Fri12032021

Last update03:11:03 AM GMT

Các tầng chứa nước dưới đất của tỉnh Bắc Ninh có đặc điểm như thế nào ?

There are no translations available.

Trả lời:
1. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh)
Các trầm tích thuộc hệ tầng Thái Bình nguồn gốc sông, lộ ra rải rác khắp tỉnh. Đối với tỉnh Bắc Ninh tầng chứa nước này phân bố không liên tục, những nơi lộ thành tạo cách nước mQ13vp thì tầng chứa nước này vắng mặt. Thành phần thạch học chủ yếu là cát, cát pha màu xám, xám đen có chứa mùn thực vật. Chiều dày của tầng chứa nước biến đổi từ 0 đến 2,0 đến 32,00 m, trung bình 8,1 m. Mức độ chứa nước từ trung bình đến nghèo tùy thuộc chiều dày của chúng. Tầng này thường có mực nước tĩnh nằm nông (cách mặt đất 0,45 đến 8m) và có mặt thoáng tự do, thường xuyên được bổ cập từ nước mưa và nước mặt. Tài liệu hút nước thí nghiệm tại LK.6C4655 có mực nước tĩnh 0,45m, hạ thấp mực nước 6m, lưu lượng 0,6l/s. Động thái của nước phụ thuộc chế độ khí tượng thủy văn. Nguồn nước nhạt của tầng chứa nước này có chất lượng tốt, được nhân dân trong tỉnh khai thác sử dụng.
2. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp)
Tầng chứa nước lỗ hổng có áp Pleistocen (qp) bao gồm đất đá thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc (aQ13 vp) và hệ tầng Hà Nội (aQ12-3 hn) diện tích lộ ra khoảng 43 km2 tại các xã Phượng Mao, Nhân hoà, Việt Thống, Bằng An huyện Quế Võ, còn đa phần bị phủ bởi tầng qh hoặc các lớp sét Vĩnh Phúc. Thành phần là cát, cuội và sạn. Sự phân bố của chúng không đồng đều trên diện tích của tỉnh, phụ thuộc vào bề mặt đá gốc. Nóc tầng thường thay đổi từ 5m đến hơn 20m, đáy tầng sâu nhất đến 75m, chiều dày trung bình 38m. Đây là tầng chứa nước có áp, mực nước tĩnh thường nằm nông, sâu nhất khoảng 4m đôi chỗ bằng và gần bằng mặt đất. Đây là tầng giàu nước, lưu lượng lỗ khoan lớn nhất tới 25,31 l/s tại LK. 6C4550. Hệ số dẫn nước từ 603 đến 2.099m2/ng. Tầng chứa nước này giàu nước có giá trị cung cấp nước và hiện đang được nhân dân trong tỉnh khai thác các khoảnh nước nhạt.
3. Tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng trong trầm tích Neogen (n)
Tầng chứa nước này không lộ trên mặt chỉ phân bố ở huyện Thuận Thành và huyện Lương Tài, ở dải phía tây từ Từ Sơn kéo sang Hà Nội, chiều sâu phân bố từ 50 đến khoảng 280m ( ở Từ Sơn-LK. 6C4642) ( Xem mặt cắt  tuyến (B1 - N1 và B2 - N2). Thành phần gồm cát kết, sét kết sạn kết cuội kết gắn kết yếu. tầng này thuộc loại giàu nước, tài liệu hút nước thí nghiệm tại LK.6C4642 có lưu lượng 7,1l/s. Nước trong tầng vận động dưới dạng áp lực. Nguồn cung cấp nước cho tầng nguồn cung cấp nước cho tầng chủ yếu là nước mưa và nước mặt (sông hồ) thông qua tầng chứa nước trên nó bởi các "Cửa sổ địa chất thuỷ văn”. Nước trong tầng bao gồm cả nước nhạt và nước mặn tổng khoáng hóa từ 0.089  đến 1,67g/l . Loại hình hóa học của nước chuyển dần từ Bicarbonát canci đến Clorua Bicarbonat Canci Natri, nước mặn có loại hình Clorua Natri. Nước trong tầng chứa nước này thường có hàm lượng sắt cao. Tầng chứa nước này có diện phân bố hầu hết trong tỉnh và bị các trầm tích có tuổi hơn phủ kín. Mức độ chứa nước phong phú, chất lượng không đồng đều. Tầng chứa nước này giàu nước có giá trị cung cấp nước.
4. Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích hệ Triat muộn (t3 )
Tầng chứa nước này đa phần bị phủ chỉ lộ ra ở núi Hàm Long, một khoảnh phía Nam đồi Đáp Cầu, phía Đông thị xã Bắc Ninh, xã Vân Dương, xã Phong Châu, huyện Quế Võ, khu huyện lỵ Tiên Sơn và rải rác một số đồi nhỏ phố núi xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, còn lại chìm dưới tầng chứa nước n và qp. Thành phần thạch học là : sạn kết, cuội kết, cát kết lẫn bột kết, đá phiến sét, sét than và đá phun trào gắn kết chặt. Chiều dày trung bình 300 m. Tầng chứa nước này thuộc loại nghèo nước, nhưng mức độ chứa nước không đều cả theo diện và theo chiều sâu; đôi khi gần các đứt gãy có thể gặp lỗ khoan có lưu lượng trung bình nhưng ít gặp. Nước trong tầng báo gồm cả nước nhạt và nước mặn, ở phần lộ thường chứa nước nhạt. Động thái của nước phụ thuộc chế độ khí tượng thủy văn, có lẽ nguồn cung cấp cho tầng chủ yếu là nước mưa. Nhìn chung tầng chứa nước này ít có giá trị cung cấp nước.
5. Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích hệ triat giữa hệ tầng Nà khuất (t2 nk)
Tầng này chỉ lộ ra một chỏm nhỏ khoảng 1km2 thuộc xã Yên Phụ huyện Yên Phong, thành phần chủ yếu là cát kết, bột kết. Tầng có chiều dày 200 m, chưa có lỗ khoan nào nghiên cứu tầng chứa nước này. Dựa vào tài liệu giếng khoan của nhân dân chúng tôi xếp tầng vào loại nghèo nước
6. Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích Péc mi hệ tầng Bãi Cháy (p2)
Chỉ lộ ra phía nam xã Nam Sơn Huyện Quế Võ với diện lộ chừng 0,5 km2 thành phần gồm  Silic, đá phiến silic đặc xít không nứt nẻ, chưa có tài liệu nghiên cứu, dựa vào thành phần thạch học tác giả xếp vào loại nghèo đến cách nước.

Newer news items:
Older news items: