Mon11292021

Last update02:00:00 PM GMT

Nêu phân loại nguồn nước và các vấn đề liên quan, nêu một số dự án, đề tài nghiên cứu có liên quan đến nguồn nước?

Trả lời:

1.Phân loại nguồn nước và các vấn đề liên quan

Quy định trong các văn bản pháp lý: Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 được ban hành đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước ở nước ta. Đây là văn bản pháp luật cao nhất về quản lý tài nguyên nước, các Điều, Khoản trong Luật thể hiện rõ tầm quan trọng của tài nguyên nước và lĩnh vực quản lý tài nguyên nước nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của nước ta. Nội dung của Luật thể hiện hướng tiếp cận quản lý về tài nguyên nước theo xu thế của thế giới đó là quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Theo đó, một số quy định về phân loại nguồn nước, thẩm quyền quản lý, trách nhiệm thi hành, điều phối, giám sát liên quan trực tiếp đến nguồn nước.

Các nghiên cứu về nguồn nước :

1. Sông, hệ thống sông, lưu vực sông:

Một con sông thường được chia làm ba phần: thượng lưu, trung lưu và hạ lưu. Mỗi vùng có các đặc điểm hình thái và tính chất dòng chảy khác nhau, trong các nghiên cứu thường phân vùng sông theo đặcđiểm hình thái để phân tích, đánh giá tài nguyên nước phục vụ quản lý và khai thác sử dụng.Hệ thống sông là một tập hợp các sông nhánh và sông chính chảy cùng nhau và cùng chảy ra biển, sông chính (4) được hình thành từ các sông nhánh (3), các sông nhánh (3) được hình thành từ các sông nhánh (2) và các sông nhánh (2) được hình thành từ các nhánh nhỏ (1). Một hệ thống sông được minh họa như sau:
Hình. 1. Sơ họa hệ thống sông

Lưu vực sông là vùng đất mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông và thoát ra ở một cửa chung hoặc thoát ra biển (Luật TNN, 2012). Các lưu vực sông được phân tách nhau bởi đường phân thủy, trên một lưu vực sông lớn có thể phân ra thành các lưu vực sông nhỏ bao gồm các nhánh sông. 

Hình. 2. Phạm vi lưu vực sông.

2. Hệ thống hồ

Hệ thống hồ có thể phân loại gồm hồ chứa nhân tạo và hồ tự nhiên. Tùy theo chức năng của hồ có thể được phân loại, như hồ chứa thủy điện, hồ chứa thủy lợi, hồ sinh thái, hồ chứa đa mục tiêu... Theo mức độ điều tiết dòng chảy có thể phân ra: hồ chứa điều tiết nhiều năm, hồ chứa điều tiết năm (mùa, tháng, tuần). Theo dung tích, hồ chứa có thể phân ra: nhỏ, vừa và lớn. Hồ chứa lớn là loại hồ chứa có dung tích lớn hơn 1 triệu m3.

1. Một số dự án, đề tài nghiên cứu có liên quan đến nguồn nước:- Viện Khí tượng Thủy văn nay là Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường xuất bản cuốn "Đặc trưng hình thái lưu vực sông Việt Nam" năm 1985, trong đó trình bày danh mục sông suối các cấp và đặc trưng hình thái lưu vực sông của 2360 sông suối có chiều dài từ 10 km trở lên và có nước chảy thường xuyên và đưa ra các chỉ tiêu về: chiều dài sông chính, chiều dài lưu vực, diện tích lưu vực, các đặc trưng hình thái trung bình lưu vực, số lượng sông suối các cấp của 9 hệ thống sông có diện tích lưu vực từ 10.000 km2 trở lên và 86 sông vừa và nhỏ khác.

- Báo cáo tổng kết chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước "Cân bằng bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước quốc gia", mã số KC12 do TS. Nguyễn Trọng Sinh và nnk thực hiện năm 1995, đã đưa ra các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng nước sông gồm: 

+ Tổng lượng dòng chảy năm trung bình thời kỳ nhiều năm (1961-1990) của các hệ thống sông/sông, các vùng và cả nước; dòng chảy mùa lũ/mùa cạn và lưu lượng lũ lớn nhất thời kỳ quan trắc và lũ lịch sử theo số liệu điều tra.

+ Chất lượng nước sông gồm: tổng độ khoáng hóa và các thành phần hóa học chính, độ mặn và trữ lượng động tự nhiên.

+ Các chỉ tiêu về trữ lượng nước tĩnh và trữ lượng khai thác tiềm năng của nước ngầm trong các lưu vực sông chính và một số vùng.

- Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp nhà nước “Đánh giá tính bền vững của việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất lãnh thổ Việt Nam, định hướng chiến lược khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất đến năm 2020” do Trường Đại học Mỏ và Địa chất thực hiện năm 2005 đã đưa ra các chỉ tiêu về số lượng nước và chất lượng nước dưới đất. Các chỉ tiêu số lượng được đánh giá bằng trữ lượng động tự nhiên (m3/ngày) và trữ lượng khai thác tiềm năng (m3/ngày) theo từng tỉnh và các vùng: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng Nam Bộ. Chất lượng nước ngầm được đánh giá theo các chỉ tiêu về: tổng hàm lượng muối và các thành phần hóa học chính, trị số pH, độ cứng, loại hình hóa học của các tầng chứa nước…

- Đề tài “Kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước quốc gia và xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước” do Cục quản lý tài nguyên nước thực hiện năm 2007 đã đưa ra 05 bộ chỉ tiêu gồm:

(1) bộ chỉ tiêu kiểm kê, đánh giá lượng mưa;

(2) bộ chỉ tiêu về hình thái sông, hồ, đầm phá;

(3) bộ chỉ tiêu về lượng nước sông;

(4) bộ chỉ tiêu về số lượng nước dưới đất;

(5) bộ chỉ tiêu về chất lượng nước, với khoảng 96 chỉ tiêu.

- Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xác định nội dung, phương pháp tính, tổng hợp, thống kê các chỉ tiêu tài nguyên nước” do Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia - Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện năm 2012 đã đưa ra 05 nhóm chỉ tiêu tài nguyên nước gồm:

1) Nhóm chỉ tiêu về lượng nước.

2) Nhóm chỉ tiêu chế độ nước.

3) Nhóm chỉ tiêu về chất lượng nước.

4) Nhóm chỉ tiêu về các cực trị.

5) Nhóm chỉ tiêu về khai thác, sử dụng.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: