Wed11222017

Last update02:00:00 PM GMT

Quan trắc quốc gia tài nguyên nước Nam Bộ: Nhiệm vụ thường xuyên của Liên đoàn QH&ĐT TNN Miền Nam

Quan trắc quốc gia tài nguyên nước vùng Nam Bộ là nhiệm vụ thường xuyên hàng năm của Liên đoàn QH&ĐT tài nguyên nước miền Nam. Với mục tiêu chính là cung cấp số liệu quan trắc, giám sát và cảnh báo - dự báo số lượng, chất lượng các nguồn nước mặt, nước dưới đất vùng quan trắc phục vụ quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước; phát hiện kịp thời các biến động nguồn nước mặt, nước dưới đất để quản lý nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia.

HIện tại, vùng Nam Bộ chỉ có mạng quan trắc TNN dưới đất với 83 điểm / 208 công trình đang hoạt động. Công tác quan trắc TNN dưới đất vùng Nam Bộ do 04 Đoàn TNN khu vực, 01 Trung tâm phân tích thí nghiệm miền Nam và Cơ quan Liên đoàn thực hiện. Sản phẩm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được lập và gửi hàng tháng, quý và năm về Trung tâm Quy hoạch và Điều tra TNN quốc gia tổng hợp. Nhiệm vụ thường xuyên của mạng quan trắc Nam Bộ có các nhiệm vụ hàng năm bao gồm:

-  Quan trắc, cập nhật cơ sở dữ liệu các yếu tố TNN tại các CTQT nước mặt, NDĐ;

-  Đánh giá, xác định diễn biến, xu hướng biến đổi TNN và biên soạn các bản tin thông báo dự báo, cảnh báo, niên giám TNN;

- Duy tu, bảo dưỡng các công trình; sửa chữa thiết bị quan trắc.

Các CTQT được bố trí vào 8 tầng chứa nước trong trầm tích neogen - đệ tứ và 02 tầng chứa nước khác, bao gồm: tầng qh có 24 CT, tầng qp3 có 43 CT, tầng qp2-330 CT, tầng qp1 có 23 CT, tầng n22 có 27 CT, tầng n21 có 24 CT, tầng n13 có 13 CT, tầng n12-3 có 01 CT, tầng bazan kainozoi có 10 CT, tầng mesozoi có 2 CT và có 11 CT QT MN mặt.

DL114

Kết quả quan trắc MN năm được tổng hợp theo điểm quan trắc. Đặc điểm nổi bật của MN dưới đất là sự biến đổi theo mùa. Mùa khô là mùa NDĐ hầu như không nhận được cung cấp của lượng mưa do đó MN thường có xu hướng hạ thấp dần; ngược lại, vào mùa mưa do nhận được cung cấp từ lượng mưa nên MN có xu hướng dâng. Các đặc trưng MN và so sánh vào 2 thời điểm cuối mỗi mùa với cùng kỳ năm trước (tháng 4 và tháng 10) để đánh giá diễn biến MN hàng năm. Đồ thị MN TbT thời kỳ 2004 đến nay để thể hiện xu hướng nhiều năm gần đây của MN trong các tầng chứa nước vùng Nam Bộ. MN giảm (hoặc dâng) liên tục trong suốt thời kỳ đánh giá được coi là xu hướng điển hình.

Với nhiệm vụ thường xuyên hàng năm này, Liên đoàn QH&ĐT TNN miền Nam đã góp phần đưa ra những dự báo, cảnh báo về tài nguyên nước ngầm một cách kịp thời đối với các cơ quan quản lý (Chính phủ, Bộ TNMT, Các Sở ban ngành liên quan). Đây là những tài liệu hết sức quý giá, giúp cơ quan quản lý có cái nhìn tổng thể để có thể hỗ trợ việc ra quyết định liên quan đến các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong lĩnh vực tài nguyên nước nói riêng./.

(Thanh Sơn)