Sun02282021

Last update05:41:13 AM GMT

Hiện trạng sụt lún đất nền tại thành phố Hà Nội

Quá trình khai thác nước ngầm tại Hà Nội bắt đầu từ năm 1909. Nhưng mãi đến năm 1988, tức là sau 80 năm khai thác nước trên cơ sở các tài liệu hiện có, đã xây dựng 32 mốc quan trắc lún tại Hà Nội và các điểm điển hình, đồng thời tiến hành quan trắc lún mặt đất. Khi đó, người ta tiến hành đo đạc 1 năm 1 lần vào mùa khô các năm 1988, 1989, 1990, 1991. Đến năm 1996 số mốc quan trắc lún là 45 điểm và cho đến nay các mốc đo lún này không còn hoạt động.
Ngoài ra, UBND thành phố Hà Nội đã giao cho Viện Kỹ thuật xây dựng Hà Nội, Sở Xây dựng Hà Nội triển khai đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố "Điều tra đánh giá, dự báo biến dạng lún bề mặt đất khu vực Hà Nội do thay đổi mực nước ngầm. Xác lập cơ sở hoàn thiện hệ thống các trạm quan trắc biến dạng lún của Hà Nội". Đây là một đề tài nghiên cứu liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên ngành, được tiến hành thận trọng, công phu và lần đầu tiên tiến hành tại Việt Nam, UBND thành phố Hà Nội đã chỉ đạo thực hiện từng bước và theo nhiều giai đoạn. Cho đến nay, quá trình nghiên cứu có thể chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (1991 - 1992): Nghiên cứu tổng quan hiện tượng sụt lún bề mặt đất Hà Nội do thay đổi mực nước ngầm. Bước đầu đề xuất với Thành phố Hà Nội phê duyệt dự án xây dựng 06 trạm đo lún bề mặt đất, đặt bên trong phạm vi các nhà máy nước do Công ty TNHH MTV nước sạch Hà Nội quản lý.
- Giai đoạn 2 (1992 - 1997): Triển khai thực hiện dự án xây dựng 06 trạm đo lún bề mặt đất. Tiến hành quan trắc tại các điểm đo và lập mô hình tính toán độ lún bề mặt tại 06 trạm đo (thời gian 1999 -2000).
Năm 1991 - 1993: Thiết kế - thi công xây dựng thử nghiệm trạm số 1 - Ngọc Hà.
Năm 1995: Thiết kế - thi công xây dựng trạm số 2 - Pháp Vân.
Năm 1996: Thiết kế - thi công xây dựng trạm số 3 - Thành Công.
Năm 1997: Thiết kế - thi công xây dựng 3 trạm còn lại (số 4 - Lương Yên, số 5 - Hạ Đình, số 6 - Mai Dịch).
2a-3Bản đồ lún bề mặt đất khu vực nội thành Hà Nội và phụ cận tính từ dữ liệu Cosmo-Skymed giai đoạn 2011-2013
- Giai đoạn 3 (2000 - 2005) hoàn thành mạng lưới trạm đo biến dạng lún bề mặt đất toàn bộ khu vực Hà Nội.
Tính đến thời điểm năm 2014, mạng quan trắc lún trên địa bàn thành phố Hà Nội gồm 14 trạm quan trắc và hầu hết được bố trí trùng với tâm các bãi giếng khai thác nước dưới đất nhằm mục đích vừa quan trắc lún bề mặt đất, vừa theo dõi ảnh hưởng của việc khai thác nước dưới đất đến sụt lún mặt đất.
Kết quả quan trắc tại những trạm quan trắc lún cho thấy tại những trạm có tồn tại lớp đất yếu (bùn, than bùn, đất hữu cơ, sét - sét pha dẻo chảy, chảy), tốc độ lún bề mặt đất tương đối lớn như Thành Công (41,02 mm/năm), Ngô Sĩ Liên (27,14 mm/năm), Pháp Vân (22,02 mm/năm). Những trạm không tồn tại lớp đất yếu có tốc độ lún bề mặt nhỏ như Ngọc Hà (1,80 mm/năm), Mai Dịch (2,28 mm/năm), Đông Anh (1,41 mm/năm). Những trạm có vị trí gần sông Hồng có độ lún bề mặt đất nhỏ hơn vì mực nước ngầm được nước sông cung cấp một phần như Lương Yên (16,85 mm/năm), Gia Lâm (12,99 mm/năm). Kết quả quan trắc tại 14 trạm nói trên có độ chính xác cao và có thể khẳng định rằng quá trình hạ thấp mực nước ngầm đã gây nên hiện tượng sụt lún bề mặt đất tại những vị trí khai thác. Vì những trạm đo lún nói trên hầu hết được đặt tại tâm phễu lún (trong phạm vi các nhà máy nước) nên nó chỉ phản ánh được độ lún riêng lẻ tại nơi khai thác nước ngầm mà chưa thể hiện được phạm vi ảnh hưởng (bán kính) của phễu lún cũng như khả năng ảnh hưởng của các phễu lún.
Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu bước đầu thuộc Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp dự báo lún mặt đất thành phố Hà Nội bằng kỹ thuật ra-đa giao thoa” của TS Trần Quốc Cường - Viện địa chất thuộc Viện hàn lâm khoa học Việt Nam cho thấy, trong giai đoạn 2011 - 2013 khu vực nội thành Hà Nội và vùng phụ cận đều bị lún nền đất với tốc độ 2 - đến >10 cm/năm, trong đó khu vực phía Nam (quận Hoàng Mai, huyện Thanh Trì) có tốc độ lún cao >10 cm/năm (hình 17).

Newer news items:
Older news items: