Fri07102020

Last update03:54:59 AM GMT

Môi trường nước các lưu vực sông đang đứng trước sức ép rất lớn

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, công tác quản lý môi trường nước đã có nhiều nỗ lực, hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật liên tục được rà soát, sửa đổi để hoàn thiện. Nhiều dự án, chương trình xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường nước đã được triển khai và thu được nhiều kết quả khá tốt.

Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa có văn bản về việc công bố Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2018 gửi tới các cơ quan Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các Bộ, ngành, Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội....​

Việt Nam là quốc gia có hệ thống sông ngòi dày đặc với tổng lượng dòng chảy nước mặt hàng năm lên đến 830-840 tỷ m3. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên nước của nước ta chỉ ở mức trung bình trên thế giới. Tổng lượng nguồn nước từ nước ngoài chảy vào Việt Nam chiếm khoảng 63%. 

Môi trường nước các lưu vực sông đang đứng trước sức ép rất lớn bởi nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất và dân sinh ngày càng tăng cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, áp lực của sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Chính điều đó đã tạo ra nhiều tác động tiêu cực đến chất lượng và trữ lượng nguồn nước các lưu vực. Ô nhiễm môi trường nước trên các lưu vực sông xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, một phần do tiếp nhận chất thải từ các nguồn xả thải vào lưu vực sông, một phần do sự lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường nước. 

Một số nguồn ô nhiễm chính, bao gồm: nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề, y tế và chất thải rắn. Trong tổng lượng nước thải phát sinh ra các lưu vực, lượng nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tùy theo khu vực, vùng miền, tỷ lệ nước thải phát sinh từ các nguồn là khác nhau.

Trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, nước thải sinh hoạt và nước thải nông nghiệp đóng góp tỷ lệ lớn do tốc độ đô thị hóa cao, là những vựa lúa chính cũng như tập trung làng nghề lớn nhất trên cả nước. Vùng Đông Nam Bộ là khu vực tập trung nhiều nước thải công nghiệp. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc, khu vực Tây Nguyên, nước thải từ công nghiệp khai khoáng và nước thải từ trồng trọt và chăn nuôi chiếm tỷ lệ lớn. Trong khi đó, tại vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, nước thải chế biến thực phẩm lại là một nguồn phát sinh quan trọng.

Trong giai đoạn 2014 - 2018, bên cạnh một số lưu vực sông vẫn duy trì chất lượng nước ở mức khá tốt như lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Mê Công, thậm chí có những lưu vực sông chất lượng nước được cải thiện đáng kể qua từng năm (lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, Trà Bồng - Trà Khúc, lưu vực hệ thống sông Đồng Nai).

Vẫn còn tồn tại những khu vực thuộc một số lưu vực sông vẫn tiếp tục bị ô nhiễm, là điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước trong thời gian dài vẫn chưa được khắc phục như sông Nhuệ - Đáy, các sông nội thành Hà Nội, TPHCM, sông Ngũ Huyện Khê, khu vực thượng nguồn sông Mã.

Hậu quả của ô nhiễm môi trường nước là những tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, các hệ sinh thái và còn gây ra những xung đột trong khai thác, sử dụng nguồn nước. Từ đó, gây ra những thiệt hại kinh tế không nhỏ cho xã hội.

25

Nhấn để phóng to ảnh

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, công tác quản lý môi trường nước đã có nhiều nỗ lực, hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật liên tục được rà soát, sửa đổi để hoàn thiện. Nhiều dự án, chương trình xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường nước đã được triển khai và thu được nhiều kết quả khá tốt.

Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại hạn chế và những thách thức đặt ra trước tình hình mới, đó là các vấn đề về quản lý môi trường nước lưu vực sông liên vùng, liên tỉnh, kiểm soát ô nhiễm môi trường nước xuyên biên giới, vấn đề an ninh nguồn nước, quản lý tài nguyên, môi trường nước và ứng phó với biến đổi khí hậu…

Để từng bước giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường nước các lưu vực sông cũng như những thách thức đặt ra đối với công tác quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia đã đề xuất các nhóm giải pháp, bao gồm nhóm các giải pháp tổng thể để bảo vệ và quản lý tổng hợp môi trường nước, nhóm các giải pháp cụ thể cho các lưu vực sông theo vùng địa lý và nhóm giải pháp ưu tiên thực hiện để khắc phục và xử lý triệt để các điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước.

Đồng thời kiến nghị đối với Quốc hội và Chính phủ gồm tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản, chính sách pháp luật liên quan đến môi trường nói chung, đến môi trường nước lưu vực sông nói riêng. Xem xét, rà soát sửa đổi Luật Tài nguyên nước 2012; giám sát các Dự án, Chương trình có quy mô lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, đặc biệt ở các khu vực nhạy cảm.

Ngoài ra, phải lựa chọn và áp dụng các công nghệ xử lý nước thải tiên tiến, phù hợp với điều kiện nước ta; tăng cường thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường nước, các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nước, nhằm hạn chế tối đa các nguy cơ ô nhiễm, sự cố môi trường…


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: