Thu10222020

Last update02:00:00 PM GMT

Nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất ở đô thị Hà Nội

Quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố Hà Nội đang phát triển mạnh đã và đang làm biến đổi mạnh mẽ các điều kiện môi trường nói chung và tài nguyên nước dưới đất nói riêng. Tình trạng suy giảm nguồn nước dưới đất (ô nhiễm, cạn kiệt) đã diễn ra tại một số nơi gây ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân và các ngành kinh tế trên địa bàn thành phố. Ở vùng trung tâm nội thành do ảnh hưởng bởi việc khai thác nước mãnh liệt hàng chục năm nay cộng với việc bố trí các giếng khoan khai thác nước chưa hợp lý, xa nguồn bổ cập đã dẫn đến hình thành phễu hạ thấp mực nước với diện tích lớn hàng trăm kilomet vuông, đẩy nhanh các tác động tiêu cực đến môi trường như cạn kiệt tài nguyên nước, gia tăng quá trình ô nhiễm nguồn nước dưới đất, sụt lún mặt đất...

Thêm vào đó những năm gần đây hoạt động khai thác nước dưới đất phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt, dịch vụ, sản xuất, kinh doanh, số công trình và tổng lượng khai thác trên địa bàn Hà Nội liên tục tăng theo thời gian. Nguyên nhân của việc gia tăng liên tục về số lượng công trình và lưu lượng khai thác nước dưới đất là do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và xã hội, trong khi đó các nguồn nước mặt chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu. Việc gia tăng khai thác nước dưới đất nếu không được kiểm soát kịp thời sẽ dẫn đến các nguy cơ suy thoái tài nguyên nước và những hệ lụy kèm theo khác (sụt, lún mặt đất, giảm khả năng thoát nước của đô thị,..), trong đó cạn kiệt tầng chứa nước là nguy cơ trực tiếp có thể xảy ra.

Đối với tầng chứa nước Holocen (qh) theo tài liệu quan trắc mạng quốc gia và Hà Nội cho thấy mực nước tầng chứa nước qh trên địa bàn Hà Nội có xu hướng giảm trong các năm gần đây, các phễu hạ thấp mực nước mở rộng về cả phạm vi và chiều sâu. Điển hình là một số vị trí, cốt cao mực nước dưới đất hạ xuống dưới -10m. Cụ thể như sau:

- Tại lỗ khoan quan trắc Q.62 (Minh Khai, Từ Liêm), mực nước dưới đất giảm 8,5m, từ -4,3m (1995) đến -12,8m (2016) và vẫn đang trong xu thế giảm.

- Tại lỗ khoan quan trắc Q.67 (Tứ Liên, Tây Hồ), mực nước dưới đất giảm 6,5m, từ -5,3m  1995) đến -11,8m (2016) và vẫn đang trong xu thế giảm.

- Tại lỗ khoan quan trắc Q.121 (Thượng Thanh, Long Biên), mực nước dưới đất giảm 5,1m, từ -4,9m (1995) đến -10,0m (2016) và vẫn đang trong xu thế giảm.

Kết quả quan trắc 3 năm gần nhất (2014 - 2016), diễn biến mực nước dưới đất tầng qh như sau:

- Năm 2014: mực nước dưới đất cao độ dưới -5m hình thành nên 4 phễu hạ thấp chính nằm ở địa bàn các quận, huyện Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Long Biên, Đông Anh, Tây Hồ, Thanh Xuân, Hà Đông, Hoàng Mai và Thanh Oai. Tổng diện tích các phễu hạ thấp dưới cao độ -5m là 140,2 km2. Trong đó, phễu có mực nước hạ thấp lớn nhất là

-12,8m nằm trên địa bàn quận Nam Từ Liêm.

- Năm 2015: các phễu mực nước dưới đất cao độ dưới -5m tại các khu vực Bắc Từ Liêm, Tây Hồ, Long Biên, Đông Anh, Hoàng Mai mở rộng không đáng kể. Tại các khu vực Nam Từ Liêm, Thanh Xuân, Hà Đông, Thanh Oai, các phễu mực nước cao độ dưới -5m lan rộng hình thành một phễu lớn có diện tích khoảng 194,6 km2. Tổng diện tích các phễu mực nước cao độ dưới -5m trong năm 2015 khoảng 222,8 km2, tăng 82,6 km2 so với năm 2014.

- Năm 2016: phễu hạ thấp có cốt cao dưới -5m tại các khu vực Tây Hồ, Đông Anh, Long Biên mở rộng về phía tiếp giáp Hồ Tây (phường Nhật Tân) và các xã Xuân Canh (Đông Anh), Mai Lâm, Yên Viên (Gia Lâm), Đức Giang, Ngọc Lâm (Long Biên). Diện tích của phễu này là 30,9 km2, tăng thêm 13 km2 so với năm 2015.

Phễu hạ thấp tại khu vực Nam Từ Liêm, Thanh Xuân, Hà Đông, Thanh Oai tiếp tục mở rộng về phía Bắc, Đông và Nam với diện tích là 272,4 km2, tăng thêm 77,8 km2 so với năm 2015. Tổng diện tích các phễu mực nước cao độ dưới -5m của tầng chứa nước qh trong năm 2016 là 313,6 km2, tăng 90,8 km2 so với năm 2015.

ht1Sơ đồ phân vùng nguy cơ cạn kiệt NDĐ tầng qh

Đối với tầng chứa nước Pleistocen (qp1, qp2) kết quả quan trắc mực nước vùng phía nam sông Hồng dùng để theo dõi sự biến đổi của phễu hạ thấp mực nước. Hình dưới biểu diễn dạng sơ đồ khối phễu hạ thấp mực nước trung bình tháng 2, 5, 8 và 11 là các thời điểm đặc trưng trong năm.

Kết quả theo dõi phễu hạ thấp trong năm 2015 cho thấy:

- Diện tích ảnh hưởng do khai thác (cốt cao mực nước < 0m) thay đổi từ 351,02km2 (tháng 8/ 2015) đến 358,26km2 (tháng 11/ 2015).

- Diện tích ảnh hưởng mạnh do khai thác (cốt cao mực nước < -8m) thay đổi từ 173,72km2 (tháng 8/2015) đến 182,84km2 (tháng 5/2015).

- Diện tích ảnh hưởng mạnh do khai thác (cốt cao mực nước < - 14m) thay đổi từ 85,35km2 (tháng 8/ 2015) đến 93,69km2 (tháng 11/2015).

Phân tích kết quả cho thấy diện tích vùng ảnh hưởng do khai thác (< 0m) trong mỗi chu kỳ năm được thu hẹp về mùa mưa và mở rộng về mùa khô và có xu hướng tăng dần theo thời gian. Vùng ảnh hưởng mạnh (< -8m) có xu thế tăng theo thời gian từ 46km2 (2/1993) đầu thời kỳ mô tả đến 182,84km2 vào tháng 5 năm 2015. Tốc độ tăng bình quân là 6,22km2/năm. Giá trị cực đại diện tích phễu năm 2015 tăng hơn giá trị cực đại năm 2014 là 8,56km2 nguyên nhân có thể do các nhà máy nước điều chỉnh công suất khai thác vào mùa khô. Vùng ảnh hưởng rất mạnh (< -14m) có xu thế tăng lên liên tục từ 3 km2 đầu thời kỳ mô tả đến 93,69 km2 vào tháng 11 năm 2015, tăng hơn giá trị cực đại năm 2014.


Newer news items:
Older news items: