Sat12052020

Last update03:41:21 PM GMT

Nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất ở đô thị Hải Dương

Mặc dù Hải Dương là tỉnh được đánh giá giàu tiềm năng về nước, nhưng phân bố không đồng đều lại có điều kiện thuỷ hoá phức tạp, nhiều nơi nước bị mặn nên việc khai thác và quản lý gặp nhiều khó khăn. Nhiều khu vực thuộc vùng núi, vùng nông thôn và ngay cả khu vực thành phố, thị trấn, thị tứ tình hình thiếu nước sinh hoạt còn xảy ra rất nghiêm trọng trong khi nhu cầu sử dụng nước cho công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt ngày càng tăng. Tranh chấp về mục tiêu sử dụng các nguồn nước đã bắt đầu nảy sinh tại một số nơi trong tỉnh. Các hoạt động nhằm cung cấp, phân phối, chia sẻ nguồn nước cho các nhu cầu sử dụng nước là một trong những yếu tố quan trọng cho sự phát triển của xã hội của tỉnh Hải Dương.

Thêm vào đó những năm gần đây các hoạt động liên quan đến khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ do nhu cầu sử dụng nước của các ngành trên địa bàn tỉnh không ngừng tăng cao kể cả chất lượng và số lượng. Việc gia tăng khai thác nước dưới đất nếu không được kiểm soát kịp thời sẽ dẫn đến các nguy cơ suy thoái tài nguyên nước và những hệ lụy kèm theo khác (sụt, lún mặt đất, giảm khả năng thoát nước của đô thị,..), trong nguy cơ ô nhiễm là nguy cơ trực tiếp có thể xảy ra.

Tầng chứa nước Holocen (qh)

Trong TCN qh có khá nhiều chỉ tiêu vượt giá trị giới hạn QCVN09-MT:2015/BTNMT; trong đó phổ biến nhất là chỉ tiêu NH4+, NO2-, Mn, As, Pb ở khu vực giáp ranh giữa huyện Cẩm Giàng, Hải Dương và huyện Gia Bình, Bắc Ninh; các chỉ tiêu khác như NO3-, Cr ít phổ biến, phân bố rải rác ở các xã Cẩm Định, Lương Điền, huyện Cẩm Giàng và còn lại các chỉ tiêu khác không vượt quá tiêu chuẩn.

Ở một số khu vực các nguyên tố/hợp chất vượt QCVN 09 phân bố khá dày nên được khoanh vùng như: vùng nguyên tố Mn, Pb vượt QCVN 09 ở huyện Gia Bình, Bắc Ninh với diện tích 0,5km2; huyện Cẩm Giàng, Hải Dương với diện tích 1,59km2 và các vùng NH4+, NO2- vượt QCVN 09 ở khu vực trung tâm TP.Hải Dương, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương với diện tích 5,43km2; huyện Yên Mỹ, Hưng Yên với diện tích 0,33km2; huyện Lương Tài, Bắc Ninh với diện tích 0,18km2.

Các tầng chứa nước Pleistocen (qp2, qp1)

* Tầng chứa nước qp2:

Trong TCN qp2 có khá nhiều chỉ tiêu vượt giá trị giới hạn QCVN09- MT:2015/BTNMT; trong đó phổ biến nhất là chỉ tiêu NH4+, NO2-, Mn phân bố rải rác dạng điểm trên toàn khu vực nghiên cứu, chỉ tiêu Phenol vượt tiêu chuẩn tại điểm thuộc xã Bình Định, huyện Lương Tài, Bắc Ninh.
Ở một số khu vực các nguyên tố/hợp chất vượt QCVN 09 phân bố khá dày nên được khoanh vùng như: vùng nguyên tố Mn vượt QCVN 09 ở huyện Cẩm Giàng, Hải Dương với diện tích 3,31km2 và các vùng NH4+, NO2- vượt QCVN 09 ở khu vực huyện Thuận Thành, Bắc Ninh và huyện Văn Lâm, Hưng Yên với diện tích 3,23km2.

* Tầng chứa nước qp1:

Trong TCN qp1 có 1 vài chỉ tiêu vượt giá trị giới hạn QCVN09- MT:2015/BTNMT; trong đó chỉ tiêu NH4+, Mn phân bố rải rác dạng điểm điểm thuộc các xã Cẩm Hoàng, Cẩm Phúc, Đức Chính, huyện Cẩm Giàng; xã Bình Định, Minh Tân, huyện Lương Tài; xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, TT.Bần, huyện Mỹ Hào.

Các tầng chứa nước Neogen (n2, n1)   

Theo kết quả phân tích các mẫu nước của tầng này thì thấy nước có chất lượng khá tốt. So sánh các chỉ tiêu toàn diện, vi lượng với tiêu chuẩn QCVN09-MT:2015/BTNMT cho thấy:

- Về phương diện đại nguyên tố: Nhìn chung hàm lượng các đại nguyên tố đều thoả mãn nước dùng cho ăn uống sinh hoạt. LKQT Q.149 trong TCN n1 hàm lượng sắt vượt TCCP.

- Về phương diện nhiễm bẩn: chưa có dấu hiệu ô nhiễm các hợp chất nitơ.

- Về phương diện vi nguyên tố:

+ TCN n2: tại LK CHD1 xã Thái Tân, huyện Nam Sách vượt TCCP chỉ tiêu Mangan.

+ TCN n1: tại vị trí các điểm lấy mẫu HD.751.DT, CHD2 và LKQT Q.149 xã Đức Chính, Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng vượt TCCP chỉ tiêu Mangan.

Nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất từ các nguồn thải

Nguy cơ gây ô nhiễm, nhiễm mặn đến phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố tự nhiên, các yếu tố nhân tạo. Yếu tố tự nhiên chính là khả năng tự bảo vệ của tầng chứa nước (đối với nguy cơ ô nhiễm) và khả năng tổn thương của tầng chứa nước (đối với nguy cơ nhiễm mặn). Yếu tố nhân tạo bao gồm sự phân bố của các nguồn thải trên bề mặt tầng chứa nước, hiện trạng khai thác nước, ranh giới phân bố mặn nhạt của tầng chứa nước. Do vậy khi xây dựng tiêu chí phân vùng nguy cơ ô nhiễm, nhiễm mặn tầng chứa nước cần phải kết hợp một cách hợp lý, khoa học 2 yêu tố nêu trên. Với mục tiêu của dự án Bảo vệ nước dưới đất ở đô thị Hải Dương chúng tôi kiến nghị các tiêu chí phân vùng nguy cơ ô nhiễm, nhiễm mặn các tầng chứa nước cần bảo vệ như sau:

- Vùng có nguy cơ ô nhiễm đối với tầng chứa nước lộ trên bề mặt

- Vùng có nguy cơ ô nhiễm cao bao gồm các vùng:

+ Khu vực phân bố cửa sổ địa chất thủy văn

+ Khu vực có khả năng tự bảo vệ rất yếu của tầng chứa nước

+ Khu vực nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm cao đến nước dưới đất

+ Hệ thống tiếp nhận nước thải có nguy cơ gây ô nhiễm cao cho nước dưới đất

- Vùng có nguy cơ ô nhiễm trung bình bao gồm các vùng:

+ Khu vực nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm trung bình đến tầng chứa nước;

+ Hệ thống tiếp nhận nước thải có nguy cơ gây ô nhiễm trung bình cho nước dưới đất

- Vùng có nguy cơ ô nhiễm thấp: Bao gồm các vùng còn lại

- Vùng có nguy cơ ô nhiễm đối với tầng chứa nước bị chìm

- Vùng có nguy cơ ô nhiễm cao bao gồm các vùng:

+ Khu vực phân bố cửa sổ địa chất thủy văn giữa 2 tầng chứa nước, tầng chứa nước nằm trên bị ô nhiễm.

+ Khu vực miền cấp trực tiếp của tầng chứa nước: Cửa sổ địa chất thủy văn của tầng chứa nước với sông, khu vực miền cấp từ đới ven rìa.

+ Vùng có mực nước hạ thấp quá giới hạn cho phép

- Vùng có nguy cơ ô nhiễm trung bình và vùng có nguy cơ ô nhiễm thấp bao gồm các vùng còn lại. Trong đó nguy cơ ô nhiễm của tầng chứa nước bên dưới được đánh giá giảm một cấp ô nhiễm so với nguy cơ ô nhiễm của tầng chứa nước nằm trên.

ht2Bản đồ phân vùng nguy cơ ô nhiễm của các tầng chứa nước


Newer news items:
Older news items: