Sat02272021

Last update05:41:13 AM GMT

Nội dung thực hiện dự án "Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long"

Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất trũng, chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy triều và lũ sông Mê kông. Mặc dù chương trình thủy lợi thoát lũ ra biển Tây đã cải thiện phần nào điều kiện ngập lũ, song hiện tại vào mùa khô toàn vùng chịu nắng hạn, nước mặn xâm nhập tới 3/4 diện tích, mùa mưa chịu lũ lụt từ 4 - 6 tháng. Chính vì vậy cho đến nay việc khai thác tiềm năng của vùng đất này vẫn còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại.

Kết quả tài liệu quan trắc nước dưới đất của Bộ Tài nguyên và Môi trường từ năm 1995 đến nay cho thấy, mực nước của hầu hết các tầng chứa nước ở vùng ĐBSCL đều có xu hướng suy giảm với các mức độ khác nhau, lớn nhất là 0,93m/năm, trung bình khoảng 0,2 đến 0,4m/năm và có nhiều vùng suy giảm không đáng kể hoặc không suy giảm. Trong đó, các tầng chứa nước có chiều sâu trung bình, lớn và là đối tượng khai thác chủ yếu có mức độ suy giảm lớn hơn các tầng chứa nước nằm nông.

Do cấu tạo địa chất của ĐBSCL, nước dưới đất ở đây tồn tại trong một cấu trúc dạng “bồn” với nhiều tầng chứa nước xen lẫn các tầng cách nước và thấm nước yếu, có chiều dày tăng dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, tạo nên các tầng chứa nước áp lực (các tầng càng nằm sâu thì áp lực của nước càng lớn). Do mức độ khai thác nước ngày càng tăng cả về số lượng công trình, quy mô khai thác, nhất là trong khoảng 15 năm trở lại đây. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng suy giảm mực nước ngầm trong vùng, nhất là các khu vực tập trung công trình khai thác lớn.

Nội dung hoạt động chủ yếu thực hiện dự án bao gồm:

* Lập dự án

1. Mục tiêu: Lập luận, thiết kế khối lượng các dạng công tác và đưa ra các chỉ tiêu về kinh tế, kỹ thuật hợp lý và phù hợp với điều kiện thực tế để trình Bộ phê duyệt.

2. Nội dung:

- Thu thập tài liệu địa chất, địa mạo, ĐCTV, ĐCCT và tài liệu các lỗ khoan thăm dò, các lỗ khoan khai thác nước dưới đất đã có trong vùng nghiên cứu.

- Lộ trình khảo sát sơ bộ để xác định vị trí tương đối của các lỗ khoan thiết kế, các tuyến địa vật lý, thu thập các thông tin chung về kinh tế, văn hóa xã hội của vùng nghiên cứu.

- Lập các sơ đồ vị trí giao thông, mức độ nghiên cứu; các sơ đồ địa chất, địa mạo, địa chất thủy văn, và các mặt cắt kèm theo; bản đồ bố trí công trình và mặt cắt thi công.

* Thi công dự án

1. Công tác thu thập tài liệu

Mục tiêu: Có đầy đủ các tài liệu phục vụ công tác thiết kế khối lượng công việc có tính kế thừa và làm cơ sở tổng kết dự án

Nội dung:

- Thu thập các thông tin:

+ Tài liệu địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội theo niên giám thống kê, các qui hoạch định hướng phát triển.

+ Tài liệu khí tượng gồm vị trí các trạm khí tượng trong vùng nghiên cứu, lượng mưa, lượng bốc hơi, nhiệt độ, độ ẩm, số giờ nắng, hướng gió của các trạm này trong thời gian 5 năm gần nhất.

+ Thu thập tài liệu thuyết minh, bản đồ và ghép biên bản đồ Địa chất tỷ lệ 1/200.000; tài liệu, bản đồ Địa chất tỷ lệ 1/50.000 tại những vùng đã có. Thu thập các tài liệu mới nhất của địa chất về phân chia địa tầng, tách, nhập các phân vị địa tầng.

+ Thu thập tài liệu thuyết minh, bản đồ và ghép biên bản đồ Địa chất thủy văn tỷ lệ 1/200.000; tỷ lệ 1/50.000, 1/25.000 tại những vùng đã có. Thu thập các tài liệu mới nhất về phân chia, tách, nhập các phân vị địa tầng địa chất thủy văn. Thu thập hồ sơ các giếng khai thác nước, các tài liệu về chất lượng nước, tài liệu quan trắc mực nước dưới đất thuộc các đề án, dự án, đề tài trong vùng nghiên cứu.

- Thu thập, tổng hợp tài liệu các dự án:

+ Thống kê, đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất vùng bán đảo Cà Mau (bao gồm TP. Cần Thơ, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Cà Mau).

+ Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tỉnh An Giang

+ Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng nhiễm mặn, nhiễm bẩn nước dưới đất và khả năng cung cấp nước sinh hoạt dải ven biển từ Cà Mau đến Kiên Giang (Hà Tiên)

Vì vậy, để hạn chế nước biển dâng, đặc biệt lúc triều cường cao, cần có giải pháp hình thành các khu rừng ngoài biển, cản dòng nước triều, đây là giải rất cần cho các tỉnh ven biển. Nhưng vì các tỉnh ven biển đa số là tỉnh nghèo, muốn làm được thì Chính phủ cần có những chính sách và chỉ đạo để các bộ ngành hỗ trợ. Thứ hai, để hạn chế được lún sụt đất trong khi ĐBSCL có nước mặt dồi dào cần có giải pháp hình thành các nhà máy nước mặt cung cấp nước sạch cho người dân và khuyến cáo người dân không sử dụng nước ngầm

Newer news items:
Older news items: