn nước dưới đất (NDĐ) vùng sâu Nam Bộ- Pha 3”.

Trong câu chuyện với phóng viên báo Tài nguyên & Môi trường, ông Phạm Văn Giắng, Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Nam cho biết: Để phát huy những kết quả đạt được ở pha 1 và pha 2 đề án “Điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam Bộ”,dưới sự chỉ đạo của Bộ TN &MT, Cục ĐC&KS VN, Trung tâm QH & ĐTTNN, Liên đoàn QH & ĐT TNN Miền Nam đã triển khai thi công đề án “Điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam Bộ - Pha 3” nhằm tiếp tục điều tra nguồn NDĐ, xác định khu vực và tầng chứa nước có triển vọng, đưa vào khai thác, cấp nước phục vụ dân sinh. Tham gia lập đề án có các kĩ sư, thạc sĩ: Nguyễn Trung Dĩnh (chủ nhiệm), Nguyễn Quốc Dũng, Bùi Tiến Bình, Nguyễn Mạnh Hà, Bùi Lai Hà, Nguyễn Uy Vũ…Đề án được triển khai tại 30 vùng với tổng diện tích 510 km2 thuộc 8 tỉnh đồng bằng Nam Bộ: Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Kiên Giang.

Sau gần 6 năm thực hiện, đến nay, đề án “Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - pha 3” đã hoàn thành toàn bộ mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Về cơ bản, phương pháp, khối lượng các dạng công tác điều tra được tiến hành phù hợp với nội dung được Bộ TN&MT phê duyệt, chất lượng thi công đáp ứng được yêu cầu các quy phạm hiện hành. Quá trình thi công đã có sự phối hợp, hợp tác hiệu quả giữa chính quyền địa phương các vùng điều tra với Liên đoàn QH&ĐT tài nguyên nước miền Nam và các đơn vị tham gia đề án.

Kết quả nổi bật của Đề án Điều tra nguồn nước dưới đất (NDĐ) vùng sâu Nam Bộ- Pha 3” được đánh giá như thế nào, thưa ông?

Liên đoàn trưởng Phạm Văn Giắng: Đề án mang tính khoa học và thực tiễn sâu sắc.

Về mặt khoa học, đề án đã làm sáng tỏ đặc điểm địa chất thủy văn (ĐCTV) của 30 vùng điều tra, phân chia chi tiết ranh giới địa chất, địa tầng ĐCTV theo kết quả nghiên cứu mới nhất; xác định bề dày và vị trí của các tầng chứa nước lỗ hổng, bề dày của các trầm tích bở rời và các đới phong hóa, nứt nẻ trong đá cứng có triển vọng chứa nước,ranh giới nước nhạt, nước mặn theo diện và theo chiều sâu tại các vùng điều tra, cũng như sự biến đổi đặc điểm thủy hoá của các tầng chứa nước. Đã tạo lập một hệ thống thông tin về tài nguyên nước bao gồm: 30 sơ đồ ĐCTV tỷ lệ 1:25.000 và các mặt cắt ĐCTV của các vùng điều tra, làm cơ sở phục vụ quy họach, quản lý tài nguyên NDĐ. Đây là nguồn tài liệu vô cùng quí giá đối với công tác điều tra cơ bản về tài nguyên NDĐ ở Nam Bộ. Ngòai ra Đề án đã có những phát hiện mới quan trọng: Phát hiện được nước dưới đất nhạt trong tầng chứa nước qp2-3 tại vùng Hưng Điền (Tân Hưng, Đồng Tháp); trong tầng chứa nước n22 tại vùng Mỹ Thạnh Tây, Đức Huệ, Thuỷ Tây (Thạnh Hoá, Long An); tầng chứa nước n21 tại vùng thị trấn Lấp Vò (huyện Lấp Vò), vùng Thanh Mỹ (Tháp Mười, Đồng Tháp), vùng Mỹ Phước (Tân Phước, Tiền Giang), nơi mà các nghiên cứu trước đây cho là không có nước nhạt, những phát hiện mới là cơ sở quan trọng phục vụ việc mở rộng quy mô khai thác sử dụng NDĐ. Đề án cũng phát hiện cả 6 tầng chứa nước đều bị mặn hoàn toàn tại Tân Hồng, Đồng Tháp và kiến nghị chính quyền nhanh chóng chuyển hướng tìm nguồn nước khác phục vụ cung cầp cho nhân dân địa phương.

Về mặt thực tiễn, Đề án đã kết hợp chuyển đổi thành công 29 lỗ khoan điều tra nguồn NDĐ thành 29 lỗ khoan khoan khai thác, bàn giao cho chính quyền địa phương và các đồn biên phòng đưa vào khai thác sử dụng với tổng lưu lượng 15.370m3/ngày, tương ứng với khả năng phục vụ cho 256.162 người, đáp ứng nhu cầu cấp thiết về nước sạch cho nhân dân và bộ đội tại 29 vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới thuộc 23 huyện của 8 tỉnh Nam Bộ. Các kết quả này của đề án, đã được các cấp chính quyền địa phương và đơn vị bộ đội nồng nhiệt đón nhận và đã gửi thư cảm ơn Bộ TN&MT, Cục ĐC&KS Việt Nam, Trung tâm QH&ĐT tài nguyên nước, Liên đoàn QH& ĐTTNN miền Nam về sự giúp đỡ quý giá trên và mong muốn được hỗ trợ nhiều hơn nữa.

Đề án đã chứng minh tính đúng đắn, hiệu quả trong việc điều tra nguồn NDĐ kết hợp với việc nhanh chóng đưa các kết quả điều tra vào phục vụ thiết thực nhân dân và bộ đội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới góp phần phát triển KT, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng.

 vv136

Quá trình thi công đề án, anh em đã vượt lên nhiều khó khăn, thách thức về kỹ thuật cũng như cuộc sống đời thường để hoàn thành nhiệm vụ, thưa ông?

Liên đoàn trưởng Phạm Văn Giắng: Đúng vậy! Đặc thù của đề án là điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam bộ nên việc thi công các dạng công tác như khảo sát thực địa, khoan ĐCTV, đo địa vật lý, bơm nước thí nghiệm... đều diễn ra tại những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, căn cứ địa cách mạng, đặc biệt là vùng biên giới Tây Nam, giáp Campuchia… gặp rất nhiều khó khăn và nguy hiểm. Công tác khảo sát ngoài thực địa kéo dài hàng tháng, anh em kỹ thuật phải làm việc xa nhà, xa cơ quan thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần. Những khi khảo sát vùng biên giới, núi cao hiểm trở, gặp mưa lũ không về được, anh em phải nhịn đói, ngủ rừng; có người ban ngày đi thực địa, đêm về bị sốt rét cao vẫn phải đi bộ hàng chục km mới tới bệnh xá, khi khỏi bệnh lại lao vào công việc. Nhiều vùng khảo sát không có đường giao thông, việc đi lại, vận chuyển máy móc vào vị trí thi công các lỗ khoan thường phải dùng sức người hoặc bằng phà qua sông. Quá trình thi công phải làm liên tục 3 ca, không ít công trình làm vào ban đêm gặp mưa to, gió lớn, anh em vẫn phải “ bám” tháp khoan cao hàng chục mét rất nhọc nhằn, nguy hiểm. Họ phải nhắc nhau, đặt công tác an toàn lao động lên hàng đầu; vì thế trong suốt quá trình thi công đề án vẫn đảm bảo an toàn lao động. Nhận thức của bà con các dân tộc vùng điều tra khảo sát còn hạn chế, những khi cùng ăn uống, sinh hoạ với bà con, anh em thường tranh thủ trò chuyện, nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh, phòng chống dịch bệnh và bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước dưới đất cho đồng bào.

Nhân đây, ông có thể cho biết kết quả tổng quan của đề án “ Điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam Bộ của các pha 1, pha 2 và pha 3?

Liên đoàn trưởng Phạm Văn Giắng: Nước dưới đất ở Nam Bộ có tiềm năng rất lớn, tuy nhiên việc điều tra đánh giá tài nguyên nước dưới đất chưa đáp ứng kịp thời, mức độ chi tiết chưa đủ làm cơ sở phục vụ quy họach, quản lý khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước dưới đất. Qua 3 pha thực hiện, đề án đã bổ sung đáng kể các thông tin tại các vùng còn trống, chưa từng được điều tra, tạo lập một hệ thống thông tin dữ liệu tài nguyên nước dưới đất tại 98 vùng điều tra, làm cơ sở tin cậy phục vụ cho việc lập quy họach, quản lý quản lý khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước dưới đất ở Nam Bộ. Bên cạnh đó đề án đã nhanh chóng chuyển giao 92 lỗ khoan khai thác với tổng lưu lượng 102.466m3/ngày có thể phục vụ cho gần 1.200.000 người, góp phần quan trọng trong việc nâng cao đời sống, phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng tại các vùng sâu vùng xa và biên giới.

Xin cám ơn ông!

 

 

 (Theo Monre.gov.vn)