Fri11242017

Last update02:00:00 PM GMT

Tác động của biến đổi khí hậu tới nguồn nước tại Đồng bằng Sông Cửu Long

thientaiTác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với VN và Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) rất to lớn. ĐBSCL là một trong 3 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất trước thảm họa thiên tai. Theo những kịch bản mới nhất về nước biển dâng được công bố. Nếu nước biển dâng từ 73cm - 100cm vào năm 2100 (năm cuối thế kỷ 21) sẽ có 39% diện tích đất đai ngập lụt, 35% dân số chịu ảnh hưởng xấu do thời tiết phức tạp, ngày một cực đoan hơn, không theo qui luật thông thường.

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới nguồn nước

Tài nguyên nước là nguồn sống của các quốc gia trên trái đất, nó bảo đảm cho sự phát triển hài hòa và bền vững ở mỗi nước.

Tài nguyên nước bao gồm: nước bề mặt (sông, ngòi, kênh rạch, ao hồ, đầm phá, các đập nước thủy lợi, thủy điện…) và các nguồn, tầng nước dưới lòng đất được tích lũy lâu đời ở các vùng trung du, miền núi cao…

Khi thế giới đi vào công nghiệp và đô thị hóa nhanh chóng, tài nguyên nước trở thành tài nguyên “chia sẻ” vì những con sông lớn chảy qua nhiều quốc gia khác nhau, bị tác động của BĐKH, thường xuyên hạn hán, thiếu nước ngọt trầm trọng vào mùa hè, nhất là ở lục địa châu Phi, như Uganda, Tây Phi, Kenya… nước ngọt chỉ bảo đảm 30-35%/năm.

Theo báo cáo của Qũy Bảo tồn thiên nhiên (WWF) về tình trạng cung cấp nước ở 200 quốc gia thì đã có 50 nước đang phải chịu tình trạng thiếu nước từ trung bình đến mức trầm tọng trong suốt một năm. Viện Nước Quốc tế StocKhomes (SIWI) cho biết hiện có 1,4 tỷ người đang sống tại những khu vực thật sự thiếu nước ngọt và WB ước tính nhu cầu về nước trên thế giới vào năm 2030 sẽ tăng 50% so với hiện nay, chủ yếu do tăng dân số và tăng nhu cầu đa dạng về thực phẩm. Ở VN, dự báo đến năm 2030 sẽ cần 87-90 tỉ m3/năm. Khối lượng này bằng khoảng 11% tổng tài nguyên nước, hoặc 29% tài nguyên nước nội địa. Đây là con số rất đáng lưu ý được nêu ra trong Hội thảo ngày 28.7.2011 tại Đại học Cần Thơ. Vấn đề bảo vệ tài nguyên nước trở thành khâu quan trọng hàng đầu đối với chúng ta trong nhiệm vụ thích ứng với biến đổi khí hậu các châu thổ, đồng bằng mà từ trước đến giờ ít ai nói đến. VN là quốc gia ven biển Đông, có nguồn tài nguyên nước trung bình, canh tác lúa nước và nuôi trồng thủy sản, nổi tiếng với ĐBSCL xuất khẩu hàng năm trên 6 triệu tấn gạo.

Nước biển dâng cao, xâm nhập mặn lấn chiếm đất nông nghiệp, sạt lở sông ngòi, suy giảm sản lượng nước làm dòng chảy yếu đi cùng những hiểm họa thời tiết cực đoan đang là thách thức lớn đối với an sinh xã hội và sản xuất ở ĐBSCL hiện nay. Đáng lo ngại nhất là nguồn nước.

VN có khoảng 208 con sông lớn nhỏ, trong đó có 126 con sông có nguồn từ nước ngoài chảy vào nội địa, 76 con sông từ trong nước chảy qua nước khác và 4 con sông chảy vào nhưng sau đó lại chảy ra. Bình thường đủ điều hòa nước cho các nhu cầu an sinh xã hội và sản xuất. Các hệ thống sông lớn như Mê Kông, Sông Hồng, Sông Bằng Giang, Sông Kỳ Cùng, Sông Mã, Sông Cả, Sông Đồng Nai có tổng lượng dòng chảy trên 60% từ các nước láng giềng. Vài chục năm trở lại đây, trong quá trình công nghiệp hóa, khai thác năng lượng dòng chảy và mở rộng diện tích tưới tiêu cho nông nghiệp của những nước thượng nguồn đã gây cho VN nhiều khó khăn. Nay nếu tiếp tục xây 30 nhà máy thủy điện ở thượng lưu và hạ lưu sông Mê Kông theo dự kiến, sẽ đưa hàng chục triệu cư dân của 6 quốc gia hạ lưu vào tình cảnh thiếu nước ngọt để sinh hoạt, sản xuất cũng như tàn phá ghê gớm môi trường sinh thái dọc sông Mê Kông. Liên Hiệp Quốc đã thành lập Ủy ban sông Mê Kông, các chính phủ Mỹ và Nhật Bản đã góp sức đáng kể nhằm hạn chế những việc làm thương hại đến nước khác ở lưu vực Mê Kông.

nutneẢnh hưởng của biến đổi khí hậu với nguồn nước (Nguồn ảnh: Tin môi trường))

Các hành động kiên quyết trong ứng phó với BĐKH

Trong những tài liệu đã công bố, Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu toàn cầu (IPCC) có khuyến cáo các quốc gia 3 biện pháp cơ bản để ứng phó:

- Bảo vệ đầy đủ, tức là dùng hệ thống đê điều kiên cố ngăn ngừa xâm nhập mặn, tôn cao đất đai và các công trình ven biển để đối phó với nước biển dâng cao.

- Thích nghi, cải tạo cơ sở hạ tầng và chuyển đổi tập quán sinh hoạt, canh tác của dân hay nói cách khác là “chung sống”.

- Tái định cư, di dời cơ sở hạ tầng ra khỏi khu vực nguy hiểm lên vùng cao hơn, vào sâu trong lục địa có nghĩa là  “bỏ đất”.

Tại VN, biên pháp thứ 3 nêu trên thực sự không phù hợp vì VN đất chật, người đông, nếu "bỏ đất" thì sẽ dẫn tới các hệ lụy nghiêm trọng khác như áp lực dân số trên 1 vùng đất tăng, chất lượng cuộc sống giảm, an ninh lương thực giảm... Cho nên, dù là “bảo vệ” hay “thích nghi” thì vấn đề tạo năng lực ứng phó là cơ bản. Vì vậy, trong ứng phó nên nghiên cứu nhiều khả năng và nhiều phương án phù hợp với địa  phương, đồng thời cần lưu ý đến yếu tố phát triển bền vững của từng vùng một. Điều quan trọng nhất là phải đối phó kịp thời. Ví dụ: Lựa chọn phương án “công trình” (đê điều, hệ thống cống thoát kiên cố…) hay “phi công trình” (thích nghi, thay đổi tập quán canh tác, đời sống, áp dụng giống mới, cây con thích hợp…) hoặc kết hợp cả hai biện pháp. Khi xác định chính xác rồi thì cần hành động cương quyết có sự hiệp đồng, giúp đỡ của quốc tế và lực lượng tổng hợp cả nước. Những diễn biến tiêu cực do thời tiết cực đoan của BĐKH gây ra vừa qua ở ĐBSCL là bài học bổ ích để xác định phương hướng hành động thích hợp trong giai đoạn sắp tới.

(Tổng hợp: TTDLQH&ĐTTNN)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: