Wed02242021

Last update05:41:13 AM GMT

Quy Hoạch Tài Nguyên Nước Sông Bằng Giang - Kỳ Cùng Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế - Xã Hội Các Tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn Nói Riêng Và Vùng Đông Bắc Bộ Nói Chung

Bằng Giang - Kỳ Cùng là một trong 10 lưu vực sông lớn của nước ta và là lưu vực sông có nguồn nước liên quốc gia giữa Việt Nam - Trung Quốc với diện tích lưu vực 10.847 km2 thuộc 3 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Kạn.

Là lưu vực sông nằm trong vùng động lực phát kinh tế của vùng Đông Bắc làm cho nhu cầu khai thác, sử dụng nước của các ngành, địa phương trong lưu vực sông đang tăng nhanh với nhu cầu nước hiện tại khoảng 630 triệu m3 đến năm 2035 là 1,14 tỷ m3 tăng gấp 1,8 lần so với hiện tại.

Ngoài những khó khăn, thách thức về nguồn nước, khai thác, sử dụng nước trên lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng còn đang phải đối mặt với những bất cập trong công tác quản lý khai thác, sử dụng nước của các ngành, địa phương trên lưu vực. Hiện nay, hầu hết các ngành, địa phương trên lưu vực đã có quy hoạch khai thác, sử dụng nước như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch thủy điện…và quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh. Tuy nhiên, các quy hoạch này mới chỉ tập trung vào việc đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng nước đáp ứng nhu cầu của từng ngành, địa phương mà chưa có đánh giá tổng thể về khả năng khai thác, sử dụng của từng nguồn nước trên lưu vực cũng như chưa xác định được chức năng của nguồn nước, các nguồn nước ưu tiên cho phát triển mang tính chiến lược trên lưu vực sông,… từ đó có giải pháp phân bổ và bảo vệ tài nguyên nước mang tính tổng hợp.

Dự án Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng hoàn thành vào cuối năm 2018, đã nghiên cứu xem xét đánh giá, tính toán dự báo nhu cầu sử dụng nước; tính toán tiềm năng nguồn nước mặt, nước dưới đất; tính toán lượng nước có thể phân bổ; đưa ra phương án phân bổ nguồn nước cho các ngành, từng địa phương trong điều kiện bình thường và trong điều kiện hạn hán, thiếu nước. Đối với nội dung bảo vệ tài nguyên nước đã nghiên cứu, đánh giá được chất lượng trên toàn bộ lưu vực, các tiểu lưu vực và các nguồn nước chính phục vụ cho khai thác, sử dung, phân vùng chức năng, phân vùng chất lượng nước mặt và nước dưới đất từ đó đề xuất được các yêu cầu về chất lượng nước, chức năng và mục đích sử dụng của các nguồn nước, đánh giá được mức độ cạn kiệt của các tầng chứa nước chính, đề xuất ngưỡng khai thác hợp lý nhằm bảo vệ các tầng chứa nước này. Đồng thời đề xuất mạng giám sát chất lượng nước trên toàn lưu vực.

 

1a-1Bản Đồ Vị Trí Điểm Phân Bổ Nguồn Nước

Kết quả chính đạt được như sau:

- Đã tính được tổng lượng tài nguyên nước trên lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng là 10,796 tỷ m3, trong đó lượng nước mặt là 8,2 tỷ m3 chiếm 74% tổng lượng nước toàn lưu vực, lượng nước dưới đất là 2,59 tỷ m3, chiếm 26% tổng lượng nước toán lưu vực;

- Xác định được nhu cầu sử dụng nước của ngành kinh tế đặc biệt là ngành nông nghiệp, sinh hoạt, thủy sản, chăn nuôi, công nghiệp... Kết quả tính toán cho thấy nhu cầu nước trong giai đoạn tới sẽ tăng nhanh từ 628,01 triệu m3/năm lên 781,85 triệu m3/năm vào năm 2020, đến năm 2025 nhu cầu nước sẽ tăng lên 882,60 triệu m3/năm, đến năm 2030 nhu cầu nước sẽ tăng lên 999,55 triệu m3/năm và đến năm 2035 là 1.139,99 triệu m3/năm. Trong kỳ quy hoạch ngành nông nghiệp dùng nhiều nước nhất với nhu cầu khoảng 897 triệu m3 vào năm 2035, ngành du lịch sử dụng ít nước nhất với nhu cầu là 3,69 triệu m3 vào năm 2035;

- Phân vùng chức năng nguồn nước trong kỳ quy hoạch cho 6 sông: Bằng Giang, Kỳ Cùng, Hiến, Minh Khai, Bắc Giang và Bắc Khê.

- Xây dựng 3 phương án quy hoạch phân bổ tài nguyên nước mặt, tính toán cân bằng nước cho từng phương án, lựa chọn phương án quy hoạch và xác định lượng nước phân bổ cho từng nhu cầu nước trên cơ sở lượng nước theo các mức tần suất khác nhau theo phương án được chọn.

- Đề xuất công trình khai thác, sử dụng nước và phát triển nguồn nước mặt trên lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, trong đó: sông Kỳ Cùng xây mới 6 hồ chứa, 25 đập dâng với dung tích hữu ích W = 24,07 triệu m3; sông Bắc Khê xây mới 5 hồ chứa, 3 đập dâng với dung tích hữu ích W = 3 triệu m3; sông Bắc Giang xây mới 5 hồ chứa, 29 đập dâng với dung tích hữu ích W = 3,68 triệu m3; sông Pó Pịa xây mới 3 hồ chứa, 28 đập dâng với dung tích hữu ích W = 5,48 triệu m3; Xây mới công trình hồ chứa Bản Lải với dung tích hữu dụng W = 147,72 triệu m3; sông Bằng Giang xây mới 11 hồ chứa, 36 đập dâng với với dung tích hữu ích W = 11 triệu m3; sông Bắc Vọng xây mới 5 hồ chứa, 10 đập dâng với dung tích hữu ích W = 4,91 triệu m3; Phát triển 41 bậc thủy điện, kết hợp tạo nguồn trên lưu vực sông Bằng Giang với lưu lượng trữ được trên các nguồn nước như sau: Dòng chính sông Bằng Q = 30,56 m3/s, sông Bắc Vọng Q = 3,78 m3/s, sông Hiến Q = 6,2 m3/s, sông Dẻ Rào Q = 4,118 m3/s, sông Nguyên Bình Q = 0,954 m3/s, sông Vi Vọng Q = 1,1 m3/s, suối Lê Nin Q = 1,9 m3/s, sông Minh Khai Q = 2,1 m3/s, suối Tà Cáy Q = 0,75 m3/s. Với nhiệm vụ phát triển tài nguyên nước phục vụ cấp nước cho các đối tượng sử dụng.

- Đề xuất khai thác, sử dụng nước dưới đất trên lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, cụ thể: từ sau hồ Bản Lải đến nhập lưu sông Mó Pia cần thăm dò, đánh giá chi tiết, tìm kiếm nguồn nước trong các tầng chứa nước có khả năng đáp ứng cho các mục đích công nghiệp và sinh hoạt với tổng nhu cầu sử dụng 7,65 triệu m3/ngày;

- Đề suất 16 trạm giám sát số lượng, khai thác sử dụng tài nguyên nước mặt và 46 trạm giám sát số lượng, khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất trên toàn lưu vực.

- Phân vùng chất lượng cho 06 sông thuộc phạm vi quy hoạch theo phương pháp WQI, qua đó đó đã xác định được các đoạn sông bị ô nhiễm cần khôi phục, các đoạn sông có thể xử lý để cấp nước cho mục đích sinh hoạt;

- Đã tính toán, xác định được ngưỡng khai thác cho các tầng chứa nước bở rời và khe nứt cụ thể: đối với các tầng chứa nước bở rời, mực nước hạ thấp tối đa khi khai thác là từ 8-30m; đối với các tầng chứa nước khe nứt, khe nứt - Karst mực nước hạ thấp tối đa khi khai thác là từ 30-40m.;

- Đã xác định được danh mục các nguồn nước cần bảo tồn phục vụ các hoạt động văn hóa, du lịch, các nguồn nước cần được ưu tiên cải tạo môi trường và các nguồn nước cần bảo tồn nhằm phục vụ các mục đích khai thác, sử dụng cho sinh hoạt, công ngiệp, nông nghiệp, du lịch và dịch vụ trên địa bàn tỉnh, từ đó đề ra yêu cầu chất lượng nước thải khi xa thải ra môi trường theo các tiêu chuẩn hiện hành;

- Đề xuất mạng lưới các điểm giám sát xả nước thải vào nguồn nước trong kỳ quy hoạch được xác định gồm 17 trạm quan trắc. Trong đó 10 trạm được xây dựng trong giai đoạn đến năm 2025, 07 trạm được xây dựng trong giai đoạn năm 2025-2035.

- Đề xuất được 05 dự án ưu tiên phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên nước với tổng mức đầu tư khoảng 150 tỷ đồng, trong đó: giai đoạn từ 2018 - 2025: Tập trung cơ bản cho công tác kiểm kê tài nguyên nước, xây dựng hệ thống mạng quan trắc tài nguyên nước. Tổng mức đầu tư là 90 tỷ đồng; giai đoạn từ 2025 đến 2035: Tập trung vào các dự án Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước; điều tra, hiện trạng xả nước thải vào nguồn nước phục vụ xây dựng xây dựng cơ sở dữ dữ liệu thông tin tài nguyên nước trên lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng. Tổng mức đầu tư các dự án trong giai đoạn này là 60 tỷ đồng.


Newer news items:
Older news items: