Wed02242021

Last update05:41:13 AM GMT

Kết quả thực hiện các dạng công tác của đề án“ Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại vùng núi cao, vùng khan hiếm nước tỉnh Kon Tum

Kon Tum là tỉnh đang trên đà phát triển so với các tỉnh khác của khu vực Tây Nguyên, nơi có địa hình phân cắt mạnh, mùa mưa 6 tháng và mùa khô 6 tháng. Đời sống của người dân còn nhiều khó khăn. Trên đà đổi mới và phát triển của cả nước, nền kinh tế tỉnh Kon Tum đang lớn mạnh, nhu cầu nước cho ăn uống sinh hoạt của nhân dân, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới tiếp giáp Lào và Campuchia, khu tập trung dân cư, các đô thị và nhu cầu dùng nước phục vụ cho sản xuất, quốc phòng an ninh là một nhu cầu bức thiết, tạo đà cho kinh tế - xã hội phát triển cần đặc biệt quan tâm giải quyết.

Đề án“ Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại vùng núi cao, vùng khan hiếm nước tỉnh Kon Tum“ có tính cấp thiết rất cao. Với mục tiêu cụ thể phải cung cấp nguồn nước sạch đến tận nhân dân ở các vùng núi cao của Tỉnh thì còn hạn chế. Kết quả quả thực hiện các dạng công tác của đề án giúp cho công tác tìm kiếm được các nguồn nước dưới đất:
Thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu
Tiến hành thu thập các tài liệu bao gồm: Các tài liệu liên quan đến địa chất - địa chất thủy văn, địa hình vùng thực hiện Dự án; Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng thực hiện Dự án; Nhu cầu và hiện trạng khai thác, sử dụng nước dưới đất của vùng thực hiện Dự án.
Điều tra thực địa
- Công tác khảo sát thực địa được thực hiện với mật độ điểm khảo sát là 6 điểm/ km2.
- Trên diện tích vùng điều tra đã tiến hành khảo sát theo 5 tuyến lộ trình, các lộ trình đi theo tuyến dọc ranh giới các tầng chứa nước và theo phương vuông góc với các đứt gãy kiến tạo. Chiều dài các tuyến lộ trình từ 5 km đến 28km.
Trong quá trình điều tra khảo sát đã thực hiện những nội dung sau:
+ Quan sát, mô tả, chụp ảnh, sơ họa, khoanh vùng, thu thập thông tin, dữ liệu về các đặc điểm khái quát, đặc trưng của các cấu trúc chứa nước, thành tạo đất đá chứa nước yếu hoặc cách nước;
+ Quan sát, mô tả, chụp ảnh, sơ họa, khoanh vùng, thu thập thông tin, dữ liệu về phạm vi và diện tích phân bố của lớp phủ thực vật;
+ Quan sát, mô tả, chụp ảnh, sơ họa, khoanh vùng, thu thập thông tin, dữ liệu về một số yếu tố, hoạt động ảnh hưởng đến nguồn nước dưới đất;
+ Lấy mẫu trong quá trình điều tra theo nguyên tắc: cứ 10 điểm khảo sát tài nguyên nước dưới đất lấy 1 mẫu nước toàn diện; cứ 10 điểm lấy mẫu nước toàn diện có 1 điểm lấy 1 mẫu nước vi lượng, 1 mẫu nước vi sinh, 1 mẫu nước nhiễm bẩn và 1 mẫu nước phân tích hàm lượng sắt. Mẫu kiểm tra lấy bằng 5% tổng số mẫu, trong đó có 2% mẫu kiểm tra ngoại bộ.
Công tác địa vật lý
- Tiến hành đo mặt cắt đối xứng điện trở ở các khu vực dự kiến thiết kế lỗ khoan điều tra tài nguyên nước trong đá gốc, một tuyến chính và hai tuyến phụ với khoảng cách tuyến 60 mét, thiết bị AB = 120m, MN = 20m, d = 10m, mỗi tuyến bố trí 5% điểm đo kiểm tra, mỗi tuyến đều được khống chế ít nhất bằng 03 điểm GPS cầm tay.
- Phương pháp đo sâu điện trở đối xứng: Với các lỗ khoan điều tra tài nguyên nước ngầm thiết kế trên đới dập vỡ của đá gốc, mạng lưới điểm đo sâu là 50 mét một điểm, mỗi tuyến bố trí 5% điểm đo đan dày, 5% điểm đo kiểm tra. Sử dụng thiết bị ABmax = 1000m.
- Phương pháp địa vật lý lỗ khoan (Carota): nghiên cứu tổng thể toàn bộ lỗ khoan theo chiều sâu ở tỷ lệ 1:200. Hệ phương pháp đo trong lỗ khoan áp dụng theo phần mềm của thiết bị kèm theo với các phương pháp sau: phương pháp điện trở (các đường điện trở); đo xạ tự nhiên (gama); đo điện trở suất dung dịch; đo nhiệt độ lỗ khoan; đo đường kính lỗ khoan.
Công tác khoan
Trên cơ sở khảo sát và kết quả đo địa vật lý xác định vị trí các lỗ khoan. Lựa chọn phương pháp khoan xoay lấy mẫu, nước rửa là nước lã, sau đó khoan doa mở rộng đường kính để chống ống chống, ống lọc. Đối với lớp phủ bở rời sử dụng dung dịch sét hoặc chống ống khống chế để tránh sập lở thành lỗ khoan. Toàn bộ các lỗ khoan phải mua nước cho thi công khoan.Quá trình thi công khoan đã thu thập các tài liệu theo yêu cầu kỹ thuật bao gồm mô tả thành phần thạch học, mức độ nứt nẻ của đất đá theo chiều sâu, mực nước xuất hiện, mực nước ổn định, mực nước sau khi kéo cần khoan và trước khi hạ cần khoan, lượng tiêu hao nước rửa, hiện tượng hẫng cần, tụt cần, ...theo hiệp khoan.
Các lỗ khoan đều được tiến hành kết cấu ống chống, ống lọc bằng ống thép (ống lọc đục lỗ), sau khi đã có tài liệu đo địa vậy lý lỗ khoan, phù hợp với mức độ nứt nẻ thực tế của lỗ khoan.
Công tác bơm nước thổi rửa và bơm nước thí nghiệm lỗ khoan
- Bơm thổi rửa:
Tiến hành bơm thổi rửa ngay sau khi kết cấu hoàn chỉnh các lỗ khoan điều tra. Thiết bị bơm sử dụng máy nén khí, làm sạch dung dịch khoan và các vật chất lấp nhét xung quanh ống lọc bằng cách bơm tia và khôi phục độ sâu đáy lỗ khoan khỏi các vật liệu lắng đọng bằng ống nâng nước. Công tác thổi rửa chỉ kết thúc khi nước bơm lên trong sạch hoàn toàn, chiều sâu lỗ khoan đã hoàn toàn được khôi phục. Cuối thời gian thổi rửa, tiến hành bơm với ống nâng nước, đo mực nước và lưu lượng theo thời gian để làm cơ sở thiết kế bơm thí nghiệm.
- Bơm hút nước thí nghiệm 1 bậc hạ thấp:
Bơm thí nghiệm bằng máy bơm chìm với công suất lớn nhất của máy bơm, khống chế lưu lượng ổn định ngay từ đầu với sai số tương đối không vượt quá 5% giá trị trung bình. Trong suốt quá trình thí nghiệm, tiến hành theo dõi, ghi chép các giá trị mực nước hạ thấp theo thời gian. Lưu lượng bơm được xác định trên cơ sở lưu lượng bơm hút thử trong quá trình thổi rửa lỗ khoan.
Thời gian bơm thổi rửa: dự kiến trung bình là 6 ca máy/lỗ khoan.
Thời gian hút nước thí nghiệm: Tại các lỗ khoan tiến hành hút nước đơn với 15 ca máy/lỗ khoan.
Trong quá trình hút nước thí nghiệm thực hiện quan trắc mực nước bằng thước đo điện xách tay và đồng hồ bấm giây.
Quy trình thực hiện tuân theo Thông tư số 08/2015/TT-BTNMT ngày 26 tháng 02 năm 2015 - Quy định kỹ thuật bơm hút nước thí nghiệm trong điều tra, đánh giá nước dưới đất.
Công tác quan trắc động thái nước dưới đất
Công tác quan trắc thực hiện tại tất cả các lỗ khoan tìm kiếm NDĐ ở các vùng điều tra có lưu lượng ≥ 0,5 l/s. Thời gian quan trắc 1 năm thủy văn. Yếu tố quan trắc gồm mực nước, nhiệt độ nước và thành phần hóa học.
Đo mực nước bằng dụng cụ đo điện. Đo nhiệt độ nước bằng nhiệt kế bách phân. Các yếu tố quan trắc gồm mực nước, nhiệt độ, thành phần hóa học.
Quan trắc mực nước và nhiệt độ:
- Mùa khô: Đo 05 lần trong một tháng vào các ngày 6, 12, 18, 24, 30. Riêng tháng 2 không có ngày 30 chuyển đo vào ngày 1 tháng 3; 
- Mùa mưa: Đo 10 lần trong một tháng vào các ngày 3, 6, 9, 12, 15, 18, 21, 24, 27, 30;
Thời gian tính mùa được quy định tại tỉnh Kon Tum như sau: Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.
Số lần quan trắc trong một năm là 90 lần/lỗ khoan.
Chế độ lấy mẫu quan trắc tối thiểu 2 lần/năm được thống kê chi tiết trong công tác lấy và phân tích mẫu.
Công tác lấy và phân tích mẫu nước
+ Lấy mẫu nước trong lộ trình khảo sát thực địa: trung bình cứ 10% điểm nước lấy 1 mẫu phân tích toàn diện; 10% điểm lấy mẫu toàn diện lấy 1 mẫu vi lượng, 1 mẫu nhiễm bẩn, 1 mẫu sắt chuyên môn và 1 mẫu vi sinh.
+ Lấy mẫu trong bơm hút nước thí nghiệm lỗ khoan vào cuối đợt bơm nước thí nghiệm: lấy 1 mẫu toàn diện; 1 mẫu vi lượng; 1 mẫu sắt chuyên môn; 1 mẫu nhiễm bẩn; 1 mẫu vi sinh.
+ Lấy mẫu trong lỗ khoan quan trắc vào mùa khô và mùa mưa, mỗi mùa lấy 1 mẫu toàn diện, 1 mẫu vi lượng, 1 mẫu nhiễm bẩn, 1 mẫu sắt chuyên môn và 1 mẫu vi sinh.
Các chỉ tiêu như sau:
- Phân tích mẫu toàn diện: Ca+2, Mg+2, Na+, K+, FeTS, Al3+, Cl-, SO4-2, HCO3-, CO32-, NH4+,  NO2-, NO3-, CO2td, CO2xt, CO2lh, SiO2, Cặn sấy khô 105oC, TSS, pH, độ kiềm, độ cứng các loại, tính chất lý học.
- Phân tích mẫu vi lượng: As, Hg, CN-, Phenol, Cr, Cd, Pb, Cu, Zn, Mn.
- Mẫu nhiễm bẩn: NH4, NO3, NO2, COD, PO4.
- Sắt chuyên môn: Fe2+,  Fe3+.
- Mẫu vi sinh: E.Coli và Coliform.
Lấy mẫu, bảo quản, phân tích các chỉ tiêu và đánh giá chất lượng nước theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT - Ban hành theo Thông tư số 66/2015/TT-BTNMT ngày 21 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Công tác trắc địa
+ Các điểm đo tọa độ không gian bằng GPS đa tần: đo tại các vị trí lỗ khoan xác định cao độ, toạ độ theo hệ toạ độ, độ cao hệ VN-2000;
+ Các điểm đo tọa độ phẳng dùng máy định vị GPS cầm tay xác định toạ độ theo hệ tọa độ VN-2000;
+ Định tuyến địa vật lý thực hiện đối với tất cả các tuyến địa vật lý thiết kế của dự án;

Đơn vị thi công đã thực hiện đầy đủ nội dung các dạng công tác đã nêu trong Đề cương, đã tìm kiếm được nguồn nước dưới đất có trữ lượng, chất lượng đáp ứng được yêu cầu cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân vùng.


Newer news items:
Older news items: