Tue01252022

Last update04:34:49 AM GMT

Họp Hội đồng thẩm định Báo cáo kết quả thực hiện Dự án “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam”.

Sáng ngày 03/12/2021, tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã diễn ra cuộc họp hội đồng thẩm định Báo cáo kết quả thực hiện Dự án "Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam". Chủ trì cuộc họp là Tổng giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tống Ngọc Thanh, cùng tham gia có Phó Tổng giám đốc Triệu Đức Huy, Phó Tổng giám đốc Nguyễn Ngọc Hà; đại diện lãnh đạo Ban Kế hoạch – Tài chính; Ban Điều tra tài nguyên nước; Trung tâm Dữ liệu tài nguyên nước.

81cTổng giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tống Ngọc Thanh chủ trì cuộc họp.

Trong những năm gần đây, với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và các địa phương, diện mạo kinh tế, xã hội của các huyện, xã đảo đã có những thay đổi đáng kể. Đối với các đảo công tác nghiên cứu về số lượng, chất lượng nước dưới đất, nước mặt còn hạn chế, cùng với đặc thù các đảo được bao quanh là nước biển, công tác khai thác sử dụng nước ở các đảo tương đối khó khăn.

Vì vậy để có thể khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Dự án "Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam". Căn cứ tiêu chí lựa chọn, Dự án, chọn 15 đảo ưu tiên được bố trí bổ sung nội dung thực hiện để đề xuất được phương án khai thác, sử dụng nước trên các đảo, gồm: Quan Lạn, Hòn Nứt Đất, Thượng Mai, Hạ Mai, Phượng Hoàng, Thắng Lợi (Thẻ Vàng), Đảo Trần, Cái Chiên, tỉnh Quảng Ninh; Cát Bà, thành phố Hải Phòng; Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam; Nhơn Châu (Cù Lao Xanh), tỉnh Bình Định; Hòn Thơm (Quần đảo An Thới), Hòn Đốc (Hòn Tre Lớn II- quần đảo Hà Tiên), Hòn Sơn (Hòn Rái), Nam Du, tỉnh Kiên Giang.

Mục tiêu dự án: Đánh giá chi tiết về số lượng, chất lượng nước dưới đất, nước mặt, nước mưa đối với các đảo đã được Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020, làm cơ sở cho việc xây dựng công trình cấp nước cho các Đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam; tạo lập các thông tin, dữ liệu và đề xuất phương án khai thác, sử dụng nước trên đảo.

Báo cáo tại cuộc họp, đại diện Trung tâm Dữ liệu tài nguyên nước - ông Phạm Hồng Kiên cho biết, Trung tâm Dữ liệu tài nguyên nước được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia giao thực hiện công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước trên 4 đảo: Trần, Phượng Hoàng, Nất Đất, Thượng Mai-Hạ Mai. Từ năm 2017 đến nay, đơn vị đã hoàn thành toàn bộ các khối lượng theo dự toán được duyệt, đồng thời đã thi công được 11 giếng khoan có thể đáp ứng được mục tiêu của dự án là xây dựng công trình cấp nước phục vụ sinh hoạt cho người dân trên các đảo. Dự án đã hoàn thành đạt yêu cầu so với mục tiêu, nhiệm vụ đã được phê duyệt. Cụ thể kết quả điều tra đánh giá tài nguyên nước và hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước trên các đảo như sau:

* Đối với đảo Trần

- Về nước mặt:

+ Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước mặt cho thấy trên đảo có vài suối nhỏ, nhưng chỉ có dòng chảy vào mùa mưa và chảy thẳng ra biển, vào mùa khô dòng suối cạn kiệt không có nước. Đảo 03 hồ chứa nước nhân tạo được xây dựng từ những năm 2000, hồ có nhiệm vụ tích nước trong mùa mưa và phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất cho người dân trên đảo.

+ Kết quả điều tra đánh giá tài nguyên nước mặt cho thấy: tổng lượng nước mặt tại đảo Trần là 5,89 triệu m3, tuy nhiên do địa hình trên đảo rất dốc, dòng chảy mặt không tồn tại lâu chỉ khoảng 4-5 ngày sau những trận mưa lớn, nước mặt chủ yếu chảy ra biển và bổ cập cho nước dưới đất, sau đó các dòng suối nhỏ lại trở lên cạn kiệt, mất dòng.

Về nước dưới đất:

Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất cho thấy trên đảo có tổng số 17 giếng khai thác nước dưới đất với tổng lưu lượng khoảng 96,1m3/ngày. Các hộ gia đình chủ yếu sử dụng nước giếng đào, giếng khoan, nước từ hồ chứa để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Tổng nhu cầu khai thác phục vụ sinh hoạt tính toán theo định mức hiện tại năm 2021, trên đảo là 56,5m3/ngày. Về mặt số lượng thì các công trình khai thác nước dưới đất nông thôn và đơn lẻ đã có thể đáp ứng được nhu cầu khai thác sử dụng nước trên đảo.

Kết quả điều tra đánh giá tài nguyên nước dưới đất cho thấy: So với nhu cầu sử dụng nước dưới đất đã được tính toán ở trên nguồn nước dưới đất trên đảo hoàn toàn đáp ứng được theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, nước dưới đất phân bố không đồng đều theo cả diện và chiều sâu đặc biệt trên địa hình đảo, vì vậy khi sử dụng các số liệu này cần nghiên cứu kỹ lưỡng, chi tiết để việc quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội sát với thực tế, đạt hiệu quả cao. Dự án đã tiến hành khoan thăm dò 02 lỗ khoan ĐTK1, ĐTK2 trong tầng chứa nước khe nứt trong các trầm tích Ordovic muộn Silur sớm (o3-s1) và 01 lỗ khoan ĐTK3 trong tầng chứa nước khe nứt Devon dưới (d1) với lưu lượng lần lượt 44,1m3/ngày; 51,84 m3/ngày; 103,68 m3/ngày và đã bàn giao cho địa phương quản lý.

* Đối với đảo Phượng Hoàng

Về nước mặt:

+ Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước mặt xác định trên đảo có khoảng 05 suối nhỏ, có chiều dài ngắn và chỉ có dòng chảy vào mùa mưa, vào mùa khô dòng suối cạn kiệt không có nước, trên đảo không có hồ chứa nước.

+ Kết quả điều tra đánh giá tài nguyên nước mặt: tổng lượng nước mặt từ mưa trên đảo Phượng Hoàng khoảng 9,27 triệu m3, tuy nhiên đảo Phượng Hoàng có địa hình trên đảo dốc, dòng chảy mặt không tồn tại lâu chỉ khoảng 4-5 ngày sau những trận mưa lớn, nước mặt chủ yếu chảy ra biển và bổ cập cho nước dưới đất, sau đó các dòng suối nhỏ lại trở lên cạn kiệt, mất dòng, dòng chảy không thường xuyên.

Về nước dưới đất:

+ Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất cho thấy: trên đảo Phượng Hoàng hiện nay có 05 công trình khai thác nước với tổng lưu lượng khai thác khoảng 2,12 m3/ngày. Tổng nhu cầu khai thác phục vụ sinh hoạt tính toán theo định mức hiện tại năm 2021 là 0.6m3/ngày. Nhìn chung các công trình khai thác nước dưới đất hiện tại đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của người dân trên đảo. Chất lượng nước dưới đất trên đảo đảm bảo theo quy chuẩn chất lượng nước ngầm.

+ Kết quả điều tra đánh giá tài nguyên nước dưới đất cho thấy: So với nhu cầu sử dụng nước dưới đất đã được tính toán ở trên nguồn nước dưới đất trên đảo hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước. Dự án đã tiến hành khoan thăm dò 3 giếng khoan PH-K1, PH-K2, PH-K3 với lưu lượng khai thác lần lượt là 56,16m3/ngày, 80,35m3/ngày, 112,32m3/ngày và đã được chuyển giao cho địa phương quản lý.

* Đối với đảo Nất Đất

Về nước mặt:

+ Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước mặt xác định trên đảo có khoảng 03 suối nhỏ, có chiều dài ngắn và chỉ có dòng chảy vào mùa mưa, vào mùa khô dòng suối cạn kiệt không có nước, trên đảo không có hồ chứa nước.

+ Kết quả điều tra đánh giá tài nguyên nước mặt: tổng lượng nước mặt từ mưa trên đảo Nất Đất khoảng 1,48 triệu m3, tuy nhiên đảo Nất Đất có diện tích nhỏ, địa hình dốc, dòng chảy mặt không tồn tại lâu chỉ khoảng 2-3 ngày sau những trận mưa lớn, nước mặt chủ yếu chảy ra biển và bổ cập cho nước dưới đất, sau đó các dòng suối nhỏ lại trở lên cạn kiệt, mất dòng, dòng chảy không thường xuyên.

Về nước dưới đất:

+ Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất cho thấy: Trên đảo Nất Đất hiện nay có 05 công trình khai thác nước với tổng lưu lượng khai thác khoảng 1,6 m3/ngày. Tổng nhu cầu khai thác phục vụ sinh hoạt tính toán theo định mức hiện tại năm 2021 vào thời điểm mùa sản xuất Sứa trên đảo là 10 m3/ngày và vào thời điểm không phải mùa sản xuất Sứa là khỏng 2 m3/ngày. Nhìn chung các công trình khai thác nước dưới đất hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của người dân trên đảo. Chất lượng nước dưới đất trên đảo đảm bảo theo quy chuẩn chất lượng nước ngầm.

+ Kết quả điều tra đánh giá tài nguyên nước dưới đất cho thấy: So với nhu cầu sử dụng nước dưới đất đã được tính toán ở trên nguồn nước dưới đất trên đảo hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước. Dự án đã tiến hành khoan thăm dò 02 giếng khoan NĐ-K1, NĐ-K2, với lưu lượng khai thác lần lượt là 77,76m3/ngày, 99,36m3/ngày và đã được chuyển giao cho địa phương quản lý.

* Đối với đảo Thượng Mai – Hạ Mai

Về nước mặt:

+ Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước mặt xác định trên đảo có khoảng 09 suối nhỏ, có chiều dài ngắn và chỉ có dòng chảy vào mùa mưa, vào mùa khô dòng suối cạn kiệt không có nước, trên đảo không có hồ chứa nước.

+ Kết quả điều tra đánh giá tài nguyên nước mặt: tổng lượng nước mặt từ mưa trên đảo Thượng Mai – Hạ Mai khoảng 6,43 triệu m3, tuy nhiên đảo Thượng Mai – Hạ Mai có diện tích nhỏ, hẹp, địa hình dốc, dòng chảy mặt không tồn tại lâu chỉ khoảng 2-3 ngày sau những trận mưa lớn, nước mặt chủ yếu chảy ra biển và bổ cập cho nước dưới đất, sau đó các dòng suối nhỏ lại trở lên cạn kiệt, mất dòng, dòng chảy không thường xuyên.

Về nước dưới đất:

+ Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất cho thấy: Trên đảo Thượng Mai – Hạ Mai hiện nay có 10 công trình khai thác nước với tổng lưu lượng khai thác khoảng 1,6 m3/ngày. Tổng nhu cầu khai thác phục vụ sinh hoạt tính toán theo định mức hiện tại năm 2021 vào thời điểm mùa sản xuất Sứa trên đảo là 11 m3/ngày và vào thời điểm không phải mùa sản xuất Sứa là khỏng 3 m3/ngày. Nhìn chung các công trình khai thác nước dưới đất hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của người dân trên đảo. Chất lượng nước dưới đất trên đảo đảm bảo theo quy chuẩn chất lượng nước ngầm.

+ Kết quả điều tra đánh giá tài nguyên nước dưới đất cho thấy: So với nhu cầu sử dụng nước dưới đất đã được tính toán ở trên nguồn nước dưới đất trên đảo hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước. Dự án đã tiến hành khoan thăm dò 03 giếng khoan TM-K1,TM-K2, HM-K1 với lưu lượng khai thác lần lượt là 95,04m3/ngày; 64,8 m3/ngày; 44,93 m3/ngày và đã được chuyển giao cho địa phương quản lý.

81bĐại diện Trung tâm Dữ liệu tài nguyên nước - ông Phạm Hồng Kiên báo cáo tại cuộc họp.

Tại cuộc họp, các thành viên hội đồng cho rằng cơ bản các sản phẩm có nội dung, khối lượng đầy đủ, mạch lạc, rõ ràng, hoàn thành mục tiêu đề ra của dự án. Tuy nhiên vẫn chưa có tính logic giữa các kết quả điều tra khảo sát và phương pháp áp dụng, nội dung còn mang tính sao chép.

Kết luận tại cuộc họp, Phó Tổng giám đốc Triệu Đức Huy ghi nhận và đánh giá cao kết quả mà Trung tâm Dữ liệu tài nguyên nước thực hiện được. Trên cơ sở góp ý của các thành viên Hội đồng thẩm định đề nghị Trung tâm tiếp thu và tiến hành bổ sung, chỉnh sửa hoàn thiện hồ sơ sản phẩm.

81aToàn cảnh cuộc họp.


Newer news items:
Older news items: