Fri11242017

Last update02:00:00 PM GMT

Một số vấn đề còn tồn tại khi điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước và ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến khai thác, sử dụng nước khu vực Nam Trung Bộ và Tây nguyên.

Dự án “Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước và ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến khai thác, sử dụng nước khu vực Nam Trung Bộ và Tây nguyên” khi đi vào thực hiện còn tồn tại những vấn đề cần giải quyết sau đây:

- Đối với tài nguyên nước mặt: Trên cơ sở rà soát tài liệu hiện có cho thấy một số tồn tại như:

+ Tiềm ẩn nhiều nguy cơ suy thoái do tác động của khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn, đặc biệt là từ năm 2006 trở lại đây do việc gia tăng các công trình trữ nước ở thượng nguồn càng làm cho căng thẳng nguồn nước tăng cao về mùa khô và gây nguy cơ gia tăng xâm nhập mặn;

+ Các số liệu điều tra phần lớn được thực hiện từ trước năm 2006 và không mang tính đồng bộ, do vậy cần được điều tra cập nhật bổ sung và được pháp quy hóa;

+ Chưa có đánh giá tổng thể về khai thác sử dụng nước và các yếu tố ảnh hưởng chính đến nguồn nước dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hạn hán và xâm nhập mặn;

+ Chưa đánh giá được đầy đủ các giá trị của nguồn nước trên mọi lĩnh vực của cuộc sống;

+ Thiếu thông tin về khai thác sử dụng nước và vận hành các công trình khai thác sử dụng nước thuộc vùng nghiên cứu, dẫn đến không có căn cứ tính toán ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến các nhu cầu sử dụng nước.

- Đối với tài nguyên nước dưới đất:

+ Công tác điều tra hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất: nhìn chung công tác điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất hầu như chưa được đầu tư nghiên cứu một cách có hệ thống. Các kết quả về hiện trạng khai thác, sử dụng nước được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau do vậy không thống nhất về nội dung cũng như mục đích điều tra đánh giá đáp ứng mục tiêu dự án;

+ Công tác quan trắc diễn biến mực nước, chất lượng nước ở Nam Trung Bộ: hiện nay mới chỉ có các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quảng Nam là có công trình quan trắc nước dưới đất (hiện nay có 41 công trình quan trắc trong 3 tầng chứa nước lỗ hổng q, qh, qp và 2 tầng chứa nước khe nứt được xây dựng năm 2012 - 2014), vì vậy rất khó khăn trong việc đánh giá tình hình hạ thấp mực nước, xâm nhập mặn, ô nhiễm do hoạt động khai thác và hạn hán;

+ Công tác quan trắc diễn biến mực nước, chất lương nước ở Tây Nguyên: so với mạng lưới quan trắc khu vực Nam Trung Bộ thì số lượng lỗ khoan quan trắc khu vực Tây Nguyên có số lượng lớn gấp 5 lần. Tuy nhiên mạng quan trắc vùng Tây Nguyên được thiết lập trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ của các đề án điều tra trước đây nên phân bố không đồng đều chủ yếu tập trung ở đồng bằng và ở các tầng chứa nước trong bazan, qh, qp, còn các tầng chứa nước còn lại thì hầu như ít hoặc không có, các lỗ khoan chủ yếu tận dụng từ các đề án, dự án trước kia. Do vậy để đánh giá khả tình hình hạ thấp mực nước, ô nhiễm do hoạt động khai thác và hạn hán trên phạm vi toàn khu vực là tương đối khó khăn.

Từ các phân tích trên cho thấy việc thực hiện Dự án “Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước và ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến khai thác, sử dụng nước khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên” là rất cần thiết và sẽ phải giải quyết một số vấn đề tồn tại chính như sau:

- Xác định được tổng thể những thông tin liên quan đến hiện trạng khai thác, sử dụng nước cho các ngành, ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn đến vấn đề khai thác sử dụng nước;

- Hệ thống hóa các thông tin dữ liệu về hạn hán và xâm nhập mặn; khai thác, sử dụng nước cho các ngành;

- Cập nhật bổ sung những thông tin về giá trị nguồn nước trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng/tỉnh;

- Đưa ra được bức tranh thể hiện các thông tin liên quan đến khai thác, sử dụng nước, vấn đề ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn đến khai thác, sử dụng nước.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: