Tue10262021

Last update12:17:51 AM GMT

Ảnh hưởng của việc xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất đến trữ lượng, chất lượng nước dưới đất

Các chuyên gia về môi trường, địa chất đã đúc kết và đưa ra cảnh báo về nguy cơ sụt giảm nước dưới đất (nước ngầm) sẽ kéo theo nhiều hệ lụy, điển hình như gây sụt lún công trình xung quanh. Cụ thể, việc hạ thấp mực nước ngầm sẽ dẫn tới hiện tượng sụt lún các lớp đất đá trong tầng chứa nước, bởi vì tại các tầng đất chứa nước luôn có một lực đẩy ascimet để nâng các khối đất đá lên. Khi khai thác nước ngầm quá mức sẽ làm mực nước hạ thấp và tầng đất này không còn lực đẩy ascimet nữa. Từ đó hình thành các lỗ hổng lớn, dẫn tới sụt lún các công trình, gây thiệt hại về kinh tế cũng như tính mạng con người.

Việc khai thác quá mức nước dưới đất mà không có sự kiểm soát chặt sẽ gây ra một số tác động như: Làm thấp mực nước dưới đất do việc khai thác nước ngầm tràn lan, không có quy hoạch sẽ làm cho mực nước ngầm tại khu vực cạn kiệt dần và làm thấp mực nước ngầm; ảnh hưởng tới công trình khai thác nước ngầm. Cụ thể, khi một công trình khai thác nước ngầm đi vào hoạt động thì ảnh hưởng của nó sẽ lan rộng khá nhanh tới khu vực xung quanh, tác động tới các công trình khai thác lân cận làm cho mực nước trong các công trình này bị hạ thấp, do vậy sẽ làm tăng chi phí và giảm hiệu suất khai thác của công trình, đồng thời khoảng cách giữa các công trình khai thác càng gần nhau thì mực nước hạ thấp càng nhiều.

Các chuyên gia cũng khẳng định, khai thác nước ngầm thiếu kiểm soát, không đúng kỹ thật sẽ tạo cơ hội cho nước bẩn thâm nhập, làm biến đổi chất lượng nguồn nước. So với nước mặt, nước ngầm ít bị ô nhiễm hơn, nhưng đối với các vùng mà lớp phủ trên tầng chứa nước mỏng hoặc có tính thẩm thấu lớn, làm cho nước mặt thấm xuống nhiều cũng rất dễ gây nhiễm bẩn tầng chứa nước. Bên cạnh đó, ở các lỗ khoan có kết cấu cách ly kém, nước bẩn có thể theo thành lỗ khoan thâm nhập vào tầng chứa nước, làm ô nhiễm nước dưới đất. Cùng với đó, quá trình khai thác nước làm cho mực nước hạ thấp sẽ làm tăng độ dốc thủy lực của dòng thấm cũng có thể làm tăng quá trình ô nhiễm… Trên cơ sở này, các nhà khoa học đưa ra cảnh báo, khi nước dưới đất đã bị ô nhiễm thì việc khắc phục rất khó khăn và phức tạp, không những tốn kém kinh phí xử lý mà còn đòi hỏi thời gian khắc phục lâu dài, tốn kém.

Để quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất, cần siết chặt quản lý vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất. Đồng thời phải thực hiện song song hai hệ thống quan trắc về khối lượng và chất lượng nước, độ sâu của giếng khai thác.

Nhìn chung các nghiên cứu trong nước đã đề cập và phát triển các ý tưởng, công nghệ từ các nghiên cứu nước ngoài, áp dụng và vận hành trong điều kiện Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức độ định tính, nói chung về phương pháp luận hoặc tính toán cụ thể cho một vùng nghiên cứu chuyên biệt mà chưa có sự tổng hợp, thống nhất và khái quát hóa thành các quy trình cụ thể để có thể áp dụng một cách rộng rãi.

Hiện nay, một số địa phương đã ban hành quy định về vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Long An... và có một số địa phương đang triển khai xây dựng dự án như Lào Cai, Hưng Yên, Hải Dương...nhưng phương thức triển khai, nội dung điều tra đánh giá để thu thập thông tin ở mỗi địa phương lại áp dụng khác nhau nên gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện.

Tuy nhiên, quy định khu vực hạn chế khai thác nước căn cứ vào khả năng đáp ứng của hệ thống cấp nước là chưa rõ hệ thống cấp nước hiện tại hay cả hệ thống cấp nước trong tương lại. Nếu chỉ căn cứ vào khả năng cấp nước của hệ thống cấp nước hiện tại thì với vùng có nguồn nước dưới đất hạn chế, hệ thống cấp nước hiện tại chưa có, song nguồn nước mặt hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu nước, hoặc trong tương lai sẽ có hệ thống cấp nước vậy có cần hạn chế khai thác trong vùng này không. Nên chăng khi quy định vùng hạn chế khai thác không chỉ xem xét khả năng đáp ứng của hệ thống đường ống cấp nước mà phải xét thêm về nguồn nước, khả năng đáp ứng của cả nguồn nước mặt, nước dưới đất, khả năng ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước cũng như nhu cầu nước cho ăn uống sinh hoạt của vùng.

Việc cấm khai thác nước trong vùng đã bị ô nhiễm (ví dụ về hàm lượng nitơ) là chưa hợp lý. Vì khi nước dưới đất có hàm lượng của một hoặc vài chỉ tiêu nào đó vượt giới hạn cho phép thì xử lý trước khi sử dụng. Chỉ nên cấm khi việc khai thác làm tăng ô nhiễm nước dưới đất tới mức không kiểm soát được.

Kết quả việc thực hiện các đề án cho thấy, tỉnh đã hạn chế được tình trạng khai thác bừa bãi, lãng phí nguồn nước dưới đất, đặc biệt là tại những khu vực nhạy cảm, có nguy cơ ô nhiễm cao như nghĩa trang, bãi rác, khu vực nhiễm mặn và khu vực có nguy cơ suy thoái, cạn kiệt. Nhiều doanh nghiệp nằm trong vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất đã chủ động thực hiện trám lấp giếng khoan và chuyển sang sử dụng nước cấp tập trung cho toàn bộ các mục đích.

Newer news items:
Older news items: