Mon04122021

Last update11:50:42 PM GMT

Khai sáng các tầng nước dưới đất vùng Bắc song Tiền

Vùng Bắc sông Tiền giữ vai trò an ninh, kinh tế quan trọng đối với đồng bằng Nam Bộ, ngoài ra tỉnh Tiền Giang, Long An và Tp Hồ Chí Minh còn nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Đặc biệt vùng có đường biên giới dài với nước bạn Campuchia là cửa ngõ giao thương với các nước Đông Nam Á.
Hiện nay, trong vùng đang phát triển rất nhiều khu, cụm công nghiệp, quá trình đô thị hoá một cách mạnh mẽ, do đó nhu cầu về nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt là rất lớn. Tuy nhiên, nhiều nơi nước mặt từ các sông, rạch còn lại bị mặn, nhiễm bẩn, nhiễm phèn không thể sử dụng được. Mặt khác, vùng Bắc sông Tiền nằm ở hạ lưu sông Mê Kông những năm gần đây các nước phía thượng nguồn điều chỉnh dòng chảy làm lưu lượng dòng chảy mùa khô ngày một giảm, cùng với quá trình biến đổi khí hậu nước biển dâng làm nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa, nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt ngày một khan hiếm, nguồn nước duy nhất là nước dưới đất.
Khối lượng dự án thi công trong năm 2019 là 1.406km2, đạt 100,20% theo kế hoạch giao, lý do là để thi công trọn vẹn hết diện tích điều tra, đánh giá còn lại của dự án. Khối lượng các dạng công tác đã được các đơn vị trong Liên đoàn thực hiện theo đúng yêu cầu kỹ thuật và tiến độ của dự án. Những dạng công tác thi công đã đạt được mục tiêu đề ra của dự án, đó là:
+ Đã làm sáng tỏ các đặc điểm và đặc trưng cơ bản của các tầng chứa nước, các tầng chứa nước yếu và cách nước trên phạm vi điều tra, đánh giá thuộc các huyện Tam Nông, Thanh Bình, Hồng Ngự, Tân Hồng và thị xã Hồng Ngự của tỉnh Đồng Tháp;
+ Đã sơ bộ đánh giá được chất lượng nguồn nước dưới đất theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT và chất lượng nước mặt theo QCVN 08-MT:2015, cụ thể:
- Nước mặt: Tại 2 điểm lấy mẫu phân tích, đánh giá cho thấy hầu hết các chỉ tiêu đều nằm trong giới hạn cho phép (Hạng A1), ngoại trừ chỉ tiêu Nitrat (NO3- tính theo N) của cả 2 điểm đều vượt giới hạn cho phép, nước không sử dụng được cho mục đích sinh hoạt;
2a-25-1Vị trí vùng điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất năm 2019
- Nước dưới đất: Kết quả phân tích, đánh giá của 154 mẫu nước dưới đất (140 mẫu phân tích toàn diện, 14 mẫu phân tích vi lượng) cho thấy hàm lượng các chỉ tiêu vượt giới han cho phép của các TCN như sau: Tầng n21 gồm pH (6/81 mẫu), Clorur (4/81 mẫu), Chất rắn tổng cộng (1/81 mẫu), Thủy ngân (1/12 mẫu); Tầng n22 gồm Clorur (2/2 mẫu); Tầng qp2-3 gồm (0/2 mẫu); Tầng qp3 gồm pH (4/53 mẫu), Nitrat (1/53 mẫu), Clorur (39/53 mẫu), Amoni (17/53 mẫu), Chất rắn tổng cộng (27/53 mẫu); Tầng qh gồm Clorur (1/2 mẫu), Chất rắn tổng hợp (1/2 mẫu).
+ Đã sơ bộ đánh giá được khả năng khai thác, sử dụng nguồn nước dưới đất của các tầng chứa nước;
+ Đã khoanh định chính xác hơn ranh giới mặn nhạt của các tầng chứa nước thuộc phạm vi điều tra, đặc biệt đã khoanh định được một số khoảnh nước nhạt là phát hiện mới, trong đó các TCN qp3 , qp2-3 và n21 có sự thay đổi so kết quả nghiên cứu giai đoạn trước, cụ thể:
- Tầng chứa nước qp3: diện tích phân bố nước nhạt 228,04km2. So với ranh mặn của kết quả đo sâu điện tăng 33,04km2;
- Tầng chứa nước qp2-3: diện tích phân bố nước nhạt 122,25km2. So với ranh mặn của kết quả đo sâu điện tăng 11,91km2;
- Tầng chứa nước n21: diện tích phân bố nước nhạt 1.360,2km2. So với ranh mặn của kết quả đo sâu điện tăng 7,16km2.
Tuy nhiên, ranh mặn nhạt của các tầng chứa nước cần phải được hiệu chỉnh qua kết quả kiểm tra, kiểm chứng của các dạng công tác khoan, bơm nước thí nghiệm; đo carota trong các lỗ khoan; công tác lấy và phân tích các loại mẫu nước ở các giai đoạn thi công tiếp theo.
Tóm lại, trên cơ sở kết quả các dạng công tác thi công năm 2019 đã xác định được trong vùng tồn tại 7 tầng chứa nước và cơ bản làm sáng tỏ các đặc trưng cơ bản của các TCN trên, nhất là về đặc điểm chất lượng, trữ lượng nguồn nước làm cơ sở quan trọng giúp địa phương định hướng khai thác sử dụng, cũng như phục vụ quy hoạch và công tác quản lý nguồn tài nguyên nước… Đã đánh giá được hiện trạng khai thác của các tầng chứa nước, trong đó NDĐ hiện đang được khai thác chủ yếu trong 3 tầng chứa nước là qp3, qp2-3 và n21; các tầng còn lại do diện phân bố nước nhạt nhỏ và như TCN n13 lại phân bố sâu nên chưa có lỗ khoan khai thác trong các tầng chứa nước này. Đây còn là nguồn tài liệu để thiết kế thi công các dạng công tác tiếp theo của dự án hợp lý và hiệu quả.

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: