Sat10242020

Last update02:00:00 PM GMT

Một số kết quả đạt được của Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – giai đoạn I; đô thị thành phố Hồ Chí Minh”

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, có vị trí kinh tế, văn hóa và khoa học quan trọng vào bậc  nhất của cả nước. Thành phố đóng vai trò đầu tầu trong quá trình phát triển, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của các tỉnh thành phía Nam cũng như của cả nước.

Quá trình đô thị hoá trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đang phát triển mạnh đã làm biến đổi mạnh mẽ các điều kiện môi trường nói chung và tài nguyên nước dưới đất nói riêng. Tình trạng suy giảm nguồn nước dưới đất (ô nhiễm, cạn kiệt) đã diễn ra tại một số nơi gây ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân và các ngành kinh tế trên địa bàn thành phố. Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – Giai đoạn I; Đô thị thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện trong 05 năm đã hoàn thành mục tiêu đề ra như: xác định điều kiện tồn tại, sự phân bố, số lượng, chất lượng nước dưới đất; xác định được điều kiện, con đường, nguy cơ và mức độ cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất. Từ đó đề xuất một số giải pháp kỹ thuật để bảo vệ nước dưới đất gồm các quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất; quy hoạch vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; quy hoạch đới phòng hộ, bảo vệ công trình khai thác nước dưới đất; quy hoạch mạng lưới quan trắc, giám sát tài nguyên tài nguyên nước dưới đất... Một số kết quả chính đạt được như sau:

Cấu trúc ĐCTV: TP. HCM có 7 tầng chứa nước lỗ hổng là qh, qp3, qp2-3, qp1, n22, n21 và n13; đan xen giữa các tầng chứa nước là các thành tạo rất nghèo nước là Q2, Q13, Q12-3, Q11, N22, N21, N13 và thành tạo không chứa nước MZ. Kết quả nghiên cứu đã xác định được diện phân bố, thành phần thạch học, mức độ giàu nước, phân bố nước nhạt, đặc tính thủy lực, diễn biến mực nước và khả năng khai thác cảu các tầng chứa nước; ngoài ra xác định được các cửa sổ ĐCTV giữa các tầng chứa nước với nhau dựa vào sự vắng mặt của các lớp cách nước trong cột địa tầng lỗ khoan và xác định được các đoạn sông có quan hệ trực tiếp với nước dưới đất do sự xâm thực của đáy sông vào các tầng chứa nước nằm nông qp3 và qp2-3 dọc sông Sài Gòn, sông Đồng Nai.

Trữ lượng nước dưới đất: được xác định dưới sự hỗ trợ của mô hình dòng chảy nước nưới đất, kết quả tính toán các loại trữ lượng như sau: tiềm năng tài nguyên nước dưới đất phần nước nhạt là 3.967.437m3/ngày, tiềm năng tài nguyên nước dưới đất phần ưnước mặn là 760.741m3/ngày, trữ lượng có thể khai thác là 1.969.066m3/ngày.

Chất lượng nước dưới đất: được đánh giá theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT cho thấy nước nhạt các tầng chứa nước (trừ tầng qh) có chất lượng tương đối tốt, có thể sử dụng cho nhiều mục đích, tuy nhiên cần xử lý một số chỉ tiêu vượt QCVN09 phân bố dạng điểm. Ngoài ra ở một số khu vực có các điểm vượt giá trị giới hạn phân bố với mật độ tương đối dày đã được khoanh vùng: vùng ô nhiễm NH4+ tầng qp3 ở Hóc Môn, Tân Phú, quận 11 và quận 6 với diện tích 19,7km2, vùng ô nhiễm NH4+ tầng qp2-3 ở xã Hòa Phú – Củ Chi với diện tích 4,1km2, vùng ô nhiễm Phenol tầng qp1 ở Đông Thạnh – Hóc Môn với diện tích 1,1km2 và ô nhiễm Sắt ở Tân Tạo – Bình Tân với diện tích 4,4km2, vùng ô nhiễm Sắt tầng n22 một số khu vực phía tây nam thuộc Bình Chánh và Nhà Bè với diện tích 10,8km2.

Khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước:

Khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước được đánh giá theo phương pháp Drastic (đánh giá tầng chứa nước thứ nhất) và phương pháp Unessco (đánh giá cho tầng chứa nước bị phủ). Kết quả cho thấy:

Các tầng chứa nước thứ nhất có khả năng tự bảo vệ từ rất kém đến rất tốt. Phân bố trong các khu vực lộ thành tạo Q13 và Q12-3 ở phía bắc (Củ Chi); Khu vực vành đai các quận trung tâm; Khu vực có địa hình cao ở phía đông (Quận 9, Thủ Đức) và khu vực địa hình thấp ở phía nam thuộc H. Cần Giờ. Vùng có khả năng tự bảo vệ rất tốt (DI ≤ 100): Phân bố ở các quận trung tâm, khu vực địa hình cao ở phía đông và rải rác trong các vùng lộ thành tạo Q13 và Q12-3 ở phía bắc với tổng diện tích 143,6km2, chiếm 10,2% diện tích vùng nghiên cứu. Các tầng chứa nước bị phủ có khả năng tự bảo vệ từ rất kém đến tốt dựa vào bề dầy lớp cách nước nằm trên tầng chứa nước và quan hệ mực nước với tầng chứa nước nằm trên.

Tác động của việc khai thác nước dưới đất đến các tầng chứa nước:

- Tác động làm suy giảm mực nước dưới đất: Mô hình dòng chảy nước dưới đất mô phỏng diễn biến mực nước trong giai đoạn 2013-2015 cho thấy, ngoại trừ đối với tầng chứa nước qh ít được khai thác và 2 tầng chứa nước nằm sâu là n21 và n13 cũng không được khai thác nhiều là có mực nước tương đối ổn định; trong các tầng chứa nước còn lại, do ảnh hưởng của việc khai thác nước dưới đất đã xuất hiện các hình phễu hạ thấp mực nước rõ rệt với diện tích khoảng mực nước sâu nhất mở rộng đáng kể.

- Tác động làm gia tăng quá trình ô nhiễm nước dưới đất: kết quả dánh giá phân vùng nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất từ các nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm cho thấy vùng có nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất cao tập trung nhiều nhất tại H. Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè và các Quận 12, 9 (diện tích phân bố là 272km2); vùng có nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất trung bình tập trung nhiều nhất tại H. Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè, Bình Chánh và các Quận 12, Thủ Đức, Quận 9 và quận Bình Thạnh (diện tích phân bố là 545km2). Nếu không có các biện pháp phòng ngừa đối với các nguồn thải trong các khu vực này thì nguy cơ làm gia tăng quá trình ô nhiễm nước dưới đất sẽ xảy ra.

- Tác động xâm nhập mặn các tầng chứa nước: kết quả dự báo xâm nhập mặn bằng mô hình số đến 2030 cho thấy: ngoài tầng chứa nước qh do sự ảnh hưởng của nước mặn trên mặt xâm nhập vào, các tầng chứa nước còn lại có sự sụt giảm diện tích nước nhạt đáng kể phụ thuộc vào lượng khai thác, cụ thể các tầng có lượng khai thác lớn nhất như qp2-3 và n22 có diện tích nước nhạt giảm lớn nhất là 50,5km2 và 80,6km2, tầng n13 khai thác ít nhất và không dáng kể nên diện tích nước nhạt giảm rất ít là 2,3km2.

- Tác động làm gia tăng quá trình sụt lún nền đất: hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh chưa có số liệu định lượng nghiên cứu tác động của việc khai thác nước dưới đất đến nguy cơ sụt lún nền đất. Tuy nhiên theo kết quả đánh giá và thành lập bản đồ phân vùng nguy cơ sụt lún nền đất do khai thác nước dưới đất theo phương pháp Lohman cho thấy vùng có nguy cơ sụt lún cao xảy ra ở khu vực Hóc Môn, quận 12 là các khu vực tập trung nhiều công trình khai thác với quy mô công nghiệp. Mối tương quan này cho thấy khai thác nước dưới đất có tác động đến nguy cơ sụt lún nền đất.

Điều kiện, con đường gây ô nhiễm, nhiễm mặn các tầng chứa nước:

- Điều kiện để xảy ra ô nhiễm các tầng chứa nước được xác định là các nguồn thải trên mặt; các đoạn sông có đáy xâm thực vào tầng chứa nước (dọc sông Sài Gòn từ H. Củ Chi đến Quận 12, dọc sông Đồng Nai từ Quận 9 đến Quận 2); vùng lộ các thành tạo có hệ số thấm cao Q13 và Q12-3 ở phía bắc và phía đông…

- Con đường gây ô nhiễm nước dưới đất: kết quả 3 mô hình dịch chuyển chất bẩn tại 3 khu vực nhiễm bẩn là bãi rác Phước Hiệp (xã Phước Hiệp - huyện Củ Chi), nghĩa trang Đình Vĩnh Nghiêm (phường Hiệp Thành - quận 12) và nghĩa trang Bình Hưng Hòa (phường Bình Hưng Hòa A – quận Bình Tân) xác định được con đường gây ô nhiễm nước dưới đất từ các nguồn thải trên mặt. Các mô hình mô phỏng sự dịch chuyển (truyền tải) các chất ô nhiễm, qua đó đã xác định được vận tốc và con đường dịch chuyển của các chất theo từng khu vực chi tiết.
Quy hoạch khai thác sử dụng nước dưới đất: Phương án lựa chọn là phương án khai thác sử dụng nước dưới đất theo số liệu dự báo khả năng khai thác sử dụng nguồn NDĐ.

- Kết quả dự báo nhu cầu sử dụng nguồn nước dưới đất đến năm 2030 là 440.000m3/ngày. So với hiện trạng thì đến năm 2030 lượng khai thác nước dưới đất giảm khoảng 137.077m3/ngày. Lượng nước giảm này chủ yếu ở các khu vực có mực nước hạ thấp vượt quá mực nước giới hạn cho phép trong tầng qp3 và qp2-3 và một phần gia tăng từ các công trình khai thác NDĐ bổ sung của nhà máy nước Hóc Môn nâng công suất thêm 20.000m3/ngày theo quy hoạch cấp nước Tp. Hồ Chí Minh.

- Theo phương án chọn thì đến năm 2025 tầng chứa nước qp3 sẽ dừng khai thác trên địa bàn thành phố, tầng chứa nước qp2-3 sẽ giảm khoảng 76.336m3/ngày, tầng qp1 sẽ tăng lượng khai thác khoảng 16.000m3/ngày và tầng n22 sẽ tăng khoảng 4.000m3/ngày. Các tầng chứa nước còn lại giữ nguyên nước khai thác như hiện tại trong kỳ quy hoạch.

Quy hoạch vùng hạn chế khai thác nước dưới đất: Kết quả khoanh vùng hạn chế khai thác nước dưới đất cho các tầng chứa nước xác định được các vùng hạn chế cho 7 tầng chứa nước gồm 50 vùng hạn chế khai thác nước dưới đất chủ yếu tại khu vực 4 bãi chôn lấp chất thải tập trung tại xã Phước Hiệp – Củ Chi, xã Đông Thạnh – Hóc Môn, phường Bình Hưng Hòa A- Bình Tân, xã Đa Phước – Bình Chánh và vùng liền kề các biên mặn 1.500mg/l ở phía nam ôm trọn vùng trung tâm thành phố gồm huyện Bình Chánh và các quận, huyện phía nam và đông nam thành phố (Nhà Bè, quận 7, quận 2, quận 9…); tầng chứa nước hạn chế khai thác là qh; qp3; qp2-3; qp1; n22; n21 và n13 với diện tích hạn chế là: qh (23,16km2), qp3 (153,66km2), qp2-3 (175,67km2), qp1(231,77km2), n22 (195,75km2), n21 (127,23km2) và n13 (45,98km2).

Quy hoạch đới phòng hộ, bảo vệ các công trình khai thác sử dụng nước dưới đất: Kết quả quy hoạch đới phòng hộ, bảo vệ các công trình khai thác, sử dụng nước dưới đất như sau:

- Quy hoạch bảo vệ miền cấp cho các tầng chứa nước: là tầng chứa nước qp3 (182,1km2) và qp2-3 (108,6km2) ở phía bắc và phía đông thành phố, nơi có lớp ngăn cách được cấu tạo bởi các thành tạo địa chất rất nghèo nước lộ ra trên mặt đất; các đoạn sông Sài Gòn và sông Đồng Nai mà theo đó nước dưới đất có quan hệ thủy lực trực tiếp với nước sông bởi sự xâm thực của đáy sông vào các tầng chứa nước qp3 và qp2-3 từ xã Bình Mỹ (huyện Củ Chi) đến phường Thạnh Lộc (Quận 12) và từ phường Long Bình (Quận 9) đến phường Thạnh Mỹ Lợi (Quận 2) với tổng chiều dài 41km. Kết quả tính toán chỉ ra chiều rộng đới bảo vệ tính từ mép nước đối với đoạn sông cấp cho tầng qp3 là 125m,dài 29,5km và đối với đoạn sông cấp cho tầng qp2-3 là 309m, dài 11,4km.

- Quy hoạch bảo vệ các công trình khai thác nước dưới đất: Khoanh đới I là một vòng tròn có bán kính 20m và tâm là lỗ khoan đối với các công trình khai thác nước dưới đất có lưu lượng 10÷3.000m3/ngày. Các công trình khai thác nước dưới đất hiện hữu là các công trình khai thác lớn, tập trung, có dạng bãi giếng hoặc hành lang, thuộc nhà một nhà máy nước ngầm/trạm cấp nước tập trung có tổng công suất khai thác mỗi nhà máy/trạm lớn hơn 3.000m3/ngày và các công trình khai thác thiết kế bổ sung theo Quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất được khoanh đới I, II và III như sau:

+ Đới I: là một vòng tròn có bán kính 30m và tâm là lỗ khoan.

+ Đới II: kết quả tính toán đã xác định được bán kính đới II từ 30 đến 214m.

+ Đới III: kết quả tính toán đã xác định được đới III của các công trình là đường parabol với chiều rộng tối đa từ 24m đến 5.534m, chiều dài tối đa từ 243m đến 10.563m, điểm dừng phía hạ lưa (đỉnh parabol) cách lỗ khoan từ 8m đến 1.761m.

Đề xuất mạng lưới quan trắc, giám sát các tầng chứa nước cần bảo vệ Trên cơ sở rà soát, đánh giá tồn tại các mạng quan trắc hiện hữu, đề xuất mạng lưới quan trắc, giám sát tài nguyên nước dưới đất như sau:

- 76 điểm/184 công trình quan trắc; được bố trí trên 12 tuyến quan trắc trong đó 7 tuyến vuông góc và 5 tuyến song song với phương dòng chảy chính của hệ thống nước mặt ở vùng nghiên cứu có ký hiệu từ GS I - I’ đến GS XII - XII’.

- Số lượng các loại công trình tham gia vào mạng gồm có: 23 công trình quan trắc Quốc gia, 26 công trình thuộc mạng quan trắc TP.HCM, 14 công trình thuộc mạng QH-QĐ90TTg, 48 công trình thuộc mạng QH-QĐ 6554, 19 công trình thuộc đề án Bảo vệ NDĐ và 54 công trình thiết kế mới.

Đánh giá khả năng bổ sung nhân tạo cho các tầng chứa nước:

Kết quả đánh hía khả năng bổ sung nhân tạo xác định được 5 vùng có khả năng BSNT khác nhau:

- Vùng có khả năng BSNT cao và rất cao chiếm phần nhỏ diện tích ở phía bắc, phía đông nơi lộ các thành tạo Q13 và Q12-3, dọc sông Sài Gòn và sông Đồng Nai với diện tích lần lượt của 2 vùng là 259 và 37,2km2.

- Vùng có khả năng BSNT thấp và trung bình phân bố trên phần diện tích rộng lớn còn lại lần lượt là 417,3 và 594,9km2.

- Vùng không có khả năng BSNT là vùng trung tâm vùng nghiên cứu, gồm các quận trung tâm thành phố có mức độ bê tông hóa bề mặt nước dưới đất, với tổng diện tích 51,6km2.

Trên cơ sở vùng có khả năng bổ sung nhân tao, đã luận chứng lựa chọn vùng ưu tiên bổ sung nhân tạo là vùng hạ thấp mực nước tầng qp2-3, bổ sung bằng phương pháp thu gom nước mưa bổ sung bằng lỗ khoan hấp thụ nước tại sân bay Tân Sơn Nhất. Kết quả tính toán cho thấy lượng nước mưa thu gom là 653.766m3/năm, để bổ cập tối đa lượng nước này cho tầng chứa nước qp2-3 tại Sân bay Tân Sơn Nhất cần bố trí 7 lỗ khoan hấp thu nước tại công trình bổ sung nhân tạo này.

Kết quả đạt được của đề án đã cơ bản đáp ứng được mục tiêu đề ra là đánh giá nguồn nước dưới đất ở thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất cho thành phố Hồ Chí Minh.


Newer news items:
Older news items: