Tue03022021

Last update01:02:01 AM GMT

Các vấn đề về tài nguyên nước dưới đất ở đô thị Cà Mau

Cà Mau là tỉnh ven biển cực Nam của Việt Nam thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long với 3 mặt tiếp giáp biển, có nền kinh tế sản xuất nông nghiệp và thủy sản là chủ yếu. Tỉnh Cà Mau có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm TP. Cà Mau và các huyện: Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình, Phú Tân, Cái Nước, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển. Vì vậy các vấn đề về tài nguyên nước dưới ở đô thị Cà Mau có những đặc điểm sau:
a. Cạn kiệt và nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất
Theo số liệu tại các công trình quan trắc động thái nước dưới đất khu vực thành phố Cà Mau cho thấy:
+ Tầng qp2-3: mực nước quan trắc tại công trình Q188020 (phường 5, Tp. Cà Mau) từ năm 2004 đến năm 2015 giảm tổng cộng khoảng 5,1m, tương ứng với tốc độ hạ thấp mực nước 0,46m/năm.
+ Tầng qpi: mực nước quan trắc tại công trình Q188030 (phường 5, Tp. Cà
Mau) từ năm 2004 đến năm 2009 giảm tổng cộng khoảng 4,3m, tương ứng với tốc độ hạ thấp mực nước 0,86m/năm (xem Hình II.5).
+ Tầng n22: mực nước quan trắc tại công trình Q17704T (phường 9, Tp. Cà Mau) từ năm 2004 đến năm 2015 giảm tổng cộng khoảng 8,7m, tương ứng với tốc độ hạ thấp mực nước 0,79m/năm.
2a-17-1Biểu đồ diễn biến mực nước tầng chứa nước n22
+ Tầng m1: mực nước quan trắc tại công trình Q17704Z (phường 9, Tp. Cà Mau) từ năm 2004 đến năm 2011 giảm tổng cộng khoảng 7,0m, tương ứng với tốc độ hạ thấp mực nước 1,0m/năm (xem Hình II.7).
2a-17-2Biểu đồ diễn biến mực nước tầng chứa nước n21
b. Ô nhiễm nước dưới đất
Theo các kết quả nghiên cứu ở giai đoạn trước cho thấy, nước dưới đất ở khu vực thành phố Cà Mau chủ yếu ô nhiễm hợp chất Nitơ (NH4+, NO2-, NO3') dưới dạng điểm ô nhiễm cục bộ.
c. Nhiễm mặn nước dưới đất
Không kể các tầng chứa nước qh, qp3 và n13 bị mặn hoàn toàn, khu vực thành phố Cà Mau tồn tại ranh giới mặn - nhạt của 3 tầng chứa nước qp2-3, qp1, m1. Riêng tầng chứa nước n22 trong vùng nhạt hoàn toàn, ranh giới mặn nhạt gần nhất của tầng nằm ở phía nam và cách thành phố khoảng 3km thuộc phạm vi mở rộng vùng nghiên cứu.
d. Sụt, lún nền đất
Theo báo cáo kết quả sơ bộ của Viện Địa kỹ thuật Na Uy (NGI) cho thấy ở tỉnh Cà Mau có thể bị sụt lún nghiêm trọng từ trên bề mặt xuất phát từ hoạt động khai thác nước ngầm của 109.096 giếng với tổng lưu lượng khoảng 373.000m3/ngày đêm. Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ sụt lún từ 1,56 - 2,30cm/năm. Nghiên cứu của NGI cũng chỉ ra, trong vòng 15 năm (1998-2013), tốc độ sụt lún mặt đất từ 30-80cm và theo dự báo trong vòng 25 năm tới, tốc độ sụt lún sẽ tăng lên 90-150cm và 210cm trong vòng 50 năm tới. Theo kết quả nghiên cứu năm 2016 của Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Nam (thuộc Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam) cho thấy, nơi sụt lún sâu nhất ở Cà Mau đo được là 1,71cm/năm, sụt lún trung bình do khai thác nước ở Cà Mau khoảng 0,35cm/năm. Kết quả nghiên cứu cũng xác định có 3 nguyên nhân gây nên sụt lún mặt đất gồm sụt lún cấu kết do trầm tích trẻ, do khai thác nước và do chuyển động kiến tạo.
II.2. Nội dung, phương pháp điều tra, đánh giá và bảo vệ nước dưới đất
Để xác định được các nội dung, phương pháp thực hiện Đề án, trước hết cần thống nhất các quan điểm và nguyên tắc chính sau :
- Bảo vệ nước dưới đất chính là áp dụng các giải pháp nhằm phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu sự cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn.
Bảo vệ nước dưới đất không phải chỉ bảo vệ tài nguyên nước dưới đất phân bố trong phạm vi hành chính của đô thị mà phải bảo vệ cả miền cấp, miền phân bố và khu vực khai thác.
- Bảo vệ nước dưới đất phải lấy phòng ngừa là chính, kết hợp với việc khắc phục, hạn chế ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt nguồn nước dưới đất.
Cách tiếp cận chính để xây dựng được các nội dung, phương pháp thực hiện đề án là: Muốn bảo vệ được nước dưới đất khỏi bị cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn thì phải hiểu rõ sự tồn tại, phân bố của nó; khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước; các tác động gây tổn thương cho nước dưới đất; đánh giá mức độ cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất; từ đó mới đưa ra và thực hiện các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ.

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: