Fri12032021

Last update03:11:03 AM GMT

Giải pháp bảo vệ tài nguyên nước dưới đất cho đô thị Vũng Tàu

Nguồn nước ngầm ở các tỉnh Nam Bộ có nguy cơ cạn kiệt và bị ô nhiễm do khai thác quá mức. Đó là nhận định của nhiều chuyên gia, nhà khoa học tại các hội nghị, diễn đàn về biến đổi khí hậu (BĐKH), bảo vệ tài nguyên nước trong thời gian qua. Trước thực trạng này, các tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ đang nỗ lực triển khai nhiều giải pháp bảo vệ nguồn nước ngầm.

Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh ven biển thuộc Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của nước ta. Vũng Tàu, là thành phố du lịch, trung tâm của hoạt động khai thác dầu mỏ phía Nam, từng là trung tâm hành chính của tỉnh nhưng từ năm 2012, tỉnh lỵ đã chuyển đến thành phố Bà Rịa; từ thang 4 năm 2018 thị xã Phú Mỹ được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Tân Thành. Hai thành phố, thị xã này nằm trong phạm vi đô thị Vũng Tàu.

Đối với đô thị Vũng Tàu, mục tiêu là đánh giá được nguồn nước dưới đất, đề xuất các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ, hạn chế tình trạng nhiễm mặn, ô nhiễm, cạn kiệt nước dưới đất. Phạm vi thực hiện gồm toàn bộ thành phố Vũng Tàu, thành phố Bà Rịa, thị xã Phú Mỹ, huyện Long Điền và một phần các huyện Châu Đức, Đất Đỏ; diện tích 890km2. Tầng chứa nước Holocen, Pleistocen trên, Pleistocen giữa-trên, Pleistocen dưới, Pliocen và phun trào bazan là các tầng chứa nước cần được bảo vệ khỏi bị nhiễm mặn, nhiễm bẩn và cạn kiệt.
Các giải pháp bảo vệ nước dưới đất bao gồm:
1. Quy hoạch vùng hạn chế khai thác nước dưới đất
- Vùng hạn chế 1:
Đối với các vùng hạn chế 1 thì dừng toàn bộ mọi hoạt động khai thác nước dưới đất hiện có tại khu vực phường Phước Trung (Tp. Bà Rịa) do hàm lượng TDS > 1500 mg/l; khu vực xã Hòa Long (Tp. Bà Rịa), xã Tóc Tiên (Tx. Phú Mỹ) nơi tập trung các bãi chôn lấp; khu vực xã Châu Pha, Tân Phước (Tx. Phú Mỹ), xã Láng lớn, Ngãi Giao (huyện Châu Đức), xã An Ngãi (huyện Long Điền) vùng nước dưới đất có hàm lượng hợp chất nitrat, nitrit, Mn vượt quá giới hạn cho phép.
Không cấp phép thăm dò đối với vùng Châu Pha, Tân Phước, Tóc Tiên (Tx. Phú Mỹ), Láng lớn, Ngãi Giao (huyện Châu Đức) đây là những khu vực liền kề bị nhiễm mặn.
Đối với các công trình có giấy phép khai thác nước dưới đất phục vụ cho công nghiệp tại xã Mỹ Xuân, TT. Phú Mỹ (Tx. Phú Mỹ); phường Long Tâm, Phước Hưng, xã Hòa Long (Tp. Bà Rịa) không gia hạn đối với các công trình trên.
- Vùng hạn chế 2:
Không cấp phép thăm dò, khai thác để xây dựng thêm công trình khai thác nước dưới đất mới tại khu vực TT. Phú Mỹ, Mỹ Xuân (Tx. Phú Mỹ); phường Phước Nguyên, Phước Hưng, Long Tâm (Tp. Bà Rịa) đây là các khu vực có mực nước động trong giếng vượt quá giới hạn cho phép.
Các công trình khai thác nước được cấp phép thuộc nhà máy nước ngầm Phú Mỹ cần xem xét, điều chỉnh giảm lưu lượng, chế độ khai thác đảm bảo mực nước động trong giếng không vượt quá giới hạn cho phép.
- Vùng hạn chế 3:
Trong địa bàn đô thị Vũng Tàu chỉ có riêng huyện Châu Đức tỷ lệ cấp nước chiếm 30%, các khu vực còn lại mạng lưới cấp nước gần như phủ kín. Hạn chế cấp phép đối với các công trình khai thác nước dưới đất cho mục đích sinh hoạt.
- Vùng hạn chế 4:
Không cấp phép thăm dò, khai thác đối với các khu vực thuộc các xã Đá Bạc, Láng Lớn, kim Long (huyện Châu Đức); xã Sông Xoài (Tx. Phú Mỹ); xã long Tân (huyện Đất Đỏ) do khoảng cách tới các hồ Kim Long , Đá Đen, Đá Bàng không quá 1000 m.
- Vùng hạn chế hỗn hợp:
Việc áp dụng các biện pháp hạn chế đối với vùng hạn chế hỗn hợp được xem xét, quyết định trên cơ sở các biện pháp hạn chế khai thác tương ứng với từng vùng hạn chế 1, 2, 3, 4 theo thứ tự từ vùng hạn chế 1, 2, 3, 4.
2. Quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất
Căn cứ theo quan điểm và mục tiêu quy hoạch khai thác sử dụng nước dưới đất trong khuôn khổ đề án kết hợp với kết quả điều tra đánh giá tài nguyên nước dưới đất vùng đô thị, cho phép xây dựng phương án khai thác sử dụng hợp lý cho vùng đô thị Vũng Tàu đến năm 2030, đó là: phân vùng khai thác sử dụng nước dưới đất theo số liệu dự báo khả năng khai thác sử dụng nguồn NDĐ đồng thời phù hợp với trữ lượng có thể khai thác của các tầng chứa nước.
Theo phương án quy hoạch khai thác được chọn, giảm lưu lượng khai thác của một số nhà máy nước hiện tại NMN. Phú Mỹ xuống còn 16.000 m3/ng, đóng cửa NMN. Bà Rịa. Đồng thời mở rộng thêm các nhà máy nước thuộc khu vực huyện Châu Đức và thiết kế thêm các trạm cấp nước cung cấp nước cho các khu vực chưa có nước sinh hoạt.
3. Quy hoạch vùng bảo vệ miền cấp, công trình khai thác nước dưới đất
Theo kết quả điều tra đánh giá ở đô thị Vũng Tàu, các tầng chứa nước có diện lộ trên bề mặt là TCN qh, qp3 và βqp2. Đối với TCN qh và qp3, phần diện lộ thấm nước tốt của các tầng chứa nước này được xác định là miền cấp cần bào vệ. Riêng tầng chứa nước khe nứt βqp2, miền cấp cần bảo vệ được xác định là các vùng có mức tự bảo vệ kém theo kết quả đánh giá bằng phương pháp DRASTIC-Fm
4. Quy hoạch xây dựng, hoàn chỉnh mạng quan trắc, giám sát tài nguyên NDĐ
đề xuất thêm các công trình quan trắc phục vụ hai nhiệm vụ là quan trắc giám sát sự cạn kiệt NDĐ và quan trắc, giám sát ô nhiễm NDĐ.
Ngoài ra, đề xuất kết hợp thêm quan trắc, giám sát xâm nhập mặn đối với các công trình hiện hữu và các công trình đã quy hoạch.
5. Bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất
6. Đề xuất điều chỉnh vị trí các nguồn thải có nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất
-    Các tổ chức, cá nhân đang khai thác sử dụng nước dưới đất phải tuân thủ các biện pháp bảo vệ công trình khai thác nước dưới đất theo các đới bảo vệ đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt; tuân thủ phương án khai thác sử dụng nước dưới đất, lộ trình thực hiện điều chỉnh lưu lượng các công trình khai thác nước dưới đất; phối hợp với
Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu suất các công trình khai thác nước dưới đất;
-    Các tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép mới công trình khai thác nước dưới đất phải tuân thủ các giải pháp kỹ thuật bảo vệ tài nguyên nước dưới đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt và các quyết định do Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành.


Newer news items:
Older news items: