Sat10232021

Last update12:17:51 AM GMT

Họp trực tuyến Hội đồng thẩm định Báo cáo kết quả thực hiện Đề án “Bảo vệ nước dưới đất các đô thị lớn” – Giai đoạn II, đô thị Vĩnh Yên.

Sáng ngày 24/06/2021, tại trụ sở Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã diễn ra họp trực tuyến thẩm định Báo cáo kết quả thực hiện Đề án "Bảo vệ nước dưới đất các đô thị lớn"– Giai đoạn II, đô thị Vĩnh Yên. Chủ trì cuộc họp trực tuyến là ông Triệu Đức Huy – Phó Tổng giám đốc, cùng tham dự có lãnh đạo Ban Điều tra tài nguyên nước, Ban Kế hoạch tài chính, Ban Khoa học Công nghệ và Hợp tác quốc tế, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc và các chuyên gia.

IMG_2564Ông Triệu Đức Huy - Phó Tổng giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia

IMG_2570Ông Đỗ Hùng Sơn chủ nhiệm Đề án phát biểu tại cuộc họp (bên trái)

Báo cáo tại cuộc họp, ông Đỗ Hùng Sơn chủ nhiệm Đề án cho biết, Đề án đô thị Vĩnh Yên do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thi công từ năm 2020 đến 2021. Qua 2 năm triển khai đã hoàn thành 100% khối lượng được phê duyệt. Mục tiêu của đề án là đánh giá nguồn nước dưới đất và đề xuất các giải pháp kỹ thuật bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu cạn kiệt, ô nhiễm nước dưới đất. Nhiệm vụ là xác định điều kiện tồn tại, sự phân bố, số lượng, chất lượng nước dưới đất; xác định nguy cơ và mức độ cạn kiệt, ô nhiễm nước dưới đất; thực hiện một số giải pháp kỹ thuật để bảo vệ nước dưới đất. Phạm vi thực hiện gồm thành phố Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Tường, huyện Yên Lạc và một phần nhỏ thuộc huyện Tam Dương, huyện Bình Xuyên, với tổng diện tích là 400km2.

Đề án tổng hợp, rà soát , cập nhật toàn bộ các tài liệu điểu tra cơ bản về tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn nghiên cứu đô thị Vĩnh Yên từ trước đến nay, tiến hành điều tra, đánh giá chi tiết và tài nguyên nước dưới đất và các vấn đề cần bảo vệ nguồn tài nguyên này. Vì vậy, các số liệu đánh giá về hiện trạng tài nguyên nước dưới đất có độ tin cậy cao, các giải pháp kỹ thuật đưa ra để bảo vệ nước dưới đất khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nước, phát triển bền vững tài nguyên nước đồng thời phục vụ hữu ích cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đô thị.

Kết quả tính toán đã xác định được tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trong 2 tầng chứa nước lỗ hổng qh và qp thuộc đô thị Vĩnh Yên là 553178 m3/ngày. Trong đó tầng chứa nước qp có trữ lượng là 457985 m3/ngày, tầng chứa nước qh là 95193 m3/ngày. Đưa ra được trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất đô thị Vĩnh Yên là 226162 m3/ngày tập trung chủ yếu ở tầng chứa nước lỗ hổng đệ tứ qp có khả năng khai thác lớn đáp ứng được các nhu cầu của địa phương.

Về chất lượng nước, trong tầng chứa nước qh có khá nhiều có khá nhiều chỉ tiêu vượt giá trị giới hạn QCVN09-MT:2015/BTNMT phổ biến nhất là NH4+, Fe. Tầng chứa nước qh có chất lượng nước tương đối tốt

Đề án đã xác định được 2 tầng chứa nước cần bảo vệ là tầng chứa nước holocen (qh) và tầng chứa nước Pleistocen (qp). Kết quả phân tích đánh giá cho thấy hiện tại vùng đô thị Vĩnh Yên chưa có vùng cạn kiệt nhưng kết quả dự báo cho thấy có 2 vùng có nguy cơ xảy ra cạn kiệt tại khu vực bãi giếng khai thác thuộc thành phố Vĩnh Yên và huyện Bình Xuyên. Do đó, vấn đề cần bảo vệ tài nguyên nước dưới đất là cạn kiệt và ô nhiễm.

Trên cơ sở trữ lượng khai thác an toàn, điều kiện thực tiễn về công nghệ khai thác hiện nay và quỹ đất có thể bố trí được các hành lang, bãi giếng khai thác tại các khu vực trọng tâm. Đề án đã tính toán các phương án khai thác nước dưới đất tối ưu nhất và xác lập kế hoạch lộ trình đến năm 2025 khai thác nước dưới đất đạt trữ lượng 63000 m3/ngày và đến năm 2030 là 95000 m3/ngày. Với phương án này, đã xác định vị trí và lưu lượng khai thác tối ưu nước dưới đất phục vụ phất triển kinh tế-xã hội.

Đề án đã tính toán và xác lập được các vùng có khả năng bổ cập tự nhiên rất tốt với diện tích lần lượt là 121,59 km2; 67,1 km2 và một phần diện tích nhỏ có khả năng bổ cập tự nhiên trung bình và kém. Giám sát cả về số lượng và chất lượng đồng thời đưa ra được các giải pháp, lộ trình cần phải thực hiện ngay trong thời gian tới để bảo vệ nguồn tài nguyên nước.

Đề án cũng đã tính toán, luận chứng thiết kế bổ sung 24 điểm với 30 công trình quan trắc tầng chứa nước qp và qh, nhằm hoàn thiện được mạng quan trắc, giám sát tài nguyên nước dưới đất một cách toàn diện nhất để bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất với mục tiêu giám sát tài nguyên nước, nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm nước dưới đất . Trong đó, có 10 công trình quan trắc giám sát nguy cơ cạn kiệt và 10 công trình quan trắc giám sát ô nhiễm nước dưới đất.

Tại cuộc họp thì các thành viên hội đồng cho rằng cơ bản đề án có nội dung phong phú, viết chi tiết, rõ ràng, có cơ sở khoa học, luận chứng; sản phẩm đầy đủ; tính cấp thiết cao; bố cục tuân thủ đúng yêu cầu chỉ đạo của trung tâm, cơ bản đạt được mục tiêu của đề án. Tuy nhiên để tiếp tục hoàn thiện thì có một số góp ý của các thành viên hội đồng như sau:

Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Nguyễn Minh Khuyến cho biết, cần nói rõ sản phẩm này sẽ hướng tới cho địa phương sử dụng như thế nào. Các giải pháp bảo vệ nước dưới đất vùng sinh thủy (độ che phủ rừng) không có con số cụ thể bảo vệ rừng ở đâu, diện tích bao nhiêu, sơ đồ. Các biện pháp quan trắc, giám sát cần đi vào chi tiết, phân tích quy định, con số đến nay người ta đã làm đến đâu căn cứ vào đấy có kiến nghị đề xuất. Đưa biện pháp bảo vệ phục hồi số lượng, chất lượng nước xuống cuối cùng, vì đây là biện pháp tổng thể của các biện pháp kỹ thuật.

PGS.TS Nguyễn Văn Đản cho rằng, Phần tổng quan cần đánh giá các yếu tố khí tượng theo mùa. Phần kết quả thi công cần tham khảo thêm các báo cáo thăm dò nước dưới đất, báo cáo hiện trạng khai thác nước dưới đất; chất lượng nước phải đánh giá thận trọng, chính xác. Bổ sung đánh giá độ tin cậy của tài liệu, sơ đồ bơm chùm, một số thông số địa chất thủy văn. Một số nội dung cần nêu chi tiết, rõ ràng.

PGS.TS Phạm Qúy Nhân đồng tình với các đại biểu và cho rằng cần xem xét lại tên báo cáo; tài liệu tham khảo chưa đưa ra trích dẫn; khối lượng công việc cần nêu ra rõ ràng; các hình vẽ bảng và đồ thị cần bổ sung nội dung. Bổ sung tên các trạm khí tượng lấy số liệu, ngưỡng giới hạn trị số hạ thấp mực nước.

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Lâm cho rằng, khi xác định diện tích vùng nghiên cứu thì phải đưa ra luận chứng chứng minh vào báo cáo. Điều kiện tự nhiên kinh tế-xã hội nên đánh giá trên phạm của Đề án. Các dạng công tác nói rõ mục đích, phương pháp, khối lượng, nội dung , kết quả thực hiện. Sản phẩm cần có bản đồ tài liệu thực tế kemg theo. Đánh giá nguyên nhân, con đường, phương thức gây ô nhiễm, cạn kiệt sau đó khoanh vùng cụ thể; Chỉ rõ đánh giá khả năng tự bảo vệ, luận giải rõ ràng về cách phân chia mức độ ô nhiễm; Nên có sự lồng ghép mạng lưới quan trắc địa phương và quốc gia.

Tiếp đó, PGS.TS Đoàn Văn Cánh cho rằng báo cáo chưa nêu được đặc điểm vùng đô thị Vĩnh Yên. Cần thống kế khối lượng công việc đã thực hiện. Khoanh định cần có cơ sở địa chất thủy văn.

Đại diện Ban điều tra tài nguyên nước cho rằng, báo cáo cần bổ sung kết quả công tác địa vật lý. Cấu trúc tầng chứa nước chưa thuyết minh diện tích, bề dày, hệ số mái là bao nhiêu. Các thông số địa chất thủy văn mô tả khá nghèo nàn, cần thu thập bổ sung các tài liệu trước đây.

Kết luận cuộc họp, Phó Tổng giám đốc Triệu Đức Huy rất cám hội đồng, trung tâm sẽ tổng hợp các ý kiến góp ý của các thành viên hội đồng và đề nghị trên cơ sở các ý kiến góp ý Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc tiếp tục rà soát, tiếp thu, chỉnh sửa Đề án, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ sản phẩm.

IMG_2565

IMG_2566

IMG_2562Toàn cảnh cuộc họp


Tác giả: Phương Thảo-Nawapi


Newer news items:
Older news items: