Thu10222020

Last update02:00:00 PM GMT

Một số kết quả chính đạt được trong đề án Bảo vệ nước dưới đất tại các đô thị lớn – đô thị Mỹ Tho

Thành phố Mỹ Tho là dô thị loại 1, thuộc trung tâm van hóa, chính trị, kinh tế -  xã hội của tỉnh Tiền Giang, dang trên dà phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Cùng với dó là sự dầu tư, hình thành và phát triển các khu dân cư tập trung, khu công nghiệp lớn. Các hoạt dộng du lịch, dịch vụ, công nghiệp và thương mại ngày càng tang lên. Vì vậy nhu cầu khai thác sử dụng nước ở thành phố Mỹ Tho ngày càng lớn, kèm theo dó là việc xả nước thải vào nguồn nước cung tang dáng kể, dó là những tiềm ẩn nguy co gây ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước, xâm nhập mặn tầng chứa nước.
Do dó, dề án “Bảo vệ nước dưới dất ở các dô thị lớn- Giai doạn I”. Khu vực thực hiện: thành phố Mỹ Tho là rất cần thiết và cấp bách nhằm phục vụ việc thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dảm bảo an ninh quốc phòng; là tài liệu quan trọng phục vụ trực tiếp cho việc quản lý, khai thác và sử dụng nước dưới dất của vùng được bền vững và hiệu quả.
Qua thời gian thực hiện, đề án đã đạt được một số kết quả quan trọng như:
1. Cấu trúc ÐCTV: dã co bản làm sáng tỏ cấu trúc ÐCTV vùng nghiên cứu trên co sở thành lập 6 mặt cắt cấu trúc dịa chất của vùng. Ðô thị Mỹ Tho có 7 tầng chứa nước lỗ hổng là qh, qp3, qp2-3, qp1, n2-2; dan xen giữa các tầng chứa nước là các thành tạo rất nghèo nước hoặc không chứa nước và thành tạo không chứa nước MZ. Kết quả nghiên cứu dã xác dịnh được diện phân bố theo diện và chiều sâu, thành phần thạch học, mức dộ giàu nước, phân bố nước nhạt, dặc tính thủy lực, diễn biến mực nước, chất lượng nước và khả nang khai thác của các tầng chứa nước chính cần bảo vệ.
2. Trữ lượng nước dưới dất: được xác dịnh dưới sự hỗ trợ của mô hình dòng chảy nước dưới dất, kết quả tính toán các loại trữ lượng như sau: 
- Tổng tiềm nang tài nguyên nước dưới dất là 702.141m/ngày, trong dó tiềm nang tài nguyên nước nhạt là 650.154m3/ngày và tiềm nang tài nguyên nước mặn là 51.988m3/ngày
- Tiềm năng tài nguyên nước nhạt lớn nhất ở TP. Mỹ Tho (252.426m3/ngày), ít hơn ở CHợ Gạo (215.018m3/ngày) và ít nhất ở Châu Thành (182.710m3/ngày)
- Theo tầng chứa nước, tiềm năng tài nguyên nước nhạt lớn nhất trong tầng n1-3 (289.554m3/ngày), ít hơn ở tầng n2-1 (227.823m3/ngày) và ít nhất là tầng n2-2 (123.777m3/ngày)
Kết quả tính toán trữ lượng có thể khai thác nước dưới dất vùng thành phố Mỹ Tho cho các tầng chứa nước cần bảo vệ cho thấy, tổng trữ lượng có thể khai thác nước dưới dất là 204.674m3/ngày, chiếm 31,48% so với tổng tiềm nang tài nguyên nước dưới dất nhạt vùng dô thị Mỹ Tho
- Trữ lượng có thể khai thác nước dưới dất lớn nhất ở TP. Mỹ Tho ít hon ở Châu Thành và ít nhất ở Chợ Gạo
- Theo tầng chứa nước, trữ lượng có thể khai thác nước dưới dất lớn nhất trong tầng n1-3, ít hơn ở tầng n2-1 và ít nhất là tầng n2-2
3. Chất lượng nước dưới dất: được dánh giá theo QCVN  09-MT:2015/BTNMT cho thấy các tầng chứa nước chủ yếu (phần nước nhạt) có chất lượng tưong dối tốt, có thể sử dụng cho các mục dích khác nhau. Nước dưới dất hiện chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm bởi các tác nhân gây hại phía trên.
4. Khả nang tự bảo vệ của các tầng chứa nước: Khả nang tự bảo vệ của các tầng chứa nước được dánh giá theo phưong pháp Unessco theo 2 chỉ tiêu: chiều dày của lớp cách nước m0 và mối quan hệ mực nước của tầng chứa nước nghiên cứu với mực nước tầng liền kề phía trên (dánh giá cho tầng chứa nước chủ yếu cần bảo vệ gồm TCN n2-2 và n2-1. Kết quả cho thấy:
- Tầng chứa nước Pliocen giữa: Vùng có khả nang tự bảo vệ trung bình với diện tích phân bố là 207,3km2; Vùng có khả nang tự bảo vệ kém có diện tích phân bố là 62,6km2
- Tầng chứa nước Pliocen dưới: Vùng có khả nang tự bảo vệ trung bình với diện  tích phân bố là 208,9km2; Vùng có khả nang tự bảo vệ kém có diện tích phân bố là 42,55km2; Vùng có khả nang tự bảo vệ rất kém có diện tích phân bố là 18,5km2
5. Tác động của việc khai thác nước dưới đất đến các tầng chứa nước chính cần bảo vệ:
- Nhiễm mặn nước dưới đất: Nguyên nhân chủ yếu do khai thác nước dưới đất quá mức và khai thác gần các ranh mặn nhạt của tầng chứa nước. Đề án đã tiến hành xây dựng mô hình dịch chuyển ranh mặn của các tầng chứa nước. Kết quả cho thấy ranh mặn - nhạt tầng n22  phía tây dịch chuyển <100 phía nam dịch chuyển trong khoảng 100 - 500m; ranh mặn - nhạt tầng n21  dịch chuyển khoảng 150 - 500m; ranh mặn nhạt tầng n13 dịch chuyển khoảng <100 m.  Theo diễn biến hàm lượng Clorua tại các công trình quan trắc cho thấy hàm lượng Clorua có xu hướng tăng tại khu vực Tp. Mỹ Tho, đặc biệt là trong các tháng mùa khô.
- Cạn kiệt nước dưới đất: Theo kết quả tính toán tốc độ hạ thấp mực nước cho thấy các tầng chứa nước cần bảo vệ vùng đô thị Mỹ Tho chưa có dấu hiệu cạn kiệt, tuy nhiên với tốc độ hạ thấp lớn (nhỏ nhất là 55cm/năm, lớn nhất 97cm/năm) trong những năm gần đây sẽ tiềm ẩn nguy cơ cạn kiệt nguồn nước dưới đất. Mối quan hệ giữa hạ thấp mực nước và khai thác nước dưới đất được trình bày ở trên cho thấy tác động của hoạt động khai thác nước dưới đất đến các tầng chứa nước gây nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất.

- Sụt lún nước dưới đất: Kết quả điều tra chưa phát hiện đươc hiện tượng sụt lún nền đất do nguyên nhân khai thác nước dưới đất quá mức gây ra. Tuy nhiên, những nghiên cứu sơ bộ về sụt lún mặt đất do khai thác nước dưới đất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long mới đây cũng cho thấy khai thác nước dưới đất đang là mối đe dọa đối với sụt lún nền đất. Theo kết quả tính toán nguy cơ sụt lún nền đất (phương trình Lohman, 1961) đã phân chia đô thị Mỹ Tho thành 3 khu vực theo tốc độ sụt lún: khu vực có tốc độ sụt lún 20mm/năm (gồm phần lớn TP Mỹ Tho và huyện Châu Thành).
6. Quy hoạch khai thác, sử dụng nước dưới đất: Phương án lựa chọn là phương án khai thác sử dụng nước dưới đất với tỷ lệ khai thác bằng 55% nhu cầu sử dụng như hiện tại, tận dụng các giếng hiện trạng và bổ sung khai thác đáp ứng nhu cầu điểm dân cư nông thôn. Lưu lượng khai thác dự kiến đến năm 2020 và năm 2030 lần lượt là 61.267m3/ngày và 65.848m3/ngày. Kết quả tính toán phương án lựa chọn bằng mô hình dòng chảy nước dưới đất đã xác định mực nước hạ thấp trong các tầng chứa nước từng kỳ quy hoạch đều nằm trong giới hạn mực nước hạ thấp cho phép. Ranh mặn các TCN dịch chuyển hầu như không đáng kể. Báo cáo cũng đưa ra định hướng khai thác, quy mô công trình và vị trí dự kiến khai thác bổ sung, phân chia theo lộ trình thực hiện.
7. Quy hoạch vùng hạn chế khai thác nước dưới đất: Kết quả là khoanh định và lập được danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất cho 3 tầng chứa nước chủ yếu (trong đó có 2 tầng chứa nước cần bảo vệ là n22, n2 và tầng chứa nước có triển vọng khai thác sử dụng là n13. Đưa ra phương án tổ chức thực hiện việc hạn chế khai thác nước dưới đất theo lộ trình thực hiện từ năm 2019 đến năm 2030
8. Quy hoạch đới phòng hộ, bảo vệ các công trình khai thác sử dụng NDĐ: Báo cáo đã tính toán, khoanh định đới phòng hộ và bảo vệ cho các công trình khai thác trong vùng nghiên cứu. Báo cáo cũng đề xuất các giải pháp quản lý và giải pháp kỹ thuật để thực hiện quy hoạch các đới nêu trên nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến các công trình khai thác. Theo đó đới phòng hộ thứ nhất cho các công trình có lưu lượng từ 10m3/ngày trở lên có bán kính 20m; đới phòng hộ thứ hai có bán kính là khoảng từ 21 – 100m
9. Đề xuất mạng lưới quan trắc, giám sát các tầng chứa nước cần bảo vệ: Báo cáo đã đề xuất được mạng lưới quan trắc, giám sát các tầng chứa nước cần bảo vệ gồm 10 điểm với 32 công trình. Trong đó có 11 công trình thuộc mạng quan trắc địa phương, 7 công trình thuộc quy hoạch mạng lưới quan trắc quốc gia, 2 công trình thuộc đề án bảo vệ NDĐ và 12 công trình thiết kế mới.
10. Đã nghiên cứu, lựa chọn xác định và tính toán bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất tầng n22 vùng nghiên cứu để giảm thiểu sự cạn kiệt và xâm nhập mặn khu vực phía bắc thành phố Mỹ Tho (khu vực Quảng trường trung tâm thành phố). Theo đó phương pháp lựa chọn là sử dụng bồn thấm thông qua lỗ khoan, nguồn nước bổ cập lấy từ nước mưa. Khả năng bổ cập cho nước dưới đất tầng n22 là khoảng 98.314 m3/năm.


Newer news items:
Older news items: