Sat10232021

Last update12:17:51 AM GMT

Nêu phương pháp tính toán trữ lượng nước dưới đất của Dự án “ Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước”?

Trả lời:

Một số phương pháp tính toán trữ lượng nước dưới đất của dự án tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước:

Trữ lượng có thể khai thác

Trữ lượng có thể khai thác là lượng nước có thể nhận được từ tầng chứa nước ổn định trong thời gian dài mà không gây tác động xấu đến môi trường, nghĩa là không gây sụt lún đất, xâm nhập mặn hoặc ô nhiễm nguồn nước. Trên các vùng điều tra của Dự án, căn cứ vào đặc điểm địa chất thủy văn, điều kiện của từng khu vực mà trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 - 50% tiềm năng nước dưới đất, theo đó:

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 đến 50% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở các kết quả điều tra, đánh giá của vùng cũng như tham khảo các đánh giá từ Đề án "Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ";

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trữ lượng có thể khai thác hầu hết được lấy bằng 30% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở kết quả điều tra đánh giá cụ thể từng vùng (hầu hết các tầng chứa nước là tầng chứa nước khe nứt, tính bất đồng nhất cao), đồng thời tham khảo các kết quả từ các dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước giai đoạn trước (Báo cáo Điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên (2007); Báo cáo Điều tra nguồn nước dưới đất vùng núi Trung Bộ và Tây Nguyên pha III (2008); Báo cáo Điều tra, đánh giá nước dưới đất các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (2014); Báo cáo Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (2014).

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Bộ được tính toán trên cơ sở Tính theo ngưỡng giới hạn khai thác trên cơ sở mực nước động cho phép theo quy định Nghị định 167/2018/NĐ-CP đối với từng vùng.

Tiềm năng tài nguyên nước dưới đất

Tiềm năng tài nguyên nước dưới đất được xác định theo công thức sau:

Qtn = Qt + Qđ

Trong đó:

Qtn là tiềm năng tài nguyên nước dưới đất, m3/ngày.

Qt là tài nguyên tích chứa (bao gồm tài nguyên tĩnh trọng lực và tài nguyên tĩnh đàn hồi), m3/ngày.

Qđ là lượng bổ cập tự nhiên, m3/ngày

Việc tính toán tài nguyên nước tích chứa và lượng bổ cập (trữ lượng động) được thực hiện như sau:

+ Tính toán tài nguyên tích chứa:

Qt = Qtl + Qdh

Qtl = α.μ.m.F/t

Qdh = α.μ*.ha.F/t

Trong đó:

Qtn: Tiềm năng nước dưới đất, m3/ngày;

Qtl: Tiềm năng tĩnh trọng lực, m3/ngày;

Qdh: Tiềm năng tĩnh đàn hồi, m3/ngày;

α: Hệ số sử dụng trữ lượng (lấy bằng 0,3);

μ: Hệ số nhả nước trọng lực;

μ*: Hệ số nhả nước đàn hồi;

m: Bề dày tầng chứa nước, m;

ha: Chiều cao cột áp trên mái tầng chứa nước, m;

F: Diện tích phân bố của tầng chứa nước, m2;

t: Thời gian hoạt động của công trình qui ước (lấy bằng 10.000 ngày).

+ Lượng bổ cập tự nhiên: Lượng bổ cập tự nhiên cho nước dưới đất có thể được hình thành từ ngấm của nước mưa, từ dòng ngầm nơi khác chảy đến, từ nước sông, nước mặt... Một số phương pháp xác định lượng bổ cập tự nhiên bao gồm: xác định thông qua cường độ cung cấp cho nước dưới đất (phương pháp N.N.Bindeman); phương pháp Darcy; phương pháp thủy văn; phương pháp lượng mưa ngấm...

Đối với các vùng điều tra, trên cơ sở tài liệu quan trắc động thái nước dưới đất áp dụng phương pháp N.N.Bindeman để tính toán lượng bổ cập tự nhiên như sau:

Giá trị cung cấp thấm trung bình năm sẽ được tính toán theo công thức:

Trong đó: μ là hệ số phóng tích nước được lấy bằng hệ số nhả nước trọng lực nếu tầng chứa nước không áp hoặc hệ số nhả nước đàn hồi nếu tầng chứa nước có áp.

Trong trường hợp không có số liệu thí nghiệm tin cậy để xác định hệ số nhả nước đàn hồi có thể sử dụng hệ số nhả nước trọng lực của lớp phủ trên mặt của tầng chứa nước tính toán.

Lúc đó, lượng nước bổ cập cho các tầng chứa nước hay còn được gọi là trữ lượng động sẽ được tính toán theo công thức:

Qđ = F × Wm

Trong đó:

F: là diện tích lộ của tầng chứa nước (km2),

Wm: là giá trị cung cấp thấm trên một đơn vị diện tích (m3/ngày/km2)

Trữ lượng có thể khai thác

Trữ lượng có thể khai thác là lượng nước có thể nhận được từ tầng chứa nước ổn định trong thời gian dài mà không gây tác động xấu đến môi trường, nghĩa là không gây sụt lún đất, xâm nhập mặn hoặc ô nhiễm nguồn nước. Trên các vùng điều tra của Dự án, căn cứ vào đặc điểm địa chất thủy văn, điều kiện của từng khu vực mà trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 - 50% tiềm năng nước dưới đất, theo đó:

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 đến 50% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở các kết quả điều tra, đánh giá của vùng cũng như tham khảo các đánh giá từ Đề án "Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ";

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trữ lượng có thể khai thác hầu hết được lấy bằng 30% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở kết quả điều tra đánh giá cụ thể từng vùng (hầu hết các tầng chứa nước là tầng chứa nước khe nứt, tính bất đồng nhất cao), đồng thời tham khảo các kết quả từ các dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước giai đoạn trước (Báo cáo Điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên (2007); Báo cáo Điều tra nguồn nước dưới đất vùng núi Trung Bộ và Tây Nguyên pha III (2008); Báo cáo Điều tra, đánh giá nước dưới đất các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (2014); Báo cáo Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (2014).

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Bộ được tính toán trên cơ sở Tính theo ngưỡng giới hạn khai thác trên cơ sở mực nước động cho phép theo quy định Nghị định 167/2018/NĐ-CP đối với từng vùng.

Lưu lượng khai thác công trình dự báo là lưu lượng được tính toán, dự báo trên cơ sở như sau:

- Kết quả bơm thí nghiệm tại các lỗ khoan thăm dò khai thác;

- Nhu cầu khai thác sử dụng của vùng điều tra có xét đến dự báo nhu cầu đến năm 2030.

Việc tính toán dự báo được áp dụng cho từng vùng cụ thể, theo đó các vùng khai thác nước trong các tầng chứa nước bở rời được tính toán, dự báo theo công thức thủy động lực, các vùng khai thác nước trong các tầng chứa nước khe nứt được xác định thủy lực (Phương pháp N.N.Bindeman, 1970). Kết quả dự báo cho từng lỗ khoan khai thác, đảm bảo hạ thấp trong giới hạn cho phép trê cơ sở Nghị định 167 /2018/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Chính Phủ về quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất. Trường hợp hạ thấp vượt quá hạ thấp cho phép, tiến hành điều chỉnh lưu lượng để xác định các giá trị khai thác an toàn cho từng lỗ khoan. Trữ lượng công trình được tính toán với thời gian khai thác trong 27 năm.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: