Wed10212020

Last update02:00:00 PM GMT

Các kết quả đã đạt được của đề án "Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn" - đô thị Buôn Mê Thuật

Thành phố Buôn Mê Thuột và vùng phụ cận có tốc độ đô thị hóa khá nhanh, kinh tế phát triển, dân số gia tăng kéo theo nhu cầu sử dụng nước ngày càng cao. Ở Buôn Mê Thuột, nguồn nước dưới đất chiếm đến 90% tổng lượng nước cấp cho sinh hoạt. Những năm gần đây, lượng nước dưới đất khai thác có chiều hướng suy giảm vào mùa khô; một số nơi chỉ tiêu đa lượng trong nước dưới đất có dấu hiệu vượt giới hạn cho phép, …

Do đó, vấn đề quan tâm ở đô thị Buôn Mê Thuột là nguy cơ cạn kiệt và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước nưới đất. Mặt khác, mức độ nghiên cứu về tài nguyên nước dưới đất ở đô thị còn một số hạn chế như chưa làm sáng tỏ cấu trúc, miền cung cấp, vận động và thoát của tầng chứa nước bazan; chưa đánh giá được tiềm năng nước dưới đất, trữ lượng có thể khai thác của các tầng chứa nước, chưa đánh giá được ảnh hưởng của khai thác nước dưới đất đến sự gia tăng ô nhiễm các tầng chứa nước, đặc biệt là tầng chứa nước bazan. Vì vậy, việc đánh giá đúng, đầy đủ nguồn nước dưới đất đồng thời quy hoạch khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất hợp lý là đòi hỏi cấp bách, góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này.

Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn”- Đô thị Buôn Mê Thuột được thành lập trên cơ sở tổng hợp toàn bộ tài liệu thi công các dạng công tác của đề án và các tài liệu thu thập liên quan đến giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ của đề án. Toàn bộ khối lượng thi công của đề án đều đảm bảo quy trình, phương pháp và chất lượng theo yêu cầu kỹ thuật, phục vụ tốt cho công tác tổng kết. Các kết quả chính đã đạt được như sau:

1. Đã làm sáng tỏ được điều kiện tồn tại, sự phân bố của 3 tầng chứa nước ở đô thị Buôn Mê Thuột là tầng chứa nước lỗ hổng Holocen; tầng chứa nước lỗ hổng- khe nứt phun trào bazan; tầng chứa nước khe nứt trầm tích hệ tầng La Ngà. Trong đó, tầng chứa nước Holocen chỉ chiếm 0,4% diện tích đô thị; tầng chứa nước bazan chiếm đến 97,3%; còn tầng chứa nước Jura hoàn toàn nằm dưới tầng chứa nước bazan, có vai trò như là đáy giữ nước cho TCN bazan. Tầng chứa nước bazan là tầng chứa nước cần bảo vệ.

2. Tầng chứa nước bazan có tiềm năng tài nguyên nước dưới đất là 742.807 m3/ng. Trữ lượng có thể khai thác là 361.460m3/ng.

3. Nước trong tầng chứa nước bazan có chất lượng tốt, nước nhạt đến siêu nhạt. Nước dưới đất chỉ bị nhiễm bẩn nitrat, phân bố ở 4 khoảnh nhỏ với diện tích khoảng 7 km2, chiếm 1,2% diện tích đô thị; các thông số khác không bị ô nhiễm.

4. Đã đánh giá khả năng tự bảo vệ của tầng chứa nước bazan theo phương pháp DRASTIC-Fm, có 3 cấp độ: Vùng có khả năng tự bảo vệ thấp: 116 km2, chiếm 20% diện tích đô thị; vùng có khả năng tự bảo vệ trung bình: 390 km2 (chiếm 70%); vùng có khả năng tự bảo vệ cao: 54 km2 (chiếm 10%).

5. Đã đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất trong tầng chứa nước bazan là 342.530 m3/ng, Trong đó, khai thác nước tập trung khoảng 37.370 m3/ng; khai thác nước đơn lẻ khoảng 12.085 m3/ng và khai thác nước nông thôn khoảng 293.075 m3/ng.

6. Đã điều tra các nguồn thải ở đô thị gồm: 84 nghĩa trang; 14 bãi rác và bãi chôn lấp; 64 nguồn nước thải chưa qua xử lý xả vào nguồn nước.

7. Các vấn đề tài nguyên nước dưới đất trong tầng chứa nước bazan được xác định và đánh giá là: Vùng cạn kiệt nước dưới đất có diện tích khoảng 7,8 km2, vùng có nguy cơ cạn kiệt khoảng 33,9 km2; có 7 vùng có nguy cơ ô nhiễm NDĐ cao với diện tích 11,8 km2, có 22 vùng có nguy cơ ô nhiễm NDĐ trung bình với diện tích 43,4 km2 và 29 vùng ở mức độ thấp với 115,6 km2.

8. Đã xây dựng phương án quy hoạch khai thác trên cơ sở hiện trạng tài nguyên nước dưới đất, hiện trạng khai thác và quy hoạch của địa phương.

- Hiện tại, khai thác 342.530 m3/ng; trong đó, khai thác tập trung khoảng 37.370m3/ng, khai thác đơn lẻ khoảng 12.085 m3/ng và khai thác nước khu vực nông thôn khoảng 293.075 m3/ng.

- Giai đoạn đến năm 2020, khai thác 342.530 m3/ng. Trong đó, khai thác tập trung giảm còn 25.000 m3/ng; khai thác đơn lẻ tăng lên 35.000 m3/ng và khai thác nước nông thôn giảm còn 282.530 m3/ng. Bổ sung nguồn nước sinh hoạt bằng Dự án cấp nước từ nguồn vốn ODA, khai thác nước sông Serepok công suất 35.000m3/ng đang xây dựng.

- Giai đoạn đến năm 2025, khai thác khoảng 333.000 m3/ng. Trong đó, khai thác tập trung là 33.000 m3/ng do được bổ sung 2 bãi giếng khoảng 8.000 m3/ng; khai thác đơn lẻ tăng lên 65.000m3/ng, khai thác nước nông thôn giảm xuống còn 235.000 m3/ng.

- Giai đoạn đến năm 2030, khai thác khoảng 324.500 m3/ng. Trong đó, khai thác tập trung tăng lên 37.500 m3/ng, do được bổ sung tiếp 1 bãi giếng khoảng 4.500 m3/ng; khai thác đơn lẻ tăng lên 95.000m3/ng còn khai thác nông thôn giảm còn khoảng 192.000 m3/ngày.

9. Đã lập phương án quy hoạch vùng hạn chế khai thác nước dưới đất với tổng diện tích 149,2 km2.

10. Đã quy hoạch vùng bảo vệ miền cấp cho tầng chứa nước bazan là 109km2. Trong đó, thuộc thành phố Buôn Mê Thuột là 41km2, huyện Cư Kuin 19km2, huyện Krông Păk 11 km2; huyện Cư M,gar 23km2, thị xã Buôn Hồ 3km2 và huyện Buôn Đôn 12km2. Đã quy hoạch đới phòng hộ, bảo vệ các công trình khai thác nước dưới đất cho 7 cụm công trình khai thác tập trung hiện hữu. Mỗi công trình có 3 đới bảo vệ I, II và III; tổng diện tích đới I là 8,2 ha, tổng diện tích đới II là 4,17 km2 và tổng diện tích đới III là 32,6 km2; tổng diện tích của cả 3 đới là 36,8 km2. chiếm khoảng 6,7% diện tích đô thị.

11. Đã đề xuất mạng lưới quan trắc, giám sát bảo vệ nước dưới đất ở đô thị Buôn Mê Thuột gồm 53 công trình. Trong đó, công trình đã có là 24 công trình gồm: 16 công trình hiện hữu thuộc mạng quan trắc quốc gia và 8 công trình là các lỗ khoan thi công của đề án; 29 công trình sẽ xây dựng mới gồm: 7 công trình sẽ được xây dựng theo Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 12/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ và thiết kế mới 22 công trình. Mật độ công trình quan trắc theo đề xuất khoảng 1công trình/10km2.

12. Đã đánh giá các vùng có khả năng bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất từ nguồn nước mưa. Tính toán và thiết kế sơ bộ sơ đồ BSNT bằng nguồn nước mưa kết hợp với bồn thấm và lỗ khoan hấp thu nước cho 5 vùng Tân An, Cuôr Đăng, Đạt Lý, Thắng Lợi và Hòa Thắng. Đã xây dựng thí điểm một công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất từ nguồn nước mưa tại Trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân, Tp. Buôn Mê Thuột.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: