Sun02282021

Last update05:41:13 AM GMT

Các đặc điểm của tầng chứa nước nghiên cứu ở khu vực vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc bộ đến nay

Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ phần thuộc lãnh thổ Việt Nam gồm hai tỉnh, thành phố có tuyến vành đai kinh tế đi qua là Quảng Ninh và Hải Phòng, có diện tích tự nhiên 7.418,8 km2, dân số gần 2,9 triệu người, chiếm 2,24% diện tích tự nhiên và 3,44% dân số cả nước.
Hiện nay, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, các khu đô thị, khu du lịch và công nghiệp phát triển với tốc độ cao, do đó nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng. Việc khai thác nước dưới đất một cách tùy tiện; xây dựng các công trình khai thác nước không đúng quy cách trong khi chưa luận chứng được tính bền vững và khả năng đáp ứng của các tầng chứa nước đã dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực như suy thoái, cạn kiệt tầng chứa nước, nhiễm mặn, nhiễm bẩn, lún mặt đất... Mặt khác, nước thải sinh hoạt và công nghiệp lại được xả trực tiếp vào các sông suối (nguồn bổ cập chủ yếu cho nước dưới đất) mà không được xử lý, điều đó càng làm trầm trọng thêm sự ô nhiễm vốn sẵn có của các nguồn nước này, đặc biệt là khu vực vũng vịnh. Các hoạt động dân sinh, kinh tế trên khu vực dự án cũng như phía thượng nguồn ảnh hưởng ít nhiều đến diễn biến tài nguyên nước cũng như làm biến đổi lòng dẫn của các con sông mà sự biến động này chưa được đánh giá đầy đủ.
Kết quả phân tích, đánh giá tài nguyên nước dưới đất đã chỉ ra trong khu vực Móng Cái – Hải Hà bao gồm 5 tầng chứa nước và các thành tạo địa chất nghèo nước
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích  bở rời Holoxen (qh)
Tầng chứa nước Holocen phân bố rộng rãi ở phía nam, đông nam và rải dác một ít ở phía bắc vùng chiếm diện tích khoảng 540 km2. Thành phần thạch học bao gồm nhiều nguồn gốc khác nhau như sông, sông biển, trầm tích hỗn hợp, trầm tích đầm lầy bao gồm: Cuội, sạn, cát, sét, sét pha cát, sét bột, sét bùn. Chiều dày tầng chứa nước thay dổi từ 2 đến 10 m. Theo tài liệu thu thập được trong giai đoạn trước gồm 636 giếng đào, 5 nguồn lộ và 4 lỗ khoan. Chiều sâu mực nước tĩnh từ 0,3 - 8 m. Phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố khí tượng thủy văn và thủy triều. Lưu lượng các nguồn lộ Q < 0,1 l/s 5 nguồn, các lỗ khoan lưu lượng 0,023 - 0,05 l/s. Trung bình 0,04 l/s (KT12, KT15). Các giếng đào có lưu lượng thay đổi từ 0,3 l/s (QN.40) đến 0,5 l/s (QN.1362). Độ tổng khoáng hóa từ 0,05 g/l (QN.1388) đến 0,21g/l, trung bình 0,097 g/l. Độ pH = 7,4 (QN.1642) - 8,3 (QN.01), trung bình 7,67. Nước thuộc loại nhạt.
- Đối với diện tích nhiễm mặn 263,5 km2. Tài liệu thu thập ít chỉ có một giếng đào (QN3210) có tổng khoáng hóa  M = 6,5 g/l.
Tầng xếp vào loại nghèo nước. Động thái thay đổi theo mùa và phụ thuộc vào yếu tố khí tượng thủy văn và thủy triều. Nguồn cấp là nước mưa, nước mặt. Miền thoát là sông, biển và ngấm xuống tầng phía dưới.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Pleistocen (qp)
Tầng chứa nước Pleistocen lộ ra một ít ở phía bắc khoảng 1,6 km2 tại xã Hải Sơn, TP Móng Cái, và ở khu vực trung tâm 4,8 km2 tại các xã Quảng Sơn, Quảng Long, huyện Hải Hà. Phần còn lại bị phủ hoàn toàn bởi các trầm tích Holocen và nằm trực tiếp lên trên bề mặt đá gốc diện tích bị phủ khoảng 500 km2.
Nguồn gốc thành tạo sông lũ tích, biển, trầm tích hỗn hợp, thành phần thạch học gồm cuội, sạn, cát sét, sét pha cát, cát, sỏi, cuội tảng. Chiều day dao động từ  5 – 25 m (lỗ khoan MC1, MC2). Chiều sâu mực nước tĩnh giao động từ 0,3m – 12,3 m (LK1 – QN.1642). Mực nước dao động phụ thuộc vào các yếu tố khí hậu và thủy triều. Lưu lượng dao động từ 0,005 – 3,57 l/s.
Kết quả tích 2 mẫu nước cho thấy, nước thuộc loại nhạt, độ tổng khoáng hóa M = 0,09 – 0,21 g/l (QN.1287 – QN.1323). Độ pH = 7,5 – 8,02 (QN.1294 – QN.1258). Loại hình hóa học của nước là Bicarbonat-clorur-calci-natri và Bicarbonat-calci.
Tầng được xếp vào loại có mức độ chứa nước nghèo đến trung bình. Nguồn cấp là nước mưa nước mặt, và nước từ tầng trên ngấm xuống. Miền thoát là ngấm xuống tầng chứa nước phía dưới.
Tầng chứa nước khe nứt trong các trầm tích lục nguyên hệ tầng Hà Cối (j1-2)
Các trầm tích hệ tầng Hà Cối (J1-2hc) phân bố thành dải có phương đông bắc – tây nam bắt đầu từ xã Đại Bình, Quảng Lâm Quảng phong, Quảng Long, Quảng Thành huyện Hải Hà đến xã Quảng Nghĩa, Hải Tiến, hải Đông, Hải Yên và thành chỏm ở xã Hải Hòa TP. Móng Cái. Chiếm diện tích 234.38 km2, thành phần thạch học gồm: cát kết, bột kết, cuội kết, sạn kết, phiến sét, chiều dày tầng chứa nước từ 10 – 50 m. Theo các tài liệu khảo sát giai đoạn trước đã khảo sát 213 nguồn lộ nước, 189 giếng đào, 37 lỗ khoan. Các nguồn lộ có lưu lượng Q dao động từ 0,025 đến 0,06 l/s. Trong đó tại khu vực TP Móng Cái có 8 nguồn lộ có lưu lượng > 0,1 l/s chiếm 3,8%, 191 nguồn lộ có lưu lượng < 0,1 l/s chiếm 91,2%. Đã khoan vào địa tầng 15 lỗ khoan. Kết quả hút nước thí nghiệm 3 lỗ khoan cho thấy. Chiều dày tầng chứa nước dao động từ 10 m – 45 m. Lưu lượng dao động từ 0,5 – 5,36l/s. Độ pH = 7,99 – 8,66. Độ tổng khoáng hóa M = 0,05 – 0,545 g/l. Nước thuộc loại nước nhạt  M = 0,5 – 0,5g/l 3. Tầng được xếp vào loại có mức độ nghèo nước hệ số thấm trung bình k = 0,008 m/ng; hệ số nhả nước trung bình = 0,03. Loại hình hóa học của nước Bicarbonat – calci, hoặc Bicarbonatclorur – calci.
Nước bicarbonat- calci- natri chiếm 28,7%
Nước clorua bicarbonat- natri – calci chiếm 16,2%
Nước bicarbonat clorua- natri – calci chiếm 13%
Tổng khoáng hoá đều <1g>
Nước thuộc loại không áp hoặc áp lực yếu. Động thái thay đổi theo mùa. Miền cấp là nước mưa, nước mặt,  nước từ tầng bên trên ngấm xuống. Miền thoát sông, suối, khe rãnh xâm thực.
Tóm lại, nước dưới đất trong hệ tầng trias (j1-2) được tàng trữ và lưu thông qua khe nứt, tầng chứa nước từ nghèo đến trung bình (mức độ chứa nước trung bình chỉ tập trung phân hệ tầng giữa, tuy nhiên mức độ chứa nước là không đều) vì vậy chỉ có khả năng cấp nước cho cụm dân cư nhỏ.
Tầng chứa nước khe nứt trong các trầm tích lục nguyên - phun trào, Trias trung (t2)
Tầng chứa nước Trias trung bao gồm các thành tạo địa chất thuộc các hệ tầng ; Bình Liêu, Pò Hèn, Tiên Yên.
Tầng chứa nước trias trung có diện phân bố khá rộng kéo dài thành dãi chạy theo hướng đông bắc – tây nam, từ xã Quảng Sơn huyện Hải Hà đến xã Bắc Sơn TP. Móng Cái, với diện lộ khoảng 289 km2. Thành phần Thành phần là các đá gồm phun trào axits bị biến đổi nhiệt dịch, dăm núi lửa, tuf aglomerat, cát kết tuf, tufogen, cát sạn kết tuf, cuội kết tuf xen kẹp đá bột kết, cát kết màu tím, cuội kết, cuội sạn kết đa thành phần. Đá bị biến đổi nứt nẻ mạnh, khe nứt phát triển nhiều, thường là những khe nứt hở. Tài liệu quan trắc đơn giản địa chất thủy văn ở lỗ khoan 1 và 2 khu vực Pình Hồ cho thấy đôi chỗ trong khi khoan, lỗ khoan thường mất nước mạnh, ở lỗ khoan 1 với độ sâu 19,5m đến 24,0m, ở lỗ khoan 2 ở độ sâu 23m. Lưu lượng các nguồn lộ từ 0,08l/s đến 0,15l/s, tài liệu bơm thí nghiệm trong báo báo lập bản đồ địa chất tại lỗ khoan 112 khu vực Tấn Mài cho Q = 2,14l/s, S = 34,13m, q=0,0628l/sm, K = 0,0194m/ng. Lỗ khoan I39 khu vực Tấn Mài cho Q = 0,11l/s; S = 13,6m; q = 0,008l/sm; K = 0,015m/ng.
Kết quả phân tích thành phần hóa học mẫu nước cho thấy độ tổng khoáng hóa M dao động từ 0,048 g/l đến 0,171 g/l, trung bình 0,118 g/l. Độ pH = 7,35 – 7,75 trung bình 7,51, nước nhạt. Loại hình hóa  học của nước Bicarbonat calci.
Nguồn cung cấp nước cho hệ tầng chủ yếu là nước mưa, nước mặt, các tầng chứa nước nằm trên nó, miền thoát là các thung lũng địa hình bị phân cắt, nước dưới đất thoát qua các nguồn lộ nhỏ phân bố rải rác trên diện tích của hệ tầng và một phần nó cung cấp nước cho các tầng nằm dưới nó.
Tóm lại, nước dưới đất trong hệ tầng trias (t2) được tàng trữ và lưu thông qua khe nứt, khả năng thấm và chứa nước từ nghèo đến trung bình, có khả năng cấp nước cho cụm dân cư nhỏ.
Tầng chứa nước khe nứt trong các trầm tích lục nguyên hệ tầng Tấn Mài (o3-s1)
Tầng chứa nước thuộc hệ tầng Tấn Mài có diện phân bố tương đối rộng chạy theo phương tây bắc – đông nam theo dải bắt đầu từ Xã Quảng Lâm, Tiến Tới, Quảng Long, Quảng Thịnh, Quảng Thành huyện Hải Hà, đến xã Quảng Nghĩa, Hải Sơn, Hải Tiến, Hải Đông, Bắc Sơn, Tp.Móng Cái.
Thành phần chủ yếu gồm các đá phiến, đa phiến thạch anh serixit, đá phiến sét, phiến sét sọc dải, xen kẹp ít lớp bột kết, cát kế phân lớp mỏng, đá bị biến chất mạnh, mức độ gắn kết chắc, bị ép phiến mỏng, khe nứt phát triển nhiều, độ mở khe nứt nhỏ, dễ tách phiến mỏng, đá uốn lượn vò nhàu. Địa hình trong vùng cao bị phân cắt mạnh, hệ thống khe suối phát triển mạnh, tuy nhiên về mùa khô hầu hết bị cạn, thực vật kém phát triển, độ cao tuyệt đối từ 400 đến 900m. Bề dày của hệ tầng lớn hơn 500m. Chiều dày đới chứa nước trung bình khoảng 62,5m. Diện tích phân bố khoảng 167 km2. Hệ số thấm trung bình là K = 0,006 m/ng; Hệ số nhả nước trung bình: µ = 0,02. Các đá của trầm tích lục nguyên - biến chất gắn kết chắc, bị ép phiến mỏng nứt nẻ nhiều, độ mở khe nứt nhỏ, các khe nứt phát triển vuông góc với mặt lớp và mặt ép phiến, đá bị uốn lượn, vò nhàu khả năng thấm nước yếu, các khe suối nhỏ trong vùng đều bị khô cạn vào mùa khô, nguồn xuất lộ nước thưa. Trong diện phân bố của các hệ tầng đã khảo sát nghiên cứu được 29 điểm nước, lưu lượng các nguồn lộ nước nhỏ từ 0.01 l/s – 0.04 l/s, nước xuất lộ dưới dạng thấm rỉ hoặc các mạch lộ nhỏ, nước tàng trữ và lưu thông trong khe nứt, nước trong, không mùi, vị ngọt. Kết quả phân tích thành phần hóa học mẫu nước cho thấy độ tổng khoáng hóa M dao động từ 0,045 – 0,131 g/l, trung bình 0,08 g/l. Độ pH = 7,40 – 8,53 trung bình 7,45. Nước thuộc loại nhạt. Loại hình hóa  học của nước Bicarbonat -Clorua calci chiếm 6.6%, hoặc Bicarbonat calci chiếm 93.4%.
Nguồn cung cấp nước chủ yếu là nước mưa, nước mặt, miền thoát là các thung lũng phân cắt địa hình, nước dưới đất thoát qua các nguồn lộ nhỏ.
Tóm lại: các tầng thấm nước và chứa nước yếu, nguồn xuất lộ nước thưa, lưu lượng các nguồn lộ nước nhỏ, khả năng cung cấp nước cho nền kinh tế quốc dân rất hạn chế, là các tầng rất nghèo nước.
Các thành tạo địa chất nghèo nước
Các thành tạo địa chất rất nghèo nước hoặc không chứa nước bao gồm các đá magma xâm nhập lộ ra với diện tích khoảng 118 km2, rất phức tạp về thành phần, gồm các đá từ siêu mafic đến axit và kiềm, gồm các phức hệ sau:
- Phân hệ tầng trên hệ tầng Tấn Mài (O3-S1tm2), có diện phân bố tương đối rộng chạy từ tây bắc –  đông nam, diện tích phân bố khoảng 71 km2 đất đá đặc trung trong các tầng này chủ yếu là các thanhg phần hạt mịn gồm đá phiến sét chứa sericit láng bóng, đá phiến sét sọc dải, đá sét kết phân phiến xen kẹp các lớp bột kết và cát kết, granit porphyr, prannophyr, granodiorit porphyr.
Phức hệ Núi Điệng phân bố tại phía bắc huyện Hải Hà chiếm diện tích khoảng 42,8 km2. Thành phần thạch học gồm granit porphyr, granophyr, granodiorit porphyr. Đá có kiến trúc porphyr, cấu tạo khối.
Phức hệ Pia Oắc ( K2po) lộ ra ra ở phía đông bắc một khối nhỏ diện tích 4 km2. Thành phần thạch học gồm granit biotit - amphybol. Granithaimica chứa turmalin.
Tuy nhiên,  mức độ nghiên cứu ở giai đoạn trước còn hạn chế và đặc điểm về địa chất, địa chất thuỷ văn, cấu trúc, kiến tạo…trong tỉnh rất phức tạp. Việc đánh giá các tầng đất đá trên là rất nghèo nước và cách nước là dựa trên kết quả các lỗ khoan hút nước thí nghiệm ở các giai đoạn thăm dò nước dưới đất trong vùng. Qua khảo sát cho thấy các thành tạo địa chất này thường phân bố trên địa hình núi cao, mức độ phân cắt mạnh, rải rác thuộc các xã Quảng Sơn, Quảng Đức, Quảng Thành. Độ cao xuất lộ nước thường từ khoảng 200- 300m, mật độ xuất lộ không đều, thường ở dạng thấm rỉ.

Newer news items:
Older news items: